1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp

105 691 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 568,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó ghiên cứu này nhằm mục đích xem xét tình hình thực tiễn của hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với các DNVVN ở TP.HCM qua việc phỏng vấn các tổ chức tham gia xúc tiến xuất khẩu và mộ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa được công bố lần nào Các dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này hoàn toàn xác thực, do tôi tự nhiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Nguyễn Văn Toàn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều người Trước tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Đông Phong, đã hướng dẫn và chỉnh sữa kịp thời giúp tôi hoàn thành đề tài đúng như dự kiến

Ngoài ra, tôi xin cảm ơn Văn phòng tại TP.HCM của Cục Xúc tiến Thương mại, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM và một số tổ chức khác đã cung cấp những tài liệu, thông tin để phục vụ cho đề tài

Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và các bạn cùng lớp đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Nguyễn Văn Toàn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ .1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

3 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN THÔNG TIN 3

6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 4

CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (DNVVN) 1.1 QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA CÁC DNVVN VÀ NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CHÚNG TRONG QUÁ TRÌNH NÀY 6

1.1.1 Tại sao doanh nghiệp muốn quốc tế hóa 6

1.1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm trong quá trình quốc tế hóa 7

1.1.3 Quá trình quốc tế hóa từng bước của DNVVN 9

1.2 KHÁI QUÁT VỀ MẠNG LƯỚI XÚC TIẾN XUẤT KHẨU 11

1.2.1 Các khái niệm cơ bản 11

1.2.2 Mạng lưới xúc tiến xuất khẩu 11

1.2.2.1 Hình thành chương trình và chính sách xúc tiến xuất khẩu 11

1.2.2.2 Kết cấu của hệ thống các tổ chức xúc tiến xuất khẩu 12

1.2.3 Vai trò của hoạt động xúc tiến xuất khẩu 13

1.2.3.1 Phạm vi hoạt động 13

1.2.3.2 Mô tả các chức năng 13

1.2.4 các loại hình tổ chức xúc tiến thương mại 16

1.2.4.1 Bộ phận của một Bộ 17

1.2.4.2 Định chế công – tự quản gắn với một Bộ 18

1.2.4.3 Các tổ chức tư nhân 20

1.2.5 Vai trò của TCXTTM 20

1.3 KINH NGHIỆM XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA NHẬT BẢN 22

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển 22

1.3.2 Hoạt động hiện nay của JETRO 25

1.3.3 Bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm 25

Trang 4

CHƯƠNG 2 - ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA DNVVN Ở TP.HCM

2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ TP.HCM 28

2.1.1 Vị trí kinh tế và vai trò của TP.HCM 28

2.1.1.1 Vị trí kinh tế 28

2.1.1.2 Vai trò của TP.HCM 28

2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC DNVVN Ở TP.HCM 30

2.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI Ở TP.HCM 32

2.3.1 Thuộc hệ thống Chính phủ 32

2.3.1.1 Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại) 32

2.3.1.2 Trung tâm Thông tin Thương mại 34

2.3.1.3 Trung tâm Xúc tiến Thương mại và đầu tư TP.HCM 35

2.3.1.4 Phòng Xúc tiến Thương mại (Sở Thương mại TP.HCM) 38

2.3.2 Tổ chức thuộc hệ thống phi Chính phủ 40

2.3.2.1 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh TP.HCM 40

2.3.2.2 Hiệp hội Công Thương TP.HCM 43

2.3.2.3 Các hiệp hội ngành nghề 45

2.3.3 Các doanh nghiệp xúc tiến thương mại 47

2.4 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA CÁC DNVVN (BÊN CẦU THÔNG TIN) 48

2.4.1 Thuận lợi 48

2.4.2 Khó khăn của doanh nghiệp 48

2.4.3 Tham gia các hiệp hội 49

2.4.4 Về quản lý và đổi mới công nghệ 50

2.4.5 Hoạt động xúc tiến xuất khẩu 50

2.5 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC XÚC TIẾN XUẤT KHẨU (BÊN CUNG THÔNG TIN) 51

2.5.1 Các tổ chức xúc tiến xuất khẩu trong nước 52

2.5.2 Tổ chức xúc tiến thương mại của Việt Nam ở nước ngoài 53

2.5.3 Mạng lưới các tổ chức tham gia xúc tiến xuất khẩu 54

2.5.3.1 Mối liên hệ giữa các tổ chức xúc tiến trực tiếp 54

2.5.3.2 Mối liên hệ giữa các tổ chức xúc tiến trực tiếp với các tổ chức xúc tiến gián tiếp 56

2.5.3.3 Sự phối hợp giữa tất cả các tổ chức tham gia xúc tiến 56

2.5.4 Chương trình xúc tiến xuất khẩu 57

2.6 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA CÁC DNVVN Ở TP.HCM 57

Trang 5

2.6.2 Hạn chế 58

2.6.3 Nguyên nhân 58

CHƯƠNG 3 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1 KẾT LUẬN 60

3.1.1 Sự cần thiết của một tổ chức xúc tiến xuất khẩu quốc gia độc lập 60

3.1.2 Tính pháp lý của mô hình xúc tiến thương mại 61

3.2 KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP 61

3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 61

3.2.1.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi tố đa cho xuất khẩu 62

3.2.1.2.Phát triển các ngành hàng xuất chủ lực 62

3.2.1.3 Gắn xuất khẩu với nhập khẩu công nghệ 63

3.2.1.4 Hỗ trợ doanh nghiệp cho hoạt động xuất khẩu 63

3.2.1.5 Hỗ trợ hoạt động của các hiệp hội ngành nghề 64

3.2.1.6 Thành lập Hội đồng Tư vấn xuất khẩu 65

3.2.1.7 Xây dựng mạng lưới các tổ chức xúc tiến xuất khẩu hiệu quả 65

3.2.1.8 Xây dựng chương trình xúc tiến xuất khẩu 67

3.2.1.9 Cần quảng bá Tổ chức Xúc tiến Xuất khẩu và Chương trình xúc tiến xuất khẩu 67

3.2.2 Giải pháp từ phía Doanh nghiệp 68

3.2.2.1 Tham gia vào các Hiệp hội ngành hàng 68

3.2.2.2 Lựa chọn thị trường và phương thức xuất khẩu phù hợp 68

3.2.2.3 Tăng cường hoàn thiện hệ thống quản lý và đổi mới công nghệ 68

3.2.2.4 Tăng cường khai thác quỹ phát triển DNVVN của EU 69

3.2.2.5 Chủ động trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu 69

3.3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 71

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

BẢNG 1: TỶ TRỌNG GDP CỦA TP.HCM SO VỚI CẢ NƯỚC 28

BẢNG 2: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 29

BẢNG 3: T TR NG KIM NGẠCH XU T KH U SO V I C N C 29

BẢNG 4: TỶ TRỌNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC NGÀNH NĂM 2005 30

BẢNG 5: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP THÀNH LẬP THEO NĂM 31

BẢNG 6: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP PHÂN THEO NGÀNH 31

BẢNG 7: KHÁI QUÁT CÁC HẠN CHẾ - GIẢI PHÁP (NHÀ NƯỚC) 70

BẢNG 8: KHÁI QUÁT CÁC HẠN CHẾ - GIẢI PHÁP (DOANH NGHIỆP) 71

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

HÌNH 1: KHUNG NGHIÊN CỨU 5

HÌNH 2: CHU KỲ SỐNG CỦA SẢN PHẨM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆC BỐ TRÍ SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI 8

HÌNH 3: CÁC BƯỚC CỦA QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA ĐỐI VỚI DNVVN 9

HÌNH 4: KHÓ KHĂN CỦA DN TRONG MẪU ĐIỀU TRA 48

HÌNH 5: VIỆC THAM GIA HIỆP HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 49

HÌNH 6: SỰ NHẬN BIẾT CÁC TỔ CHỨC THAM GIA XÚC TIẾN 50

HÌNH 7: TỶ LỆ DOANH NGHIỆP CÓ QUAN HỆ VỚI CÁC TCXTTM 50

HÌNH 8: SƠ ĐỒ MẠNG LƯỚI XÚC TIẾN XUẤT KHẨU 66

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ

TCXTTM : Tổ chức xúc tiến thương mại

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ:

Kinh tế ngày càng phát phát triển, hoạt động sản xuất hàng hóa ngày càng nâng cao thì cạnh tranh cũng càng khốc liệt hơn Điều này sẽ đặt doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) vào một tình thế khó khăn hơn so với các doanh nghiệp lớn Nhu cầu tìm thị trường tiêu thụ hàng hóa vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp phải tìm cách xuất khẩu để mở rộng thị trường

Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa vào năm 1986, nền kinh tế phát triển không ngừng, các doanh nghiệp liên tục gia tăng về số lượng và qui mô, nhu cầu giao thương với nước ngoài ngày càng lớn Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, xúc tiến xuất khẩu nói riêng còn rất mới mẽ, sự quan tâm đầu tư chưa đúng mức, chưa đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin cho doanh nghiệp Trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO, nhu cầu có những giải pháp đẩy mạnh xúc tiến xuất xuất khẩu là vô cùng cần thiết Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TP.HCM – Thực trạng và giải pháp”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Những nghiên cứu về hoạt động xúc tiến xuất khẩu còn tương đối ít, bởi vì bản thân hoạt động xúc tiến xuất khẩu còn rất mới mẽ, hầu như vẫn còn gộp chung với hoạt động xúc tiến thương mại, tức là xúc tiến cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu Do đó ghiên cứu này nhằm mục đích xem xét tình hình thực tiễn của hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với các DNVVN ở TP.HCM qua việc phỏng vấn các tổ chức tham gia xúc tiến xuất khẩu và một số doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động xuất khẩu Mục tiêu chính của nghiên cứu này là:

Trang 10

• Khái quát hóa về hoạt động xuất khẩu đối với DNVVN ở TP.HCM, tạo nên một bức tranh tổng thể về hoạt hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp trong thời gian qua

• Đánh giá mức độ quan tâm, những khó khăn của DNVVN ở TP.HCM về nhu cầu cung cấp thông tin cho hoạt động xuất khẩu

• Cung cấp những thông tin nhằm đánh giá về hoạt động xúc tiến xuất khẩu của TP.HCM, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến xuất khẩu

Chúng tôi mong muốn rằng, những kết quả nghiên cứu và những kiến nghị từ nghiên cứu này sẽ phù hợp và được sự quan tâm trực tiếp của các nhà làm chính sách, các cơ quan Chính phủ có liên quan, các tổ chức quốc tế đang hỗ trợ Việt Nam về hoạt động xuất khẩu và cộng đồng các doanh nghiệp xuất khẩu ở TP.HCM

3 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Như đã nêu trên, nhu cầu của các DNVVN về hoạt động xúc tiến xuất xuất khẩu trong tiến trình toàn cầu hóa và Việt Nam đã gia nhập WTO là rất lớn Do đó, vấn đề chính của đề tài là làm thế nào để nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với DNVVN ở TP.HCM Trong đó, có ba vấn đề cần được làm rõ:

• Nhu cầu sử dụng thông tin của các DNVVN ở TP.HCM

• Việc cung cấp thông tin mang lại những lợi ích gì?

• Mạng lưới xúc tiến xuất khẩu hiện nay ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của DNVVN ở TP.HCM như thế nào?

Giải quyết các vấn đề này sẽ tìm ra được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với DNVVN ở TP.HCM

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Trang 11

Đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với DNVVN ở Thành phố Hồ Chí Minh

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN THÔNG TIN:

Như đã đề cập ở phần trên, từ trước đến nay chưa có cuộc điều tra chuyên sâu nào về hoạt động xúc tiến xuất khẩu Chính vì vậy, đây là một nghiên cứu mang tính khám phá về hoạt động xúc tiến xuất khẩu Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu là các tổ chức tham gia xúc tiến trực tiếp hoặc gián tiếp, thuộc Chính phủ hoặc phi Chính phủ, các DNVVN có hoạt động xuất khẩu ở TP.HCM, chúng tôi nhận định rằng phương pháp phỏng vấn tay đôi trong cuộc điều tra đối với các tổ chức tham gia xúc tiến và bảng câu hỏi đối với các doanh nghiệp tham gia, đây là phương pháp thích hợp nhất để thu thập những thông tin hữu ích từ các tổ chức tham gia xúc tiến và có được những hiểu biết xác thực từ phía doanh nghiệp Mẫu điều tra gồm:

• Các tổ chức tham gia hoạt động xúc tiến xuất khẩu đóng trên địa bàn Thành phố, bao gồm các tổ chức thuộc Chính phủ và phi Chính phủ, thuộc Trung ương và thuộc địa phương, bao gồm:

- Cục Xúc tiến Thương mại – Văn phòng tại TP.HCM

- Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC)

- Phòng Xúc tiến Thương mại – Sở Thương mại TP.HCM

- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – Văn phòng tại TP.HCM

- Hiệp hội Công Thương TP.HCM

• 30 DNVVN có hoạt động xuất khẩu, bao gồm các doanh nghiệp có tham gia hoạt động xuất khẩu tại thời điểm phỏng vấn (Xem phụ lục)

Tuy số lượng mẫu điều tra về DNVVN còn ít, chưa có ý nghĩa về mặt thống kê, nhưng đây là một nghiên cứu định tính không đòi hỏi quá nhiều về số lượng mẫu nghiên cứu Hơn nữa, việc điều tra từ phía doanh nghiệp chỉ là củng

Trang 12

cố thêm cho những thực tiễn về nhu cầu thông tin của doanh nghiệp từ tổ chức cung cấp thông tin, do đó không cần phải điều tra số luợng lớn

Sau khi thu thập được thông tin, tiến hành phân tích, nghiên cứu này đã nêu lên một bức tranh tổng thể về hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với DNVVN

ở TP.HCM Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động xúc

tiến xuất khẩu đối với DNVVN ở TP.HCM

Nguồn thông tin:

Nghiên cứu này sử dụng nhiều nguồn thông tin:

• Thông tin thứ cấp: từ các tạp chí chuyên ngành, các bản tin của Cục xúc tiến Thương mại, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và đầu tư TP.HCM, MPDF, thông tin từ các trang web có liên quan

• Thông tin sơ cấp: thu được từ phỏng vấn các tổ chức tham gia hoạt động xúc tiến xuất khẩu và các DNVVN tham gia phỏng vấn

6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài có kết cấu theo cách truyền thống bao gồm phần mở đầu và ba chương chính

Phần mở đầu nêu lên tổng quan về nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài, nguồn thông tin

Chương 1, khái quát về hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương này nêu lên ba vấn đề chính: lý thuyết về quá trình quốc tế hóa của DNVVN, nói về hoạt động của bên cầu thông tin; lý thuyết về hoạt động của bên cung thông tin; bài học kinh nghiệm về xúc tiến xuất khẩu chủa Nhật Bản

Chương 2, đánh giá hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với DNVVN ở TP.HCM Chương này nêu lên các vấn đềsau: trước tiên là nêu qua về tình hình kinh tế TP.HCM; tình hình phát triển của DNVVN; tình hình hoạt động của các tổ

Trang 13

chức xúc tiến thương mại ở TP.HCM; thực trạng về hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với DNVVN ở TP.HCM

Chương 3, kết luận và kiến nghị các giải pháp Chương này nêu lên lên những kết luận rút ra từ thực tiễn khảo sát, sau đó nêu lên kiến nghị về các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động xúc tiến xuất khẩu đối với các DNVVN ở TP.HCM

HÌNH 1: KHUNG NGHIÊN CỨU

KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI DNVVN

THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI DNVVN

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

MỞ ĐẦUMỤC TIÊU NGHIÊN CỨUVẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 14

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (DNVVN)

Chương này cung cấp những lý thuyết đã thu thập được về hoạt động xúc tiến xuất khẩu Những lý thuyết này nêu ra nhằm mục đích tạo thành những khung lý thuyết cơ bản nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu Khung lý thuyết này bao gồm: một là, quá trình quốc tế hóa của các DNVVN nhằm cung cấp những đặc trưng và yêu cầu của bên cầu thông tin trong quá trình quốc tế hóa; hai là, khái quát về hoạt động của bên cung thông tin bao gồm những khái niệm cơ bản về xúc tiến thương mại, xúc tiến xuất khẩu, mạng lưới xúc tiến xuất khẩu và vai trò của hoạt động xúc tiến xuất khẩu; sau cùng là bài học kinh nghiệm về xúc tiến xuất khẩu

1.1 QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA CÁC DNVVN VÀ NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CHÚNG TRONG QUÁ TRÌNH NÀY:

Quá trình quốc tế hóa là quá trình các doanh nghiệp bắt đầu tìm kiếm thị trường nước ngoài nhằm mục đích vượt khỏi thị trường nội địa

