1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tim hieu luat an ninh mang

28 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày, tháng, năm nào, có hiệu lực từ ngày tháng năm nào? Nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng? Trả lời: Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018; Luật An ninh mạng được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Công bố tại Lệnh công bố luật số: 062018LCTN ngày 25 tháng 6 năm 2018 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Luật An ninh mạng gồm 07 chương, 43 Điều, cụ thể:  Chương 1: Những quy định chung (Từ Điều 1 đến Điều 9).  Chương II: Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh Quốc gia (Từ Điều 10 đến Điều 15).  Chương III: Phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng (Từ Điều 16 đến Điều 22).  Chương IV: Hoạt động bảo vệ an ninh mạng (Từ Điều 23 đến Điều 29).  Chương V: Bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng ( Từ Điều 30 đến Điều 35).  Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Từ Điều 36 đến Điều 42).  Chương VII: Điều khoản thi hành (Điều 43). Câu 2: Sự cần thiết xây dựng và ban hành Luật An ninh mạng? Theo đồng chí, vấn đề nào là cần thiết nhất, vì sao? Trả lời: Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, không gian mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Sự phát triển bùng nổ của công nghệ mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo, Internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống dữ liệu nhanh... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng, được dự báo sẽ mang lại những lợi ích chưa từng có cho xã hội loài người nhưng cũng làm xuất hiện những nguy cơ tiềm ẩn vô cùng lớn. Nhiều quốc gia đã nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, coi đây là thách thức mới, mối đe dọa mới có tầm quan trọng và nguy hiểm cao nên đã cụ thể hóa thành các văn bản chính sách

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LUẬT AN NINH MẠNG

Câu 1: Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày, tháng, năm nào, có hiệu lực từ ngày tháng năm nào? Nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng?

Trả lời:

Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12tháng 6 năm 2018; Luật An ninh mạng được Chủ tịch nước Cộnghòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Công bố tại Lệnh công bố luậtsố: 06/2018/L-CTN ngày 25 tháng 6 năm 2018 và có hiệu lực thihành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019

Luật An ninh mạng gồm 07 chương, 43 Điều, cụ thể:

Chương 1: Những quy định chung (Từ Điều 1 đến Điều 9)

Chương II: Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tinquan trọng về an ninh Quốc gia (Từ Điều 10 đến Điều 15)

Chương III: Phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninhmạng (Từ Điều 16 đến Điều 22)

Chương IV: Hoạt động bảo vệ an ninh mạng (Từ Điều 23đến Điều 29)

Chương V: Bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng ( TừĐiều 30 đến Điều 35)

Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân (TừĐiều 36 đến Điều 42)

Chương VII: Điều khoản thi hành (Điều 43)

Câu 2: Sự cần thiết xây dựng và ban hành Luật An ninh mạng? Theo đồng chí, vấn đề nào là cần thiết nhất, vì sao?

Trả lời:

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ,không gian mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thểthiếu và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thôngtin và phát triển kinh tế tri thức Sự phát triển bùng nổ của côngnghệ mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo, Internet của vạnvật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệulớn, hệ thống dữ liệu nhanh đã làm không gian mạng thay đổisâu sắc cả về chất và lượng, được dự báo sẽ mang lại những lợi

Trang 2

ích chưa từng có cho xã hội loài người nhưng cũng làm xuấthiện những nguy cơ tiềm ẩn vô cùng lớn Nhiều quốc gia đãnhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, coiđây là thách thức mới, mối đe dọa mới có tầm quan trọng vànguy hiểm cao nên đã cụ thể hóa thành các văn bản chínhsách, văn bản pháp luật như luật hoặc văn bản dưới luật tại hơn

80 quốc gia, tổ chức, liên minh quốc tế như Mỹ, Anh, Đức, HàLan, Pháp, Canada, Hàn Quốc, NATO nhằm tạo ra các thiếtchế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninhquốc gia từ không gian mạng; thành lập các lực lượng chuyêntrách về an ninh mạng, tình báo mạng, chiến tranh mạng,phòng chống khủng bố mạng và tội phạm mạng Chỉ trong vòng

06 năm trở lại đây, đã có 23 quốc gia trên thế giới ban hànhtrên 40 văn bản luật về an ninh mạng

