1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sức sống mãnh liệt của lục bát

19 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sức sống mãnh liệt của lục bát
Tác giả Chu Văn Sơn
Trường học xuanduc.vn
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất.. Gắn với tiếng Việt, gắn với

Trang 1

Sức sống mãnh liệt của lục bát:

Tác giả: Chu Văn Sơn

xuanduc.vn : Báo toquoc.vn vừa tổ chức cuộc bình chọn 99 bài thơ lục bát tiêu biểu của thế

kỉ Đây là một hình thức tôn vinh thi ca dân tộc rất đọc đáo và thú vị Đã có 29 bài được giới thiệu trong đêm Hội Lục bát

Xin giới thiệu bài viết như là một đề dẫn văn chương của nhà thơ Chu Văn Sơn và 29 bài thơ lục bát được chọn

Sức sống mãnh liệt của lục bát

Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là cây tre Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen Nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài Nếu chọn nhạc khí Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu Cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu, hẳn đó phải là Lục bát Người Âu Tây tự hào về thể Sonnê, người Trung Quốc tự hào về thơ Đường luật, người Nhật Bản tự hào về thơ Haiku , thì người Việt Nam có quyền tự hào về thể Lục bát Lục bát là niềm kiêu hãnh của thơ Việt Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất

Có thể nói, người Việt sống trong bầu thi quyển lục bát Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền chủ yếu bằng lục bát Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho lớp lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm sự, kí thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc

về bản sắc dân tộc này

***

Lục bát có tự bao giờ? Người ta đã cố gắng tìm câu trả lời Nhưng mọi trả lời đến nay vẫn chỉ là giả thuyết Bởi cách sinh tồn của lục bát xa xưa là sống trong trí nhớ, sống qua đường truyền miệng của bao thế hệ người Việt, ít khi nằm im lìm trên trang giấy, nên tìm kiếm văn bản lục bát đầu tiên, kể cả dạng manh nha, dạng tiền thân của thể loại, để xác định niên đại của nó là việc thiên nan vạn nan Tuy nhiên, cội nguồn bao giờ cũng là mối băn khoăn khôn cầm của nhân gian Cội nguồn của lục bát cũng thế Nó vẫn luôn là một bí mật đầy hấp dẫn, luôn mời gọi những cuộc khám phá đầy phiêu lưu của các nhà thi học, đặc biệt là "lục bát học" Chắc chắn sẽ còn nhiều cuộc lội ngược về ngọn nguồn của tiếng Việt, lội ngược về cái vùng được xem là tiền sử của văn học và thơ ca Việt để mà khảo sát, tìm kiếm, lục lọi, để truy tìm bằng được khởi thuỷ của thể loại này Mà cuộc tìm kiếm như thế, lắm khi, cũng oái oăm như cái

điều mà một câu lục bát đã nói đến: Đem vàng đi đổ sông Ngô / Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông

Tương Khởi thuỷ sớm hay muộn còn chưa có gì thật chắc, nhưng một điều có thể đoan chắc:

lục bát là đứa con cưng của tiếng Việt, tiếng Việt đã nuôi lớn lục bát, đồng thời, chính lục bát cũng góp mình làm cho tiếng Việt hay hơn, đẹp hơn *** Chỉ có hai câu, mười bốn

Trang 2

tiếng, mà một cặp lục bát tiềm tàng những khả năng biểu hiện vô tận Nó luôn dư sức trần

thuật: Đêm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen (Ca dao), Này chồng

này mẹ này cha / Này là em ruột này là em dâu (Nguyễn Du), Đang trưa ăn mày vào chùa / Sư

ra cho một lá bùa rồi đi / Lá bùa chẳng biết làm gì / Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày (Đồng Đức

Bốn) Nó vô cùng dồi dào năng lực trữ tình: Ai ơi bưng bát cơm đầy / Dẻo thơm một hạt đắng

cay muôn phần (Ca dao), Nghe đi rời rạc trong hồn /Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi (Huy

Cận), Rồi lên ta uống với nhau / Rót đau lòng ấy vào đau lòng này (Trần Huyền Trân), Ngày

qua ngày lại qua ngày / Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng (Nguyễn Bính), Mái gianh ơi hỡi mái gianh / Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương (Trần Đăng Khoa) Nó dôi dả năng lực

triết luận: Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau, Có tài mà cậy

chi tài / Chữ tài liền với chữ tai một vần (Nguyễn Du), Xin chào nhau giữa con đường / Mùa xuân phía trước miên trường phía sau, Hỏi tên rằng biển xanh dâu / Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa (Bùi Giáng), Mẹ ru cái lẽ ở đời / Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn,Ta đi trọn kiếp con người / Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru, Có gì lạ quá đi thôi / Khi gần thì mất xa xôi lại còn (Nguyễn Duy) Nó đáp ứng mọi yêu cầu trào tiếu: Một rằng thương hai rằng thương /