1.1.1 Tại sao doanh nghiệp muốn quốc tế hóa:

Quá trình quốc tế hóa được khởi đầu bằng hoạt động xuất khẩu Theo lý thuyết về kinh tế học của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối thì quốc gia nào có hàng hóa có lợi thế hơn hàng hóa của quốc gia kia thì sẽ xuất khẩu sang quốc gia kia

Do đó, một doanh nghiệp muốn sản xuất hoặc thực hiện một hoạt động ở thị trường nước ngoài nó phải có được những lợi thế cụ thể để bù đắp lại những lợi thế khác mà công ty bản xứ có được Những lợi thế này dựa vào nhiều yếu tố như độ lớn của doanh nghiệp, sức mạnh về kinh tế, kỹ năng marketing, lợi thế về kỹ thuật, hay khả năng tiếp cận được nguồn tài nguyên giá rẻ Do đó, chỉ bằng

Trang 15

cách nắm được bất kỳ lợi thế nào vừa nêu, các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh được với bất kỳ doanh nghiệp bản xứ nào

Ngoài ra, theo Stephen Hymer, có ba điều kiện có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, chúng rất cơ bản trong các hoạt động quốc tế nhằm làm thế nào để quốc tế hóa sản xuất:

• Sở hữu những lợi thế cụ thể riêng biệt mà các công ty khác không có

• Những lợi thế này được doanh nghiệp trực tiếp khai thác, không thông qua việc bán hay cho các doanh nghiêp khác thuê Như vậy doanh nghiệp sẽ quốc tế hóa các lợi thế cụ thể riêng biệt này

• Phải có những nhân tố cụ thể về địa điểm nhằm tạo ra nhiều lợi thế hơn cho doanh nghiệp để khai thác tài sản ở nước ngoài

Tóm lại, một doanh nghiệp muốn hoạt động ra nước ngoài phải dựa vào ba điều kiện đã nêu Nếu những diều kiện đó được thỏa mãn, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thự hiện quá trình quốc tế hóa về sản xuất của mình Nếu không, họ phải xác định cho mình một cách nào đó để quốc tế hóa (Ví dụ thông qua thương vụ, đại lý, liên doanh bán hàng,…) (1) John J.Wild (Interrnatinal Business)

1.1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm trong quá trình quốc tế hóa:

Lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm được Raymond Vernon (2)đưa ra vào giữa thập niên 1960, giải thích về sự tiến triển trong sản xuất quốc tế Mô hình của ông lúc đầu dựa vào kinh nghiệm ở nước Mỹ Sự tiếp cận lý thuyết này chứng minh những sự dịch chuyển về vị trí của rất nhiều hoạt động như sự sản xuất từ thị trường bản xứ ra thị trường nước ngoài

Lúc đầu hầu hết các doanh nghiệp sản xuất bản xứ chỉ chú trọng nhiều vào thị trường nội địa hơn các nơi khác Sự tiến triển của sản xuất quốc tế hóa sẽ từ đó đi theo quá trình tiến triển của chu kỳ sống sản phẩm Quá trình bắt đầu với một sản phẩm mới ở quốc gia bản địa (Quốc gia thứ 1) và xuất khẩu sang một quốc gia khác (Quốc gia thứ 2) Bước hai, việc sản xuất sẽ thực hiện ở quốc gia

Trang 16

thứ hai và xuất khẩu sang quốc gia thứ 3 Bước ba, xuất khẩu từ nước thứ 1 và nước thứ hai sang nước thứ 3 Bước bốn, xuất khẩu từ nhà máy của nước thứ hai trở về nước thứ 1 Bước năm, gần giống như bước bốn nhưng doanh nghiệp nổ lực hơn để hổ trợ xuất khẩu như tăng FDI, cải tiến cho sản phẩm và dịch vụ đạt chất lượng cao hơn

HÌNH 2: CHU KỲ SỐNG CỦA SẢN PHẨM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆC BỐ TRÍ SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI

Sản phẩm từ nhà máy mới xuất khẩu sang nước thứ

ba, đồng thời với sản phẩm từ nước bản xứ

Xuất khẩu từ nhà máy mới về nước bản xứ

Tiếp tục xuất khẩu về nước bản xứ

Nguồn: International Business (Trang 165)

1.1.3 Quá trình quốc tế hóa từng bước của DNVVN:

Trang 17

Phần này nêu lên những mô tả lý thuyết về quá trình quốc tế hóa của DNVVN qua năm bước: tập trung tiếp thị nội địa, tiền xuất khẩu, tham gia xuất khẩu thử nghiệm, tham gia xuất khẩu chủ động, tham gia xuất khẩu chủ động Quá trình này nêu lên các bước về quá trình phát triển của DNVVN, những nhu cầu về thông tin và tư vấn

Hình 3: CÁC BƯỚC CỦA QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA ĐỐI VỚI DNVVN

Giai đoạn 1: DNVVN chỉ tập trung vào thị trường nội địa Trong giai đoạn này, doanh nghiệp tập trung vào hoạt động chung là chính phát triển thị trường nội địa, do đó họ chưa sẵn sàng để bước sang giai đoạn quốc tế hóa Trong giai đoạn này doanh nghiệp cần được thông tin về lợi ích mà quá trình quốc tế hóa mang lại cho họ để họ hình thành những mong ước và có được những kiến thức cần thiết giúp họ đánh giá khả năng phát triển ra nước ngoài của mình

Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn doanh nghiệp đã quyết định ra nước ngoài

nhưng vẫn chưa xác định rõ ràng Vì vậy doanh nghiệp cần phải nắm rõ tại tại

Doanh nhhiệp tìm thông tin và đánh giá mức khả thi của xuất khẩu

Tham gia xuất khẩu thử nghiệm:

xuất khẩu với số lượng nhỏ

ở những nơi gần

Xuất khẩu toàn diện:

Doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài

Người quản lý phải lựa chọn việc phân phối nguồn lực

Nhiều DN cân nhắc việc nhượng bản quyền hay đầu

Tham gia chủ động:

Tạo ra hệ thống để xuất khẩu đến nhiều quốc gia, có một chính sách phù hợp để phát triển xuất khẩu

STAGE

TIME

Trang 18

sao phải phát triển ra quốc tế, nơi nào cần phát triển và phát triển như thế nào

Việc giải quyết các vấn đề này quyết định sự thành công của quá trình quốc tế hóa

Giai đoạn 3: Tham gia xuất khẩu thử nghiệm Giai đoạn này Doanh nghiệp đã xuất khẩu một lượng nhỏ để theo dõi tình hình Vì đây là giai đoạn bắt đầu của quá trình quốc tế hóa nên hoạt động xuất khẩu vẫn còn khá mới mẽ và không đều đặn Ở giai đoạn này, các doanh nghiệp cần nhận được sự hỗ trợ liên tục về thông tin như văn hóa kinh doanh, hậu cần Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp có nhiều hoạt động ra nước ngoài tốt hơn

Giai đoạn 4: Tham gia xuất khẩu chủ động Sau khi xuất khẩu lần đầu thành công các doanh nghiệp bắt đầu phát triển xuất khẩu Trong giai đoạn này doanh nghiệp phải phát triển cơ cấu tổ chức của họ để phù hợp với yêu cầu mới

Do đó, doanh nghiệp cần những thông tin rất chi tiết để giúp họ phát triển hoạt động quốc tế Đồng thời trong giai đoạn này cũng cần những thông tin về cơ hội mới ở những thị trường khác để giúp họ gia tăng hơn nữa hoạt động quốc tế hóa của mình

Giai đoạn 5: tham gia toàn diện Giai đoạn này doanh nghiệp chuyển từ doanh số bán lớn sang phụ thuộc rất nhiều vào thị trường quốc tế Một số công ty chuyển từ xuất khẩu sang đầu tư trực tiếp hoặc nhượng bản quyền Do đó, giai đoạn này doanh nghiệp cần nhiều thông tin và tư vấn để đối phó với cách quản trị quốc tế

Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần dịch vụ cung cấp cho họ những thông tin tổng quát và tư vấn về thị trường khác ngoài thị trường đang xuất khẩu, nhằm giúp họ mở rộng thị trường, đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa của mình