Ở nước ta, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ công nghệ thôngtin trong các lĩnh vực của đời sống đã góp phần to lớn đẩynhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng y tế, giáodục, phát huy sức sáng tạo và quyền làm chủ của nhân dân, giữvững an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại,hạn chế về an ninh mạng cần khắc phục như:

(1) Tiềm lực quốc gia về an ninh mạng của nước ta chưa

đủ mạnh, chưa huy động, khai thác được sức mạnh tổng hợp đểđối phó với các mối đe dọa trên không gian mạng

(2) Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng

dụng công nghệ thông tin đang bị các thế lực thù địch, phảnđộng sử dụng để thực hiện âm mưu tiến hành “cách mạngmàu”, “cách mạng đường phố”, “diễn biến hòa bình” nhằm xóa

bỏ chế độ chính trị ở nước ta Tình trạng đăng tải thông tin sai

sự thật, làm nhục, vu khống tổ chức, cá nhân tràn lan trênkhông gian mạng nhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu,dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc về nhân mạng, tinh thần, thậmchí ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự antoàn xã hội

(3) Ngày càng xuất hiện nhiều cuộc tấn công mạng với

quy mô lớn, cường độ cao, gia tăng về tính chất nghiêm trọng,mức độ nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật

tự an toàn xã hội Khủng bố mạng nổi lên như một thách thức

đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia Hoạt động phạm tội

Trang 3

trên không gian mạng ngày càng gia tăng về số vụ, thủ đoạntinh vi gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến tưtưởng, văn hóa, xã hội.

(4) Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

chưa được xác định và bảo vệ bằng các biện pháp tương xứng

Do chưa xác định nội hàm sự cố an ninh mạng nên khi xảy racác sự cố nguy hại, ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninhquốc gia, trật tự an toàn xã hội, việc triển khai hoạt động ứngphó, xử lý, khắc phục hậu quả của cơ quan chức năng có liênquan rất lúng túng, chưa có quy trình thống nhất, cơ quan cótrách nhiệm bảo vệ an ninh mạng chưa thể chủ động triển khaicác biện pháp, phương án phù hợp

(5) Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước qua không gian mạng

rất đáng lo ngại, nhiều văn bản thuộc bí mật nhà nước bị đăngtải trên không gian mạng Một trong những nguyên nhân quantrọng dẫn tới tình trạng trên là do nhận thức của các cơ quan,doanh nghiệp và cá nhân về bảo vệ bí mật nhà nước trên khônggian mạng còn hạn chế, ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ,nhân viên trong bảo mật thông tin trên không gian mạng cònchưa cao, chế tài xử phạt chưa đủ răn đe

(6) Sự phụ thuộc vào thiết bị công nghệ thông tin có

nguồn gốc từ nước ngoài Không gian mạng đang ứng dụng sâurộng vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tuy nhiên, sự phụthuộc vào trang thiết bị công nghệ thông tin xuất xứ từ nướcngoài là mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh mạng nếu xảy raxung đột Để tránh bị tin tặc tấn công, thu thập thông tin, hoạtđộng tình báo, một số sản phẩm, dịch vụ mạng cần đáp ứng cáctiêu chuẩn, quy chuẩn nhất định, nhất là khi các sản phẩm, dịch

vụ này được sử dụng trong hệ thống thông tin quan trọng và anninh quốc gia, địa điểm cơ yếu, bảo mật, chứa đựng bí mật nhànước

(7) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh

mạng chưa được xây dựng, các văn bản hiện hành chưa đápứng được yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sửdụng không gian mạng vi phạm pháp luật

Theo quan điểm của cá nhân, tôi nhìn nhận vấn đề `Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng côngnghệ thông tin đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng

để thực hiện âm mưu tiến hành “cách mạng màu”, “cách mạng

Trang 4

đường phố”, “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ chính trị

ở nước ta Tình trạng đăng tải thông tin sai sự thật, làm nhục,

vu khống tổ chức, cá nhân tràn lan trên không gian mạngnhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, dẫn tới nhiều hậuquả đáng tiếc về nhân mạng, tinh thần, thậm chí ảnh hưởng tớichủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội` làcần thiết nhất vì: theo như báo cáo của Bộ trưởng Bộ Công an

về công tác phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2019 thì các lựclượng đã phát hiện 287 vụ, 437 đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật trong lĩnhvực viễn thông, tin học; khởi tố 127 vụ, 258 bị can Thủ đoạn mà các đốitượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua cáctrang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội nhưFacebook, youtube vv để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừabịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảomật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến chothành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảngchính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quyđịnh pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta viphạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự Ngoài ra, các đốitượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoànkết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai,môi trường để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểutình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạtđộng này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhennhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập Tại các địa bànchiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chínhsách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩadân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyêntruyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưngvua”

Một số hình ảnh hoạt động của các thế lực chống phá nhànước do bản thân thu thập thông qua các trang mạng xã hội:

Trang 5

Hình 1 Facebooker Lê Minh Thể bị xử 2 năm tù.

Hình 2 Tổ chức phản động “Việt Tân” được thành lập trên

trang mạng Facebook

Trang 6

Hình 3 Hoạt động của đảng “Việt Tân” trên Youtube.

Câu 3: Điều 2 Luật An ninh mạng quy định: “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Đồng chí hãy phân tích khái niệm trên để chứng minh sự phù hợp với tình hình thực tế hiện nay?

Trả lời:

a Đảm bảo hoạt động trên không gian mạng không gây phương hạt đến

an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội:

An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủnghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạmđộc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ an ninh quốc gia,

xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật như:

- Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: bao gồm sử dụngkhông gian mạng tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôikéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Ví dụ như thông tin kích động lôi kéo tụ tập đông người, gây rối an ninhtrật tự, chống người thi hành công vu, cản trở hoạt động của cơ quan tô chức,gây mất ổn định về an ninh trật tự

- Các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoạikhối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới,phân biệt chủng tộc Các hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội như sử dụngkhông gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải

Trang 7

thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạođức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạmtội.

b Quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân:

Bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấutranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội

- Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật Anninh mạng đã dành 01 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện phápphòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử

lý hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: phòng ngừa, xử lý thông tin trên khônggian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng;làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệpmạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trênkhông gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, côngnghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự;phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chốngchiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng;đấu tranh bảo vệ an ninh mạng Đây là hành lang pháp lý vững chắc để ngườidân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng

- Luật An ninh mạng quy định các hành vi bị cấm để mọi người biết các hoạtđộng nào được pháp luật bảo hộ, hoạt động nào bị cấm để người sử dụng mạngkhông mắc vào vi phạm Các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Mọi người đều phải chịu trách nhiệm trướccác hành động, phát ngôn trên không gian mạng của mình nếu hành động, phátngôn đó xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác Vìvậy, muốn được pháp luật bảo vệ thì phải hiểu về luật và chấp hành đúng cácquy định trong đạo luật Ngoài ra, Luật An ninh mạng khuyến khích trao đổithông tin và các quyền hợp pháp trên không gian mạng Đạo luật này giúp bảo

vệ cá nhân, tổ chức, người tiêu dùng, bảo vệ các doanh nghiệp, chống lại cáccuộc tấn công mạng, chống lại việc lợi dụng mạng để tuyên truyền, nói xấu, gâynhiễu và các hoạt động khủng bố trên mạng

Ví dụ: Một hệ thống Ngân hàng, nếu không có Luật An ninh mạng để bảo

vệ thì các hacker dễ dàng tấn công phá sập hệ thống mạng điện tử ngân hàng lấy thông tin của khách hàng và sử dụng vào các mục địch phi pháp như đe dọa, tống tiền, bán thông tin vv Hay đối với một doanh nghiệp cũng như vậy, với trình độ của các hacker hiện này thì sẽ rất dễ tấn công ăn trộm dữ liệu và gây tổn hại đến các hợp đồng điện tử của công ty, giả chữ ký của lãnh đạo…Vì vậy , Luật An ninh mạng sẽ bảo đảm an ninh an toàn cho các giao dịch trên mạng

Trang 8

cho doanh nghiệp, người dân đồng thời cũng tránh được các hoạt động gây nhiễu, thậm chí là ngăn ngừa các bài viết nói xấu, bôi nhọ, xuyên tạc một doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên mạng theo kiểu vu không Ví dụ như hàng đang tốt bảo xấu, đưa các bài viết không đúng sự thật lên để gây nhiễu, lôi kéo đám đông phản ứng Thậm chí là tung các tin chứng khoán đổ vỡ, doanh nghiệp lừa đảo… rất nguy hiểm Luật An ninh mạng cho phép xử lý các tình huống đó.