Có bốn chân giường gãy một còn ba (Ca dao), Anh đi công tác Plây / Ku dài dằng dặc biết ngày nào ra (Ca dao mới), Thương đùng đùng nhớ đùng đùng / Yêu nhau quẫy nát một vùng chiếu chăn (Võ Thanh An),Ối giời ơi nõn nà chưa / Bột trinh bạch đấy giời vừa rây xong, Ễnh ềnh ệch hõn hòn hon thùi lùi (Nguyễn Duy) Chỉ có hai câu, 14 tiếng, với áp lực lớn về tính chẵn của

tiết tấu, mà nhịp lục bát vẫn biến hoá vô chừng Nó có thể dàn đều nhịp: Năm năm tháng

tháng ngày ngày / Lần lần lữa lữa rày rày mai mai (Ca dao), Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều / Chày đêm nện cối đều đều suối xa (Tố Hữu) Nó có thể co kéo những trùng điệp, tạo nên nhịp

dích dắc: Còn tình yêu của đôi ta / Đến đây là đến đây là là thôi (Nguyễn Bính) Nó có thể đăng đối nhịp: Người lên ngựa kẻ chia bào, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Nguyễn Du),Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương (Á Nam Trần Tuấn Khải) Nó có thể đảo nhịp: Cái

gì như thể nhớ mong /Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng (Nguyễn Bính),Thác, bao nhiêu thác cũng qua / Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời (Tố Hữu), Em đi để lại chuỗi cười/ Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê (Phạm Công Trứ), Được lúa, lúa đã gặt bông / Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa (Đoàn Thị Lam Luyến) Nó có thể tràn nhịp: Làng ta lại lóp ngóp làng /Lòng ta lại ếch nhái hoang cả lòng (Nguyễn Duy), Con xin ngắn lại đường gần / Một lần rồi mẹ hãy dần dần đi (Trúc Thông) Nó có thể vắt hàng: Trời cao xanh ngắt Ô kìa /Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai (Thế Lữ) Chỉ có 14 tiếng, với hai câu chật chội, mà lục bát vẫn

có cách dùng chữ với những chùm đôi, chùm ba, thậm chí, vẫn gói ghém được cả những chùm

bốn cồng kềnh, khiến lời thơ uyển chuyển co giãn phóng túng đến lạ lùng: Nắng thoai thoải

nắng chiều lưng lửng chiều (Nguyễn Bính),Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham (Nguyễn Du),Ở đây có những người con / Mang theo cái nõn nòn non lên ngàn, Ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma / Hóa ra ta gặp bóng ta trên tường (Nguyễn Duy) Chỉ có 14 tiếng, với đắp đổi bằng trắc khắt

khe, dễ sa vào đơn điệu, thế mà trên thực tế, lục bát vẫn có những cách dàn xếp bằng trắc vần

vèo thú vị và hấp dẫn: Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh (Nguyễn Du), Ngã ba ngã bảy

về đâu / Cái ngáng làm cớ cho nhau chuyện trò (Hữu Thỉnh), Đến đây gió cũng đi vòng / ngoằn theo khoeo núi ngoèo trong khuỷu rừng (Nguyễn Duy) Thường, mỗi cặp lục bát là một khúc

thức chỉ tải vừa một giọng, ví như giọng ngợi ca: Nhớ Ông cụ mắt sáng ngời / Áo nâu túi vải

đẹp tươi lạ thường (Tố Hữu) Nhưng, cũng trong phạm vi chật hẹp của một khúc thức thế thôi,

Trang 3

mà lục bát vẫn có thể chuyển làn qua hai giọng mau lẹ, tạo hiệu ứng trào phúng kì thú: Bác

Thành có chiếc quần nâu / Bác rất giản dị bạ đâu cũng ngồi, Hoan hô đồng chí Hà Đăng / Ấn vào tàu chạy băng băng như rùa (ca dao mới) Và, khi cần thiết, lục bát vẫn có thể xé cả

mình ra, đảo vần, ngắt hàng, biến thể, phá thể, thậm chí, tăng vọt số chữ, thế mà vẫn cứ là

lục bát: Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo / Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng

qua" (ca dao) Tiềm năng hình thức của lục bát là vô cùng Làm sao có thể khai thác hết !