1.2 KHÁI QUÁT VỀ MẠNG LƯỚI XÚC TIẾN XUẤT KHẨU:

Trang 19

Phần này sẽ đề cập tới vai trò của bên cung thông tin tức là các tổ chức xúc tiến thương mại nói chung, hay xúc tiến xuất khẩu nói riêng Trong đó nêu lên vấn đề sắp xếp một hệ thống xúc tiến xuất khẩu phù hợp nhằm cung cấp dịch vụ thông tin đến các doanh nghiệp hiệu quả nhất

1.2.1 Các khái niệm cơ bản:

Để hiểu rõ hơn về nội dung trình bày, phần này sẽ nêu lên mõt số thuật ngữ và khái niệm cần xác định

• Xúc tiến thương mại (Trade Promotion): là các hoạt động nhằm gia tăng, phát triển việc mua bán, trao đổi hàng hóa, sản phẩm theo cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu với các quốc gia khác Các hoạt động này gồm các dịch vụ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động thương mại của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu như cung cấp thông tin, tư vấn, nghiên cứu thị trường, hỗ trợ triển lãm, quảng cáo và các dịch vụ hổ trợ khác như thủ tục xuất nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu, kiểm định chất lượng hàng hóa, …

• Xúc tiến xuất khẩu (Export Promotion): có ý nghĩa hẹp hơn, là các hoạt động nhằm gia tăng, phát triển việc bán, đưa hàng hóa, sản phẩm trong

nước ra thị trường nước ngoài Xúc tiến xuất khẩu cụ thể là những chương trình được Chính phủ của một nước cung cấp để đáp ứng yêu cầu của các

nhà xuất khẩu, với mục tiêu đẩy mạnh sự tăng trưởng của xuất khẩu

1.2.2 Mạng lưới xúc tiến xuất khẩu:

1.2.2.1 Hình thành chương trình và chính sách xúc tiến xuất khẩu:

Xúc tiến xuất khẩu xuất hiện từ khi có các chính sách, chiến lược từ những mục tiêu quốc gia cụ thể Hibbert nói rõ hơn về xúc tiến xuất khẩu: “ những chính sách và mục tiêu xuất khẩu quốc gia sẽ tạo nên những chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia, qua đó sẽ hổ trợ cho việc đạt được những mục tiêu xuất khẩu cụ thể”

Trang 20

Như vậy, các chương trình xúc tiến xuất khẩu (EPPs) là những nguyên tắc chủ đạo được chuyển từ chính sách xúc tiến xuất khẩu, nó quyết định những hoạt động xuất khẩu phải thực hiện như thế nào, ai tham gia và làm thế nào để nó đúng chức năng, đúng thời gian đối với những kế hoạch và hoạt động của Chính phủ như sự liên kết xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường,…

Các chương trình về chính sách xúc tiến xuất khẩu sẽ không chắc đạt được hiệu quả nếu không có chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp bao gồm chính sách trao đổi ổn định, luật đầu tư rõ ràng và mạnh để bảo đảm cho xuất khẩu, kèm theo sự hiện đại hóa liên tục về cơ cấu bộ máy nhà nước Vì vậy, điều kiện cần thiết cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu là có một chuẩn mực về chính sách, được vạch ra bởi những bộ phận phụ trách kinh tế của Chính phủ

Ngoài ra, chương trình và chính sách xúc tiến xuất khẩu phải có những đặc trưng riêng biệt, như đặc tính phát triển, có sự tham gia của bộ phận tư nhân, việc thành lập liên minh chiến lược giữa những nhà hoạt động kinh tế có liên quan với nhau Do đó, cần phải có sự tham gia đồng bộ vào bộ máy xúc tiến xuất khẩu của các thành phần tham gia thì mới đạt được mục tiêu đặt ra

1.2.2.2 Kết cấu của hệ thống các tổ chức xúc tiến xuất khẩu:

Chưa hẳn xuất khẩu sẽ cải thiện chỉ vì đã có một chương trình xúc tiến xuất khẩu Cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Chính phủ và các thành phần tư nhân trong việc phát triển xuất khẩu Cần có một cấu trúc bao gồm tất cả các thành phần tham gia và có thành phần liên kết nhằm tạo ra sự dẫn dắt thành công để đạt được mục tiêu xúc tiến xuất khẩu quốc gia và phải đạt được sự đồng thuận của các thành phần tham gia

Mục tiêu quốc

gia của Chính

phủ

Chính sách chiến lược của Chính phủ

Chương trình Xúc tiến Xuất khẩu

Trang 21

Thêm vào đó, một hệ thống như thế là cần thiết để tạo nên những chương trình và chính sách với những mục tiêu xuất khẩu được thiết lập phù hợp với kế hoạch của quốc gia Một lý do khác giải thích tại sao hệ thống này nên tồn tại là nó sẽ theo dõi các chương trình đang thực hiện, rút ra kinh nghiệm để cải tiến các chương trình trong tương lai Bởi vì Chính phủ luôn bận rộn với rất nhiều việc phải làm, không thể theo dõi hết mọi hoạt động, nên cần phải có một tổ chức thay mặt Chính phủ để thực hiện

1.2.3 Vai trò của hoạt động xúc tiến xuất khẩu:

1.2.3.1 Phạm vi hoạt động:

Hoạt động xúc tiến xuất khẩu là nền tảng cho bất kỳ nổ lực xuất khẩu nào,

do đó chúng phải được thực hiện trong bất kỳ trường hợp nào Không thể có tổ

chức nào khác hơn ngoài các tổ chức xúc tiến xuất khẩu có điều kiện thực hiện

hoạt động này

Các loại hoạt động điển hình cơ bản này gồm có :

- Nghiên cứu và phát triển thị trường

- Dịch vụ thông tin thương mại

- Đại diện tại nước ngoài

- Các dịch vụ xúc tiến trực tiếp trong và ngoài nước

- Phạm vi và mức độ chuyên sâu thực sự đối với các hoạt động của các tổ chức xúc tiến xuất khẩu phụ thuộc vào khả năng các nguồn lực, cả về nhân lực lẫn tài chính, vào những yêu cầu của nhà xuất khẩu, vào những tính chất của sản phẩm xuất khẩu, vào đặc trưng của thị trường nước ngoài, vào kinh nghiệm của chính các tổ chức xúc tiến xuất khẩu đó Trong đó, các nguồn lực về nhân sự và tài chính là những quan trọng hàng đầu

1.2.3.2 Mô tả các chức năng:

Các hoạt động XTTM có thể được thực hiện bởi nhiều tổ chức, cơ quan Tuy nhiên, một số các hoạt động đòi hỏi năng lực, hiểu biết chuyên môn về xúc

Trang 22

tiến xuất khẩu và phát triển xuất khẩu được coi là các hoạt động riêng biệt của các tổ chúc xúc tiến thương mại Các hoạt động này được chia làm năm nhóm:

• Phát triển sản phẩm và thị trường: Đây là việc xác định thông tin về cung xuất khẩu và sự tiếp nhận thông tin chính xác về thị trường nước ngoài Các thông tin này có được thông qua nghiên cứu về cung xuất khẩu và tiềm năng thị trường Kết quả của các thông tin này được phổ biến thông qua các hồ sơ về sản phẩm và thị trường Ở các nước, khuynh hướng đang phát triển là tập trung vào các nghiên cứu, vì nó được xem là rất quan trọng cho những quyết định về các hoạt động hổ trợ trong tương lai đối với hoạt động xuất khẩu

• Dịch vụ thông tin thương mại: Việc thiếu thông tin về thị trường nước ngoài đối với các nhà sản xuất và nhà xuất khẩu là một trong những cản trở được đề cập nhiều nhất trong kinh doanh xuất khẩu Có nhiều định chế được lập ra cho dịch vụ thông tin thương mại như các tổ chức xúc tiến thương mại, phòng thương mại và các tổ chức khác, và việc thu thập các tư liệu thông tin cũng đến từ rất nhiều nguồn Ở một số quốc gia, việc tạo ra các hoạt động dịch vụ thông tin là biểu thị cho sự bắt đầu của các nổ lực xúc tiến xuất khẩu

• Các dịch vụ hỗ trợ chuyên môn: Các dịch vụ này nhằm giúp doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao trình độ chuyên môn về kỹ thuật ngoại thương của họ và nhằm đưa ra những sản phẩm cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế bằng việc cải tiến chất lượng sản phẩm và các đặc điểm, tính chất khác của sản phẩm Các dịch vụ này gồm nhiều vấn đê như: thủ tục xuất khẩu, vận chuyển, vốn, tiếp thị, định giá thành và giá bán, kiểm định chất lượng, bao bì xuất khẩu, quảng cáo, các vấn đề pháp lý,… Phạm vi các hoạt dịch vụ này rất rộng, các tổ chức xúc tiến thương mại phải dựa trên nghiên cứu