Câu 4: Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là gì? Tại sao phải xây dựng, ban hành quy định bảo vệ an ninh đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia? Nội dung bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được thể hiện như thế nào? So sánh sự giống và khác nhau giữa “ Hệ thống thông tin quan trọng quốc gia” được quy định trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và “Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia” trong Luật an ninh mạng năm 2018?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Luật An ninh mạng

2018 (Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019) thì khái niệm hệthống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được quy định

cụ thể như sau: Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốcgia là hệ thống thông tin khi bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyềnđiều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn cônghoặc phá hoại sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh mạng

Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia baogồm: Hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu;

Hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhànước; Hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tàiliệu có giá trị đặc biệt quan trọng; Hệ thống thông tin phục vụbảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người,môi trường sinh thái; Hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chếtạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quanđến an ninh quốc gia; Hệ thống thông tin quan trọng phục vụhoạt động của cơ quan, tổ chức ở trung ương; Hệ thống thôngtin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng,viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóachất, y tế, văn hóa, báo chí; Hệ thống điều khiển và giám sát tựđộng tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia,mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia

Việc phải xây dựng, ban hành quy định bảo vệ an ninh đốivới hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là vì: khi

Trang 9

Hệ thống thông tin bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển,làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn công hoặc pháhoại sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh mạng

Nội dung bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninhquốc gia được thể hiện như sau:

Cùng với việc quy định cụ thể về hệ thống thông tin quan trọng về anninh quốc gia, Chương II của Luật An mạng còn quy định rõ những biện phápnhằm thực hiện bảo vệ an ninh mạng đối với các hệ thống thông tin này, baogồm: Thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninhquốc gia (Điều 11); Đánh giá điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tinquan trọng về an ninh quốc gia (Điều 12); Kiểm tra an ninh mạng đối với hệthống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 13); Giám sát an ninhmạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 14); vàỨng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng

về an ninh quốc gia (Điều 15)

Trong đó, thẩm định an ninh mạng là hoạt động xem xét,đánh giá những nội dung về an ninh mạng để làm cơ sở choviệc quyết định xây dựng hoặc nâng cấp hệ thống thông tin.Thẩm quyền thẩm định an ninh mạng được quy định tại khoản 4Điều 11 của Luật An ninh mạng: Lực lượng chuyên trách bảo vệ

an ninh mạng thuộc Bộ Công an thẩm định an ninh mạng đốivới hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừtrường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này; Lực lượngchuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng thẩmđịnh an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự; Ban Cơyếu Chính phủ thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thôngtin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ

Đánh giá điều kiện về an ninh mạng, theo quy định tạiĐiều 12 Luật An ninh mạng, là hoạt động xem xét sự đáp ứng

về an ninh mạng đối với hệ thống thông tin trước khi đưa vàovận hành, sử dụng Cũng theo điều luật này, hệ thống thông tinquan trọng về an ninh quốc gia phải đáp ứng các điều kiện về:Quy định, quy trình và phương án bảo đảm an ninh mạng; nhân

sự vận hành, quản trị hệ thống; Bảo đảm an ninh mạng đối vớicác trang thiết bị, phần cứng, phần mềm là thành phần hệthống; Biện pháp kỹ thuật để giám sát, bảo vệ an ninh mạng;biện pháp bảo vệ hệ thống điều khiển và giám sát tự động,Internet vạn vật, hệ thống phức hợp thực - ảo, điện toán đámmây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống dữ liệu nhanh, hệ thống trí