*** Từ xưa đến nay, lục bát vẫn sóng bước hai phong cách: dân gian và cổ điển Không thể nói đằng nào hơn đằng nào kém Đó là hai vẻ đẹp lục bát Cả hai song hành, chuyển hoá và

bổ sung cho nhau Về tổ chức lời thơ, lục bát cổ điển theo điệu ngâm (coi trọng tính uyên súc của ý, cú pháp của văn viết, chất liệu ngôn từ nghiêng hẳn về thực từ), còn lục bát dân gian theo điệu nói (coi trọng việc biểu hiện xúc cảm trực tiếp, cú pháp của văn nói, ngôn từ với phổ rộng gồm thực từ và thoả mái hư từ, thậm chí, hết sức ưa dùng khẩu ngữ) Cùng viết về một cảnh tương tự nhau, cùng bộc lộ những cung bậc cảm xúc gần gũi nhau, nhưng cặp lục bát

này: Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa là điệu ngâm - thật uyên súc bởi được nén chặt toàn những thực từ, còn cặp này: Anh đi đó, anh về đâu ? /

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm rõ ràng là điệu nói - cứ như buột miệng nói chơi

chơi, lỏng là lỏng lẻo, thế mà đâu có chịu nhường phần súc tích cho ai! Mỗi cặp là một vẻ đẹp riêng, không thể nào đánh đổi, mỗi cặp là con đẻ của một phong cách lục bát đó Nếu thành tựu nổi bật nhất của lục bát dân gian là ca dao, thì lục bát cổ điển được viết bởi những cây bút

bác học và kết tinh chói ngời là Truyện Kiều của Nguyễn Du Những giai đoạn sau, trong bước

phát triển nào của thơ, người ta cũng luôn thấy sóng đôi hai phong cách này Ví như đầu thời Thơ mới, là cặp Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải, đằng nghiêng về cổ điển, đằng nghiêng về dân gian Giữa thời Thơ mới là cặp Nguyễn Bính - đượm chất dân gian và Huy Cận - đậm màu

cổ điển Đến thời sau này thì hai phong cách ấy thường hoà vào nhau, mà chất dân gian thường trội hơn, đồng hoá cả chất cổ điển Nổi lên nhiều cây bút sáng giá: Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Trần Đăng Khoa, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ Cứ thế, qua các thời, lục bát luôn như một dòng sông, mà các dòng chảy của nó cứ sóng sánh và quyện hoà để làm giàu cho nhau, làm nên cái diện mạo bền bỉ mà luôn mới mẻ của lục bát *** Trong thời buổi hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, dường như đang có hai thái độ trái ngược đối với lục bát Lắm kẻ thờ ơ, hoài nghi khả năng của lục bát Họ thành kiến rằng lục bát là thể thơ quá gò bó

về vần luật, về thanh luật, về tiết tấu; nó đơn điệu, nó bằng phẳng, quê mùa Họ vội cho rằng lục bát chỉ biểu hiện được những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thống Còn tâm sự đầy những suy cảm tinh vi phức tạp của người hiện đại thì lục bát khó chuyển tải Họ lầm tưởng rằng lục bát sẽ khó theo kịp nhịp biến hoá đầy bấn loạn của tư duy thơ hiện đại Thậm chí, có người còn coi lục bát như một rào cản đối với những lối tư duy nghệ thuật tân kì Và, họ từ chối lục bát để một mực chạy theo những thể khác Thực ra, mọi vẻ đẹp cùng bíến thái mơ hồ nhất của thiên nhiên, mọi biến động phức tạp khôn lường của đời sống, mọi tầng sống sâu xa huyền diệu nhất của tinh thần cá thể, mọi khuynh hướng tư duy nghệ thuật, dù truyền thống hay tối tân, đều không xa lạ với lục bát Vấn đề là người viết có đủ tài để làm chủ được lục bát hay không Vì thế mà có xu hướng ngược lại, nhiều người đã nhận thấy ở lục bát những ưu thế không thể thơ nào có được Họ đã tìm về lục bát Họ ý thức rõ, từ xưa đến nay, lục bát luôn là thể thơ đầy thách thức Sự gò bó có thể là một khó khăn bất khả vượt đối với ai đó, nhưng lại

là một thách thức đầy hấp dẫn đối với những tài năng thơ thiết tha với tiếng Việt, thiết tha với