Trang 23

kỹ lưỡng về các yêu cầu của nhà sản xuất để lựa chọn các dịch vụ thực hiện

• Các hoạt động xúc tiến tại nước ngoài: Các hoạt động xúc tiến tại nước ngoài có vai trò rất quan trọngtrong hoạt động hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong nước Các hoạt động này bao gồm: việc thu thập thông tin từ nước ngoài, phòng trưng bày và giới thiệu sản phẩm cho các doanh nghiệp, tổ chức hội nghị, hội thảo thương mại, kêu gọi đầu tư từ nước ngoài, mời các nhà nhập khẩu nước ngoài đến thăm các cơ sở sản xuất trong nước và tham dự triển lãm trong nước Trong các hoạt động của các tổ chúc xúc tiến thương mại, hoạt động của các văn phòng đại diện tại nước ngoài là một trong những hoạt động qaun trọng nhất Văn phòng này hoạt động càng hiệu quả sẽ có được nhiều thông tin hơn và tìm được nhiều đối tác cho doanh nghiệp trong nước hơn

• Hỗ trợ phối hợp với các tổ chức khác: Có nhiều chức năng mà do bản chất riêng của chúng nên được thực hiện bởi các định chế chuyên môn công và

tư khác Tuy nhiên, các chúc năng này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các tổ chức xúc tiến thương mại

Do đó các tổ chức này cần phải có sự liên kết với các tổ chức xúc tiến thương mại bằng một cơ chế thích hợp Mặt khác, các tổ chức xúc tiến thương mại nên hỗ trợ hoạt động của các định chế này nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Các định chế này có thể là các viện nghiên cứu, các trường đại học, các công ty du lịch, … Chúng thực hiện các chiến dịch thúc đẩy quảng cáo, chuẩn bị các nghiên cứu kinh tế và báo cáo tư vấn trình Chính phủ, hỗ trợ các DNVVN

1.2.4 các loại hình tổ chức xúc tiến thương mại:

Trang 24

Đặc điểm về mặt tổ chức của các TCXTTM khác nhau giữa các quốc gia ,

do phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang đặc tính địa phương, như vai trò chính yếu mà TCXTTM được chỉ định, các nguồn lực, các thông lệ hành chính, và sự ưu tiên cho hoạt động xúc tiến thương mại,… Nhiều Chính phủ tại các quốc gia dường như không nhận ra rằng hoạt động của TCXTTM nên chủ yếu là cung cấp dịch vụ xúc tiến thương mại và vai trò của nó trong việc xây dựng chính sách và kiểm soát phải là ở mức tối thiểu Sự nhằm lẫn về các mục tiêu thường gây ra cơ cấu điều hành và khung pháp lý phản tác dụng

Dù ở bất kỳ hình thức pháp lý nào, có một số các điều kiện phải được thỏa mãn cho một TCXTTM hoạt động hiệu quả Các điều kiện đó là:

• Vai trò và lĩnh vực hoạt động chính yếu của tổ chức này phải được xác định

rõ ràng Việc xác định này có một ảnh hưởng quan trọng đối với cơ cấu của cơ quan lãnh đạo và các cấp điều hành của tổ chức này

• Tổ chức này nên có một vị trí mang tính pháp lý nằm trong cơ cấu chung

của bộ máy Chính phủ, cho nó các phương tiện hoạt động và quyền hạn cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ được giao

• Mục đích của tổ chức nên xác định rõ ràng, do đó tránh được những nhằm

lẫn về mục tiêu và sự đảm đương các nhiệm vụ không liên quan đến các mục tiêu chính của tổ chức

• Phải đảm bảo các nguồn lực đầy đủ, thích đáng về cả nhân sự và tài chính

Dựa vào cơ cấu về căn bản có hai dạng TCXTTM: một dạng hình thành là

một Cục hoặc một bộ phận nằm trong một Bộ, còn dạng kia là định chế độc lập - tự quản, trong đa số các trường hợp gắn với một Bộ, lý do chính là để thuận lợi về

mặt tài chính và quản lý

1.2.4.1 Bộ phận của một Bộ:

Trang 25

Nhiều quốc gia đang phát triển bắt đầu những nổ lục xúc tiến xuất khẩu

của họ trên cơ sở thử nghiệm, thông thường bằng cách tạo ra một đơn vị xúc tiến xuất khẩu nằm trong một Bộ Hình thức này thay đổi tùy từng quốc gia, nhưng thường là một Cục, một ban hay môt bộ phận của Bộ có liên quan (Bộ Thương mại hoặc Bộ Kinh tế,…)

Mặc dù trên thực tế các TCXTTM này được thành lập như những đơn vị tạm thời, nhưng trong đa số trường hợp, TCXTTM này vẫn giữ như một phần của Bộ tương ứng đó trong nhiều năm

Có hai lý do cho việc tạo ra TCXTTM trong một Bộ:

- Thứ nhất, TCXTTM thường có thể được lập ra bằng một Quyết định của Bộ chủ quản, có nghĩa là không cần những biện pháp lập pháp phức tạp

- Thứ hai, TCXTTM có thể được cấp tài chính thông qua việc phân bổ từ ngân sách thông thường của Bộ chủ quản đó

Với hình thúc này, TCXTTM có lợi thế là được ban phát cho đặc quyền, là bộ phận hoàn toàn thuộc về Chính phủ Tuy nhiên hình thức này có những hạn chế:

- Tổ chức tạo ra như vậy thường thiếu tính độc lập cần phải có để thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại Đó là một bộ phận hoàn toàn thuộc Bộ, nó phải tuân theo các thủ tục quan liêu truyền thống đối với các hoạt động và việc bố trí nhân sự

- Khó có thể phân biệt giữa nhiệm vụ xúc tiến và và các chức năng quản lý truyền thống của các Bộ, một tình trạng mà trong hầu hết các trường hợp sẽ dẫn đến kết quả tiêu cực

- Do được giao những công việc hàng ngày của Bộ, TCXTTM có thể làm mất đi mục đích ban đầu và trong thời gian dài sẽ trở nên không có hiệu quả của một TCXTTM

1.2.4.2 Định chế công – tự quản gắn với một Bộ:

Trang 26

Việc thành lập những định chế công – tự quản gắn với một Bộ là một mô hình được các nước trên thế giới sử dụng nhiều nhất và có lẽ có hiệu quả nhất Đó là một định chế có một vị trí pháp lý được xác định rõ ràng, có thể độc - lập tự quản thực sự, mặc dù có một vài kiểm soát do Bộ mà nó gắn vào Sự thành công của tổ chức này phụ thuộc đáng kể vào sự hổ trợ từ Chính phủ và mức độ độc lập của nó trong thực tế

Các định chế công – tự quản có thể được phân thành các nhóm sau:

• Hội đồng:

Thường gặp ở các nước Châu Á và Châu Phi Trong đa số trường hợp, Hội đồng bao gồm các viên chức Chính phủ cấp cao và được các Bộ trưởng chuyên môn hổ trợ Ngoài các chức năng xúc tiến thương mại thông thường, một số hội đồng còn có nhiệm vụ xây dựng chính sách (Policy making responsibility) Hầu hết các hội đồng có chức năng điều phối

Thí dụ về nhóm này có:

China Council For The Promotion Of International Trade - CCPIT (Trung quốc)

Tuy nhiên, sự phối hợp chức năng xây dựng chính sách và thực hiện chính sách dẫn đến giảm bớt hiệu quả, đặc biệt đối với chức năng thực hiện chính sách, thực hiện các hoạt động xúc tiến

• Trung tâm và các định chế tương tự:

Được biết dưới nhiều tên gọi khác nhau như: trung tâm, tổ chức, viện, tổng công ty, cơ quan, cục, và quỹ Các tổ chức này thường gắn với một Bộ do mục đích quản lý, nhưng vẫn có được sự tự do đáng kể để thực hiện các hoạt động mà xét thấy là phù hợp Tất cả các tổ chức này đều có một vài kiểu mẫu Hội đồng Quản trị gồm các đại diện từ cả hai khu vực Nhà nước và tư nhân, hoặc từ một trong hai khu vực đó