Trang 10

tuệ nhân tạo; Biện pháp bảo đảm an ninh vật lý bao gồm cách

ly cô lập đặc biệt, chống rò rỉ dữ liệu, chống thu tin, kiểm soát

ra vào

Thẩm quyền đánh giá điều kiện an ninh mạng cũng đượcquy định cụ thể, theo đó: Lực lượng chuyên trách bảo vệ anninh mạng thuộc Bộ Công an đánh giá, chứng nhận đủ điều kiện

an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninhquốc gia, trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoảnnày; Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc BộQuốc phòng đánh giá, chứng nhận đủ điều kiện an ninh mạngđối với hệ thống thông tin quân sự; Ban Cơ yếu Chính phủ đánhgiá, chứng nhận đủ điều kiện an ninh mạng đối với hệ thốngthông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ Hệ thống thôngtin quan trọng về an ninh quốc gia được đưa vào vận hành, sửdụng sau khi được chứng nhận đủ điều kiện an ninh mạng.Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều 12 Luật An ninh mạng

Đối với việc kiểm tra an ninh mạng với hệ thống thông tinquan trọng về an ninh quốc gia, Điều 13 Luật An ninh mạng chohay, kiểm tra an ninh mạng được thực hiện trong trường hợp:

- Khi đưa phương tiện điện tử, dịch vụ an toàn thông tin mạng vào sửdụng trong hệ thống thông tin;

- Khi có thay đổi hiện trạng hệ thống thông tin;

- Kiểm tra định kỳ hằng năm; Kiểm tra đột xuất khi xảy ra sự cố an ninhmạng, hành vi xâm phạm an ninh mạng;

- Khi có yêu cầu quản lý nhà nước về an ninh mạng; hết thời hạn khắcphục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật theo khuyến cáo của lực lượng chuyên tráchbảo vệ an ninh mạng

Chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốcgia có trách nhiệm tiến hành kiểm tra an ninh mạng đối với hệthống thông tin do mình quản lý trong trường hợp quy định tạicác điểm a, b và c khoản 2 Điều này, thông báo kết quả bằngvăn bản cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc

Bộ Công an hoặc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạngthuộc Bộ Quốc phòng đối với hệ thống thông tin quân sự trướctháng 10 hằng năm

Về kiểm tra an ninh mạng đột xuất, Điều 13 Luật An ninhmạng quy định, trước thời điểm tiến hành kiểm tra, lực lượngchuyên trách bảo vệ an ninh mạng có trách nhiệm thông báo

Trang 11

bằng văn bản cho chủ quản hệ thống thông tin ít nhất 12 giờtrong trường hợp xảy ra sự cố an ninh mạng, hành vi xâm phạm

an ninh mạng và ít nhất 72 giờ trong trường hợp có yêu cầuquản lý nhà nước về an ninh mạng hoặc hết thời hạn khắc phụcđiểm yếu, lỗ hổng bảo mật theo khuyến cáo của lực lượngchuyên trách bảo vệ an ninh mạng

Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc kiểm tra, lựclượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thông báo kết quảkiểm tra và đưa ra yêu cầu đối với chủ quản hệ thống thông tintrong trường hợp phát hiện điểm yếu, lỗ hổng bảo mật; hướngdẫn hoặc tham gia khắc phục khi có đề nghị của chủ quản hệthống thông tin;

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc BộCông an kiểm tra an ninh mạng đột xuất đối với hệ thống thôngtin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ hệ thống thông tin quân

sự do Bộ Quốc phòng quản lý, hệ thống thông tin cơ yếu thuộcBan Cơ yếu Chính phủ và sản phẩm mật mã do Ban Cơ yếuChính phủ cung cấp để bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc BộQuốc phòng kiểm tra an ninh mạng đột xuất đối với hệ thốngthông tin quân sự Ban Cơ yếu Chính phủ kiểm tra an ninh mạngđột xuất đối với hệ thống thông tin cơ yếu do Ban Cơ yếu Chínhphủ quản lý và sản phẩm mật mã do Ban Cơ yếu Chính phủcung cấp để bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước

Điều luật này cũng quy định, chủ quản hệ thống thông tinquan trọng về an ninh quốc gia có trách nhiệm phối hợp với lựclượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng tiến hành kiểm tra anninh mạng đột xuất; kết quả kiểm tra an ninh mạng được bảomật theo quy định của pháp luật