Trang 4

điệu tâm hồn Việt Họ nâng niu, chăm chút Họ làm mới, họ cách tân, để gửi gắm tấc lòng của con người hôm nay vào thể thơ hương hoả của cha ông Họ dùng lục bát như một phương tiện tâm tình gần gũi, để nói những gì sâu sắc nhất của tâm tư Trong thực tế, lục bát với người này

là sở trường, với người kia là sở đoản Nhưng, về thái độ, thì sẽ là không quá lời khi bảo rằng: trân trọng lục bát cũng là một thước đo về văn hoá thơ với một người thơ Việt Nhờ những tấm lòng và tài năng ấy mà thế kỉ XX vẫn chứng kiến một cuộc chạy tiếp sức hào hứng không biết đến mệt mỏi của lục bát Đọc thơ lục bát thế kỉ qua, có thể thấy rõ rệt, càng về sau, dáng điệu lục bát càng trẻ trung, hơi thở lục bát càng hiện đại hơn so với hồi đầu Điều đó là bằng chứng khẳng định lục bát vẫn trường tồn, lục bát vẫn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên con đường hiện đại Chừng nào tre còn xanh, sen còn ngát, chừng nào tà áo dài còn tha thướt, tiếng đàn bầu còn ngân nga, chừng ấy những điệu lục bát vẫn tiếp tục sinh sôi trên xứ sở này Lục bát mãi mãi là một tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt Chừng nào thế giới còn chưa thấu tỏ vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy họ chưa thực sự hiểu vẻ đẹp của thơ Việt Và, chừng nào

ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn

chưa thực sự làm tròn sứ mạng của mình Văn Chỉ, Thu Mậu Tý CVS

Chân quê Nguyễn Bính

Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

Nào đâu cái yếm lụa sồi?

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

Nào đâu cái áo tứ thân?

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Nói ra sợ mất lòng em

Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều (1936)

* * *

Vào chùa

Đồng Đức Bốn

Đang trưa ăn mày vào chùa

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Lá bùa chẳng biết làm gì

Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày

Trang 5

* * *

Một mai

Hoàng Nhuận Cầm

Một mai chết thật âm thầm

Mấy cành cỏ dại khẽ trầm ngâm ru Một mai chết hết hận thù

Mắt chầm chậm khép, tay từ từ xuôi Một mai chết thật buồn cười

Tóc tôi buông xuống như người ngủ mơ Một mai chết thật tình cờ

Thuốc trên tay khói vẫn dờ dật bay Một mai chết thật hao gầy

Xanh xao quần áo tháng ngày thủy tinh Một mai chết hết tội tình

Một mình mình hát, một mình mình nghe Một mai đi chẳng trở về

Rượu buồn đổ đắng vỉa hè buồn thiu

Một mai chết thật đìu hiu

Má lằng lặng tái, môi dìu dịu say

Một mai ngủ lá phủ đầy

Miền tâm tư vỡ tháng ngày thật xa Một mai nằm xuống bao la

Buồn ơi, chào nhé! Khóc òa vầng trăng

Một mai chết thật ăn năn

Tôi nằm xuống đất không cần thở than!

* * *

Buồn đêm mưa

Huy Cận

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi

Trang 6

Rơi rơi dìu dịu rơi rơi

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ

Tương tư hướng lạc phương mờ

Trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe

Gió về, lòng rộng không che

Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư

* * *

Chồng chị, chồng em

Đoàn Thị Lam Luyến

Xưa thì chị Nay thì em

Phải duyên chồng vợ, nối thêm cho dài Ngỡ ngàng nặng cả đôi vai

Những cao như núi, những dài như sông Được lúa, lúa đã gặt bông

Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa

Mặn mà cũng khác ngày xưa

Bâng khuâng như chửa bao giờ bén duyên

Gần được ấm, xa được êm

Dẫm vào ruộng hoá, vụt nên mùa màng Cái giần vục phải cái sàng

Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau

Lá bùa từ thuở Mỵ Châu

Lá bài Trọng Thuỷ còn đau đến giờ!

Tình yêu một mất, nghìn ngờ

Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau

Cái phận trước, cái duyên sau

Nào ai tính được dài lâu với trời ?