Trang 27

Các tổ chức này được gắn với một Bộ, chủ yếu là để phù hợp với thủ tục hành chính công và cũng do các mục đích về tài chính Trong đa số các trường hợp, chúng được gắn với Bộ Thương mại, và chỉ một số ít trường hợp gắn với Bộ Ngoại giao, Bộ kinh tế hoặc Bộ Công nghiệp

Một yếu tố quan trọng cho sự thành công của nhóm này là sự tham gia tích cực của cộng đồng xuất khẩu trong TCXTTM Một cách để đảm bảo chắc chắn cho sự tham gia đó là cho phép cộng đồng này có đại diện trong Hội đồng Quản trị, một cách khác là thiết lập Ban cố vấn hay tư vấn Tuy nhiên, cần phải nói rõ rằng, sự hòa hợp thống nhất trong Hội đồng Quản trị có thể đạt được dễ dàng hơn cho một định chế công – tự quản so với một cơ quan thuộc Bộ

Các định chế công – tự quản kiểu mẫu được mô tả ở trên hoạt động thành công khi chúng vận hành gần giống như các công ty kinh doanh Điều này có nghĩa là các định chế xây dựng các phương hướng, kế hoạch hoạt động hàng năm rồi đưa lên Hội đồng Quản trị để được xét duyệt, chỉ có một số ít trường hợp phải trình duyệt cho Bộ trường có liên quan, và sau đó thực hiện các hoạt động hoàn toàn độc lập Các định chế này cũng được tự mình bổ nhiệm và bãi nhiệm nhân sự nếu xét thấy phù hợp, có nghĩa là không bị ràng buộc bởi qui định tuyển chọn công chức Nhà nước, do đó có thể thuê chuyên gia giỏi để điều hành Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, các TCXTTM không giống với công ty kinh doanh, vì họ không phải là địng chế tìm kiếm lợi nhuận và phải chịu những hạn chế của tính chất này

Lý do mà các TCXTTM được gắn với một Bộ, thường do vấn đề tài chính, phải báo cáo cho Bộ đó về vấn đề tổng quát, nhưng phải hiểu rằng mối quan hệ như thế không hàm ý can thiệp vào các hoạt động hằng ngày Có như vậy, các TCXTTM đó mới duy trì được sự độc lập thực sự và phát triển thành một định chế hoạt động có hiệu quả

Thí dụ về nhóm này có:

Trang 28

- Korea Trade Promotion Agency – KOTRA (Hàn quốc);

- Malaysia External Trade Development Corporation – MATRDE (Malaysia);

- Japan External Trade Organization – JETRO (Nhật Bản)

1.2.4.3 Các tổ chức tư nhân:

Trong một số quốc gia, do không có hoặc hoạt động kém hiệu quả của TCXTTM thuộc Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp đã có sáng kiến thực hiện các hoạt động xúc tiến xuất khẩu thông qua một vài loại tổ chức tư nhân Phòng Thương mại, các Hiệp hội xuất khẩu, công thương

Các tổ chức tư nhân này quan tâm đặc biệt đến các hoạt động quảng bá thông tin về thị trường nước ngoài, và trong một vài trường hợp có thể tạo ra các

cơ chế hoạt động nhằm thực hiện các công việc xúc tiến thương mại tại nước ngoài Tuy nhiên, do thường bị hạn chế bởi nguồn lực tài chính, chúng không thể đáp ứng mọi yêu cầu của cộng đồng thương mại Do đó, các tổ chức này không phải là lý tưởng và Chính phủ cần cung cấp các dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp

1.2.5 Vai trò của TCXTTM :

Tác động của các hoạt động xúc tiến thương mại là tác động vô hình và lâu dài Đánh giá một cách cụ thể hoặc tách rời các tác động của các hoạt động xúc tiến thương mại đối với nền kinh tế hoặc đối với doanh nghiệp không phải là việc dễ dàng Một trong những khó khăn chính trong việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động xúc tiến thương mại là thiếu qui trình đánh giá tiêu chuẩn đối với hoạt động của các TCXTTM Rồi đến thiếu các số liệu thống kê ngoại thương theo thời gian, với chất lượng và số lượng thật chính xác Ngoài ra, khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động là do bản chất riêng của loại hình hoạt động này Thí dụ, những hoạt động nhằm cải thiện năng lực chung của khu vực

Trang 29

xuất khẩu để thâm nhập vào các thị trường nước ngoài hoặc nhằm nâng cao kiến thức về xuất khẩu

Ở các nước đang phát triển, các dữ liệu điều tra không cho thấy các chứng cứ rõ ràng và trực tiếp về các lợi ích mang lại từ các mối quan hệ giữa các TCXTTM và các doanh nghiệp nhưng chỉ gợi ý đối tượng chính yếu của lợi ích này mang lại Tính hiệu quả của các mối quan hệ giữa các TCXTTM và các doanh nghiệp đã được đánh giá như sau : khoảng 26,8% được đánh giá rất tốt, 22% là tốt và 51% là trung bình hoặc kém (Theo tài liệu của Trung tâm thương mại quốc tế ITC ( Export Promotion Organizations in Developing countries : Their role, scope and function » của F.H.Rolf Seringhaus – năm 1987)

Qua quá trình nghiên cứu, có thể thấy rằng kinh nghiệm thành công của một số TCXTTM tại các nước bao gồm các yếu tố như sau :

- Chính phủ có một chính sách kinh tế mở, hướng về xuất khẩu rõ ràng, cụ thể, khuyến khích được người sản xuất cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu

- Có sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức có liên quan đến xuất khẩu nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu

- Các TCXTTM có được vị trí pháp lý với phạm vi, nhiệm vụ rõ ràng, có luật riêng cho TCXTTM, do nó không phải là doanh nghiệp, cũng không phải là cơ quan công quyền Cần phải có sự tài trợ để các tổ chức này tăng cường hiệu quả công việc, nhất là việc thiết lập các văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm ở nước ngoài, xây dựng các khu triển lãm hàng xuất khẩu tại các vị trí thuận lợi cho khách hàng nước ngoài tham quan Các TCXTTM chủ yếu tạo nên các tiền đề cho môi trường kinh doanh xuất khẩu thuận lợi, còn việc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường phần lớn là công việc của các doanh nghiệp Do đó, khó có thể tách bạch được tác động của các TCXTTM đến xuất khẩu, vì không có các tổ chức này các hoạt động xuất khẩu

Trang 30

dẫn diễn ra nhưng kết quả thì lại khác Có thể ví các TCXTTM như rada dẫn đường, thiếu rada thì cổ máy vẫn chạy nhưng chạy chậm Nói một cách khác đây là hoạt động “thương mại mù mắt ”

1.3 KINH NGHIỆM XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA NHẬT BẢN:

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển:

Như chúng ta đã biết, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Nhật Bản gần như kiệt quệ Tất cả những gì họ có được đã bị tàn phá, và họ phải bắt đầu từ vạch xuất phát để xây dựng lại quốc gia

• Thành lập JETRO:

Để vượt qua những khó khăn này, tổ chức The Japan External Trade Recovery Organization (JETRO) được hình thành vào năm 1958 như một tổ chức xúc tiến xuất khẩu đầu tiên của quốc gia để thực hiện tất cả các hoạt động liên quan tới xúc tiến thương mại, như dự án nghiên cứu ở nước ngoài, các dịch vụ sắp xếp thương mại, tham gia vào triển lãm thương mại quốc tế, và xúc tiến các sản phẩm của Nhật Bản ra thị trường nước ngoài

Vào những năm 1960, JETRO tập trung vào khảo sát về marketing xuất khẩu (Export Marketing Serveys) mà mục tiêu đặt ra là 1) tìm ra thị trường xuất khẩu mới, 2) gia tăng xuất khẩu, 3) thay đổi thói quen xuất khẩu cũ, tạo ra một dãy rộng các sản phẩm xuất khẩu như dệt may, máy móc, hóa chất, sản phẩm kim loại, đồng hồ, thuốc tây,…Văn phòng ở nước ngoài giữ một vai trò quan trọng trong những khảo sát marketing xuất khẩu Đại diện của JETRO ở mọi văn phòng, với sự giúp đỡ của các công ty nghiên cứu bản xứ, sẽ sử dụng hầu hết thời gian của họ vào việc đi khảo sát thực tế hoặc ở trên đường phố để thu thập thông tin, sử dụng đôi mắt sáng và đôi tai thính của mình Với những người đại diện như thế, sau nhiều năm làm nhiệm vụ ở một quốc gia, trở thành những chuyên gia vô giá tại quốc gia đó và thị trường đó