Điều 43 của Luật An ninh mạng quy định, hệ thống thôngtin đang vận hành, sử dụng được đưa vào Danh mục hệ thốngthông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trong thời hạn 12tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực (ngày 1/1/2019), chủquản hệ thống thông tin bổ sung đủ điều kiện an ninh mạng, lựclượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng đánh giá điều kiện anninh mạng theo quy định tại Điều 12 Luật này; trường hợp cầngia hạn do Thủ tướng Chính phủ quyết định nhưng không quá

12 tháng

Trang 12

Hệ thống thông tin đang vận hành, sử dụng được bổ sungDanh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia,trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được bổ sung, chủ quản hệthống thông tin bổ sung đủ điều kiện an ninh mạng, lực lượngchuyên trách bảo vệ an ninh mạng đánh giá điều kiện an ninhmạng theo quy định tại Điều 12 Luật này; trường hợp cần giahạn do Thủ tướng Chính phủ quyết định nhưng không quá 12tháng.

So sánh sự giống và khác nhau giữa “ Hệ thống thông tinquan trọng quốc gia” được quy định trong Luật An toàn thôngtin mạng năm 2015 và “Hệ thống thông tin quan trọng về anninh quốc gia” trong Luật an ninh mạng năm 2018:

- Theo Điều 26 Luật An toàn thông tin năm 2015 thì Hệthống thông tin quan trọng quốc giá là hệ thống thông tin màkhi bị phá hoại sẽ làm tổn hại đặc biệt nghiêm trọng tới quốcphòng, an ninh quốc gia

- Theo Điều 10 của Luật An ninh mạng quy định, hệ thốngthông tin quan trọng về an ninh quốc gia là hệ thống thông tinkhi bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch,gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ xâmphạm nghiêm trọng an ninh mạng Ngoài ra, Luật an ninh mạngcòn quy định cụ thể Hệ thống thông tin quan trọng quốc gia baogồm những thành phần hệ thống thành phần khác nào như:

+ Hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu;

+ Hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; hệthống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệtquan trọng;

+ Hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểmđối với con người, môi trường sinh thái;

+ Hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chấtđặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia;

+ Hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức ởtrung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính,ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên môi trường, hóa chất, y tế,văn hóa, báo chí;

+ Hệ thống điều khiển và giám sát tự động tại công trình quan trọng liênquan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia

Trang 13

Câu 5: Theo đồng chí, Luật An ninh mạng quy định về việc bảo vệ quyền con người như thế nào?

Trả lời:

Sau khi thực hiện nhiều hoạt động nhằm gây sức ép, nhưng vẫn khôngngăn được việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, các thế lực thù địch vàmột số tổ chức, cá nhân có ý đồ đen tối tiếp tục các hành vi chống phá, nhất làkhi Chính phủ công bố lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định thi hành Luật An ninhmạng Các đối tượng trên càng hoạt động ráo riết hơn với rất nhiều thủ đoạn,hòng tạo làn sóng phản đối, cản trở việc thực thi và đòi xóa bỏ Luật này Chúngtán phát trên mạng xã hội, cho rằng: Luật An ninh mạng “đặc biệt xâm phạmkhông gian riêng tư”, “vi phạm tự do ngôn luận, báo chí, internet”, “vi phạmquyền con người” Nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây và nhiều trangweb có máy chủ đặt ở nước ngoài cố tình xuyên tạc, cản trở việc thực thi Luật

An ninh mạng của Việt Nam Ở Hoa Kỳ, 17 nghị sĩ cực đoan đã viết thư choGoogle và Facebook đề nghị nên rời bỏ Việt Nam; Hội đồng châu Âu, trong mộtnghị quyết về Việt Nam cũng có những phản ứng tiêu cực về Luật An ninhmạng, v.v Có thể nói, chưa bao giờ các thế lực thù địch lại có kế hoạch bài bản,chi tiết, nhằm xuyên tạc, loại bỏ bộ luật nào như đối với Luật An ninh mạng

Thực tiễn minh chứng, từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay

là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, quyền con người, quyền và lợiích của công dân đã được bảo đảm cả về mặt pháp lý và trên thực tế Các quyền