Trang 31

Nghiên cứu marketing xuất khẩu của JETRO được sử dụng cho cả Chính phủ và khu vực tư nhân

• Thành lập Hội đồng Xuất khẩu (Export Council)

JETRO giống như trụ cột thứ nhất cho xúc tiến xuất khẩu của Nhật Bản, trụ cột thứ hai là Hội đồng Xuất khẩu, được thành lập vào năm 1958 như một tổ chức tối cao của quốc gia để xem xét các vấn đề quan trọng liên quan tới chính sách xuất khẩu, chỉ tiêu xuất khẩu, và phối hợp giữa các tổ chúc với các bộ ngành có liên quan Hội đồng được chủ trì bởi Thủ tướng Chính phủ và các thành viên bao gồm các bộ có liên quan, Thống đốc ngân hàng Nhật Bản và Thống đốc ngân hàng xuất nhập khẩu và lãnh đạo các ngành nghề có liên quan Hệ thống kim tự tháp này thực sự tham gia vào toàn bộ hệ thống quốc gia, làm việc một cách kỷ lưỡng Trước tiên, một hội đồng nghề nghiệp sẽ đặt ra một chỉ tiêu xuất khẩu cụ thể cho ngành đó, và thảo luận những phương tiện để đạt được những mục tiêu này, kết luận được đưa ra, sau đó trình lên hội nghị cấp cao hơn xem xét, và cuối cùng được chấp thuận bởi Export Council Để khuyến khícch khu vực tư nhân tham gia xúc tiến xuất khẩu, Chính phủ giới thiệu một giải thưởng để công nhận công ty nào có đóng góp lớn cho xuất khẩu quốc gia Giải thưởng sẽ được trao cho cá nhân người nhận bởi Thủ tướng hoặc Bộ trưởng

• Thành lập Trade Council Classified By Overseas Commodities:

Để hỗ trợ thêm cho Export Council, Trade Council Classified By Overseas Commodities được thành lập vào năm 1964, một phương cách đặc biệt mà Nhật Bản triển khai ở bên ngoài quốc gia trong thời gian này Hội đồng ở nước ngoài này có nhiệm vụ chuyển những chính sách xúc tiến sang thực tiễn dưới sự lãnh đạo của các nhân sự cấp cao của Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế (MITI), những thành viên chính của các tổ chức ở nước ngoài, đại diện ở nước ngoài của JETRO và đại diện các tổ chức ngành nghề Tất cả đều ở tuyến đầu của thị trường xuất khẩu, họ ngồi lại với nhau để bàn những chiến lược nhằm xúc tiến

Trang 32

những mặt hàng cụ thể, thị trường cụ thể Hội đồng sẽ cung cấp những thông tin vô giá đối với xúc tiến xuất khẩu, nhờ vào những thông tin này, việc thực hiện mang tính xác thực hơn

• Những đặc trưng của chính sách xúc tiến xuất khẩu Nhật Bản:

V i nh ng chính sách như thế, được hình thành và áp dụng thông qua sự cộng tác giữa chính phủ và khu vực tư nhân, giúp Nhật Bản mở rộng xuất khẩu từ

2 tỷ USD vào năm 1955 lên 10 tỷ USD vào năm 1967 và 25 tỷ USD vào năm

Ba là, các công ty Nhật Bản hiểu rất nhanh thị trường xuất khẩu của họ, do đó họ đưa sản phẩm thích hợp với mỗi thị trường Sản phẩm của Nhật Bản thời

gian này được đánh giá là “rẻ và chất lượng thấp” ở thị trường thế giới, vì vậy

cung cấp đúng sản phẩm đến đúng thị trường chỉ là một phần của cuộc chiến Với sự giúp đỡ của chính phủ, các công ty tư nhân đã giới thiệu công nghệ mới giúp họ đưa ra sản phẩm chất lượng cao với giá thấp Thị trường dần dần quan tâm tới

Trang 33

sản phẩm của họ Sản phẩm Nhật Bản bắt đầu bán dưới thương hiệu quốc gia

“Japan Brand”, đã trở thành một biểu tượng của chất lượng và sự tin cậy Nhật Bản cũng giới thiệu luật về xem xét xuất khẩu (Export Inspection Law) vào năm

1957 , luật này đánh giá sản phẩm trước khi xuất khẩu giúp cho các công ty nâng cấp về thiết kế sản phẩm nhằm giữ uy tín cho danh tiếng này

Bốn là, ý thức mạnh mẽ và lòng kiên nhẫn của các công ty tư nhân Không cần phải nói, công ty tư nhân là nhân vật trung tâm trong xúc tiến xuất khẩu Để thành công trong xúc tiến xuất khẩu công ty phải hiểu nhu cầu của thị trường mục tiêu

Chúng ta đã từng nghe những công ty thương mại của Nhật Bản như Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, … Họ đã gởi nhân viên của họ đi đến mọi nơi trên thế giới để giới thiệu sản phẩm của Nhật Bản Lần đầu tiên khi họ đến Mỹ đã bị làm ngơ, nhưng họ vẫn kiên trì, không bỏ cuộc Cả công ty thương mại và nhà sản xuất phải trải qua mười năm gian nan để vào được thị trường Mỹ Điều đáng nói

ở đây là các công ty thương mại không tự nhiên mà thành công trong xuất khẩu mà đó là nhờ vào sự nổ lực rất lớn từ phía nhân viên của họ

1.3.2 Hoạt động hiện nay của JETRO:

Hiện nay JETRO có mạng lưới 73 văn phòng ở nước ngoài và tại 55 quốc gia và vùng lãnh thổ, 38 văn phòng ở quốc nội kể cả hai văn phòng chính ở Tokyo và Osaka Ngân sách cho năm 2004 là 42 tỷ Yên

(Xem thêm phần phụ lục về các cơ quan Xúc tiến Xuất khẩu của một số quốc gia: JETRO – Nhật Bản, KOTRA – Hàn Quốc, CETRA – Đài Loan)

1.3.3 Bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm:

Qua nghiên cứu sự thành công của hoạt động xúc tiến xuất khẩu Nhật Bản có thể rút ra những bài học sau:

Trang 34

Một là, định hướng rõ ràng về một nền kinh tế hướng đến xuất khẩu ngay từ đầu của Chính phủ Nhật Bản là một yếu tố quan trọng, làm nền tảng cho sự thành công của cả hoạt động xúc tiến xuất khẩu

Hai là, sự ra đời của JETRO rất đúng lúc, tại thời điểm kinh tế đang kiệt quệ đang cần một tổ chức hỗ trợ các doanh nghiệp đưa hàng ra nước ngoài Ngoài

ra, JETRO là một tổ chức đặc biệt và duy nhất chịu trách nhiệm chính về hoạt động xúc tiến xuất khẩu, do đó họ có trách nhiệm cao đối với hoạt động của mình

Ba là, Chính phủ đã kịp thời xây dựng một hệ thống hỗ trợ cho JETRO thực hiện công việc của mình, như Hội đồng Xuất khẩu với đầy đủ những đại diện có liên quan và có quyền quyết định nhằm giải quyết những vướng mắc về mối liên hệ với nhiều ngành; kịp thời xây dựng khung pháp lý nhằm phát triển các hiệp hội, đây là những tổ chưc quan trọng cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu

Bốn là, Chính phủ đã xây dựng một hệ thống các tổ chức tham gia xúc tiến xuất khẩu hợp lý, không chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm, chính vì thế đã phát huy được hiệu quả tối đa của hệ thống

(Xem thêm phụ lục về một số TCXTTM nước ngoài)

Trang 35

TÓM TẮT

Chương này nêu lên cơ sở lý thuyết của luận văn, gồm có ba phần: lý thuyết về quá trình quốc tế hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ tức bên cầu thông tin; khái quát về hoạt động của bên cung thông tin; và bài học kinh nghiệm về xúc tiến xuất khẩu của Nhật Bản

Lý thuyết về quá trình quốc tế hóa của các DNVVN nêu lên lý do tại sao DNVVN phải quốc tế hóa hoạt động của mình, đó là việc doanh nghiệp sở hữu những lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp ở nước khác, đồng thời quá trình quốc tế hóa cũng là quá trình doanh nghiệp tự bảo vệ mình tại nước bản sứ Tiếp theo là phần mô tả về chu kỳ sống của sản phẩm, phần này nêu lên sự thay đổi về nơi sản xuất của một sản phẩm trong quá trình quốc tế hóa Sau cùng là các giai đoạn của quá trình quốc tế hóa, mô tả từ sự khởi đầu cho đến lúc quốc tế hóa hoàn toàn