đó đã được ghi nhận, bảo đảm nhất quán, xuyên suốt trong các bản Hiến phápnăm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương(Chương II) để quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân”; các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã đượcquy định đầy đủ, tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người củaLiên hợp quốc mà Việt Nam tham gia Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, từnăm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, ban hành nhiều luật, bộ luậtnhằm tạo cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức nói chung vàđảm bảo quyền con người nói riêng1 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quantrọng, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực, an sinh xã hội được bảo đảm và ngàycàng được nâng lên Đây chính là cơ sở quan trọng để quyền con người, nhất lànhững quyền cơ bản, được đảm bảo trên thực tế ngày một tốt hơn Ở Việt Nam,quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân chỉ hạn chế các hành

vi gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và xâm phạm cácquyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học công nghệ và hội nhập quốc

tế, ngày 01-12-1997, Việt Nam đã hòa mạng internet toàn cầu Hiện nay, Việt

Trang 14

Nam đang là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet và các mạng

xã hội đứng đầu khu vực Ở nước ta, nền tảng kỹ thuật - thông tin dựa trêninternet, mạng xã hội, các website, nhất là: Facebook, Messenger, Zalo,YouTube (clip, có âm thanh, hình ảnh, phụ đề),… và các mạng lưu trữ, tra cứu,trao đổi thông tin, như: Yahoo.com; Google.com,… được bảo đảm đầy đủ vàđồng bộ Điều này không chỉ phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội mà cònbảo đảm cho người dân được hưởng thụ đầy đủ hơn các quyền con người, quyềncông dân; trong đó, có quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do sử dụng internet,mạng xã hội

Tuy nhiên, sự ra đời của internet, mạng xã hội đã đặt ra những thách thứcmới Nhân loại phải đối diện với một hệ thống thông tin phức tạp, như: tìnhtrạng thông tin khó kiểm chứng, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại về đạođức, lối sống, xâm hại về tinh thần đối với con người, v.v Về phương diệnchính trị, đối với các nhà nước, internet, mạng xã hội là vũ khí mới, lợi hại màcác lực lượng thù địch có thể sử dụng trong chiến lược chống phá, lật đổ chế độ,xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích của công dân Ở Việt Nam, các thếlực thù địch đã và đang tận dụng internet, mạng xã hội làm phương tiện chủ yếutrong việc tuyên truyền, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước ta Chúng đã sửdụng hacker (tin tặc) tấn công mạng, gây ra những tổn hại về kinh tế, xã hội;điển hình là vụ tin tặc tấn công hàng loạt website sân bay trong nước (tháng 3-2017), khiến cho nhiều chuyến bay bị gián đoạn, hủy bỏ, gây thiệt hại lớn vềkinh tế

Đối với quyền con người, quyền và lợi ích công dân, internet, mạng xãhội là một công cụ mà kẻ xấu có thể sử dụng để tán phát thông tin thất thiệt vìnhững mục tiêu xấu độc, đê hèn, như: lừa đảo chiếm đoạt tài sản; khủng bố tinhthần, đe dọa đưa lên mạng những thông tin đời tư,… khiến cuộc sống nhiều giađình bị xáo trộn, thậm chí đã có nhiều người phải tìm đến cái chết Cách đâykhông lâu (ngày 10 và 11-6-2018), các thế lực thù địch trong và ngoài nước đãcâu kết với nhau, lợi dụng internet, mạng xã hội kích động biểu tình, gây rối ởmột số tỉnh, khi Quốc hội thảo luận Dự thảo Luật Đặc khu, thông qua Luật Anninh mạng là một ví dụ Vì vậy, Việt Nam cần có Luật An ninh mạng, nhằm xáclập cơ sở pháp lý, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ chế

độ, Nhà nước, các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Cơ sở chính trị, pháp lý quốc tế của Luật An ninh mạng là quyền dân tộc

tự quyết, quyền này được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945

và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam đãgia nhập năm 1982) Nhắc lại quyền dân tộc tự quyết để thấy, Luật An ninhmạng hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người, khônglàm tổn hại đến lợi ích quốc gia; là cơ sở pháp lý để bảo vệ lợi ích quốc gia

Ngày đăng: 30/10/2019, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w