Khái quát mạng lưới xúc tiến xuất khẩu, nêu lên hoạt động của bên cung thông tin cho các DNVVN Phần này cung cấp những khái niệm xúc tiến xuất khẩu, mạng lưới xúc tiến xuất khẩu, vai trò của xúc tiến xuất khẩu, các loại hình tổ chức xúc tiến thương mại và vai trò của các tổ chức xúc tiến thương mại

Bài học kinh nghiệm về xúc tiến xuất khẩu nêu tóm tắt quá trình hình thành mạng lưới xúc tiến xuất khẩu của Nhật Bản, vai trò hạt nhân của JETRO, sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức khác cho JETRO Từ đó, hình thành nên một mạng lưới xúc tiến xuất khẩu hiệu quả cho Nhật Bản

Bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm Nhật Bản đó là phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức tham gia xúc tiến xuất khẩu thì hoạt động này mới đạt được hiệu quả cao

Trên đây chỉ là phần lý thuyết, chương tiếp theo sẽ nghiên cứu thực trạng về hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các DNVVN ở TP.HCM nhằm củng cố thêm phần lý thuyết này

Trang 36

Chương 2

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA DNVVN Ở

TP.HCM 2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ TP.HCM:

2.1.1 Vị trí kinh tế và vai trò của TP.HCM:

2.1.1.1 Vị trí kinh tế:

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam với diện tích 2.093km2, dân số 6,239 triệu người n m 2005, là trung tâm có tầm ảnh hưởng đặc biệt đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Với mức tăng trưởng cao trung bình giai đo n 2001 - 2005 đạt 11% đ, trong những năm qua TP.HCM chiếm tỷ trọng GDP cao nhất nước, năm 2005 là 20,2%

BẢNG 1: TỶ TRỌNG GDP CỦA TP.HCM SO VỚI CẢ NƯỚC

Nguồn: Niên giám Thống kê – Tổng cục Thống kê 2005

2.1.1.2 Vai trò của TP.HCM:

TP.HCM có nhiều ưu thế trong phát triển kinh tế xã hội, từ xưa Sài Gòn đã là địa bàn quan trọng của khu vực phía Nam Đến nay, TP.HCM đã là trung tâm kinh tế lớn nhất nước, là đầu mối quan trọng về tất cả các lĩnh vực như công nghiệp, thương mại, y tế, tài chính, giáo dục,… đối với các địa phương trong nước và cả quốc tế

Cơ cấu kinh tế của TP.HCM thể hiện đặc trưng của một thành phố trung tâm với nhiều chức năng đáp ứng yêu cầu phát triển của toàn vùng và cả nước, như cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chất lượng ngày càng tăng cao Cơ cấu kinh

Trang 37

tế cũng ngày càng thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, luôn đi đầu trong đổi mới công nghệ Đặc biệt, trong những năm gần đây đã phát triển mạnh sản xuất hàng xuất khẩu

BẢNG 2: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM

Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp gia tăng hàng năm, bình quân đạt 8,3 tỷ USD/năm, với tốc độ gia tăng hàng năm rất cao, đặc biệt là vào các năm 2003, 2004

Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM

BẢNG 4: TỶ TRỌNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC NGÀNH NĂM 2005

Trang 38

Chỉ tính khu vực kinh tế trong nước ĐVT: triệu USD

6 Sữa và các sản phẩm từ sữa 102,4 0,8

7 Tổng kim ngạch xuất khẩu 12.131 100

Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM

2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC DNVVN Ở TP.HCM:

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu đổi mới, xóa bỏ kinh tế bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường thì số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ không ngừng gia tăng DNVVN theo định nghĩa của Việt Nam là các doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng và sử dụng dưới 300 lao động Hệ thống luật pháp cũng ngày càng hoàn thiện hơn cho phù hợp với xu thế ngày càng phát tri63n của DNVVN Luật doanh nghiệp ban hành năm 1999 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nổ lực của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển

Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, TP.HCM luôn dẫn đầu về số lượng các doanh nghiệp đăng ký thành lập, cũng như tổng số vốn đăng ký Bảng dưới đây sẽ cho biết số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký qua các năm

BẢNG 5: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP THÀNH LẬP THEO NĂM

2001 Trở về trước 27.837 141.181.000

Trang 39

BẢNG 6: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP PHÂN THEO NGÀNH

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM

Trang 40

WTO dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, thị trường ngày càng chật hẹp, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm thị trường mới thông qua xuất khẩu

2.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI Ở TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất nước nên có nhiều tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại đặt tại đây Trong đó, gồm cả tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài, cả tổ chức thuộc trung ương và tổ chức thuộc địa phương, cả các loại hình thuộc Chính phủ và phi Chính phủ

2.3.1 Thuộc hệ thống Chính phủ:

2.3.1.1 Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại)

(Vietnam Trade Promotion Agency – VIETRADE)

a Chức năng và hoạt động chính:

Chức năng:

Cục Xúc tiến Thương mại là cơ quan trực thuộc Bộ Thương mại được thành lập ngày 15/11/2004, có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại Cục Xúc tiến Thương mại có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, được sử dụng con dấu riêng để giao dịch theo qui định của pháp luật, kinh phí hoạt động của Cục do ngân sách nhà nước cấp Trụ sở chính đặt tại Hà nội, một văn phòng tại TP.HCM , hai văn phòng ở nước ngoài

Hoạt động:

- Chủ trì và phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng chính sách, các văn bản qui phạm pháp luật, các qui trình, chương trình, dự án, qui hoạch, kế hoạch phát triển xúc tiến thương mại trình Bộ Thương mại để trình cấp có thẩm quyền hoặc Bộ ban hành theo thẩm quyền

- Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức và liểm tra việc thực hiện các qui định trên sau khi được phê duyệt

Ngày đăng: 24/11/2014, 00:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 1: KHUNG NGHIÊN CỨU - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
HÌNH 1 KHUNG NGHIÊN CỨU (Trang 13)
HÌNH 2: CHU KỲ SỐNG CỦA SẢN PHẨM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA  NÓ ĐẾN VIỆC BỐ  TRÍ SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
HÌNH 2 CHU KỲ SỐNG CỦA SẢN PHẨM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆC BỐ TRÍ SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI (Trang 16)
Hình 3: CÁC BƯỚC CỦA QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA ĐỐI VỚI DNVVN - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
Hình 3 CÁC BƯỚC CỦA QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA ĐỐI VỚI DNVVN (Trang 17)
BẢNG 4: TỶ TRỌNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC NGÀNH NĂM 2005 - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
BẢNG 4 TỶ TRỌNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC NGÀNH NĂM 2005 (Trang 37)
BẢNG 2: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
BẢNG 2 KIM NGẠCH XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM (Trang 37)
BẢNG 5: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP THÀNH LẬP THEO NĂM - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
BẢNG 5 SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP THÀNH LẬP THEO NĂM (Trang 38)
BẢNG 6: SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP PHÂN THEO NGÀNH - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
BẢNG 6 SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP PHÂN THEO NGÀNH (Trang 39)
HÌNH 4: KHÓ KHĂN CỦA DN TRONG MẪU ĐIỀU TRA - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
HÌNH 4 KHÓ KHĂN CỦA DN TRONG MẪU ĐIỀU TRA (Trang 56)
HÌNH 5: VIỆC THAM GIA HIỆP HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
HÌNH 5 VIỆC THAM GIA HIỆP HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (Trang 57)
HÌNH 6: SỰ NHẬN BIẾT CÁC TỔ CHỨC THAM GIA XÚC TIẾN - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
HÌNH 6 SỰ NHẬN BIẾT CÁC TỔ CHỨC THAM GIA XÚC TIẾN (Trang 57)
BẢNG 7:  KHÁI QUÁT CÁC HẠN CHẾ - GIẢI PHÁP (NHÀ NƯỚC) - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
BẢNG 7 KHÁI QUÁT CÁC HẠN CHẾ - GIẢI PHÁP (NHÀ NƯỚC) (Trang 78)
BẢNG 8: KHÁI QUÁT CÁC HẠN CHẾ - GIẢI PHÁP (DOANH NGHIỆP) - Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và giải pháp
BẢNG 8 KHÁI QUÁT CÁC HẠN CHẾ - GIẢI PHÁP (DOANH NGHIỆP) (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w