Khi vui, muốn có một người

Khi buồn muốn cả đất trời sẻ chung

Đã từ hai mảnh tay không

Kể chi mẹ ghẻ, con chung, chồng người?

Dở dang suốt nửa cuộc đời

Bỗng dưng mọc một mặt trời trong nhau! Chị thản nhiên mối tình đầu

Thản nhiên em nhận bã trầu về têm

Trang 7

Hà Nội 10-13.01.1990

* * *

Mẹ ra Hà Nội

Lê Đình Cánh

Mẹ ra Hà Nội thăm con

Vừa trên tàu xuống chân còn run run

Áo nâu còn thẫm mưa phùn

Còn hoai vị cỏ sực bùn lúa non

Sang đường tay níu áo con

Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều

Khoác vai mẹ, chiếc đẫy nghèo

Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay: Đưa em trốn ngục những ngày

Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao

Đã từng mở giữa trời sao

Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo

Củ khoai bẻ nửa nắng chiều

Bờ mương thoai thoải dài theo công trường Đưa con đánh Mĩ lên đường

Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà

Bà ra bế cháu của bà

Những mong cùng ước lòng già hôm mai Lên thang chẳng dám bước dài

Vào khu tập thể gặp ai cũng chào!

Lời ru bà thuộc thủa nào

Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa

Để hồn cháu có núi Nưa

Tiếng cồng Bà Triệu năm xưa vọng về Lam Sơn rừng núi ba bề

Lũng Nhai vang mãi lời thề nước non Trải bao sông cạn đá mòn

Còn con còn cháu thì còn cha ông

Để hồn cháu có dòng sông

Câu hò trên ngã Ba Bông sum vầ

Sào tre đêm gõ nhịp gầy

Ba khoang đò dọc chở đầy ước mong Mới xa đã nhớ ruộng đồng

Thương con mà chẳng đành lòng

Run run mẹ bước lên tàu

Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà

Trang 8

* * *

Cát đợi

Nguyễn Việt Chiến

Cát chiều bay sẫm bến sông

Thương con đò ngược mùa đông chưa về Lối mòn bạc cỏ may đê

Chiều mòn rỗng tiếng chim gì kêu đau Sóng đêm tự bến sông nào

Theo trăng về thức dưới màu mây xưa Tôi hoang vu, cát hoang vu

Trăng là người khách qua đò đêm nay

Cô đơn xuống một đò đầy

Tôi chờ em phía bên này mùa đông

Cát còn bay trắng bến sông

Người còn đi trắng mùa mong ước này Tôi cầm hạt cát trên tay

Đêm không còn ấm như ngày có em Tôi cầm cả chính tôi lên

Câu thơ nhặt được phía miền quạnh hiu Câu thơ như cát mỗi chiều

Đem theo chút ấm nắng nghèo vào đêm

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Nguyễn Duy

Bần thần hương huệ thơm đêm

Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn Chân nhang lấm láp tro tàn

Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào

Nón mê thay nón quai thao đội đầu

Rối ren tay bí tay bầu

Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa Cái cò sung chát đào chua

Câu ca mẹ hát gió đưa về trời

Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu

Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm Bao giờ cho tới tháng năm

Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

Trang 9

Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

Bờ ao đom đóm chập chờn

Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời

Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

Bà ru mẹ Mẹ ru con

Liệu mai sau các con còn nhớ chăng Nhìn về quê mẹ xa xăm

Lòng ta-chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

* * *

Thề non nước

Tản Đà

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non

Nhớ lời nguyện nước thề non,

Nước đi chưa lại, non còn đứng không Non cao những ngóng cùng trông,

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Xương mai một nắm hao gầy,

Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương Trời Tây ngả bóng tà dương

Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha Non cao tuổi vẫn chưa già,

Non thời nhớ nước, nước mà quên non!

Dù cho sông cạn đá mòn,

Còn non còn nước hãy còn thề xưa! -Non cao đã biết hay chưa:

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

Nước non hội ngộ còn luôn,

Bảo cho non chớ có buồn làm chi!

Nước kia dù hãy còn đi,

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước không nguôi lời thề

(1920)

* * *

Trang 10

Ví dầu

Phạm Đức

Ví dầu ngọn lửa hắt hiu

Thì anh nhen nhúm, lựa chiều gió mưa

Thì anh đóm mỏng, củi khô

Thì anh gượng nhẹ đợi chờ lửa lan

Ví dầu ngọn lửa lụi tàn

Thì anh gom góp chút than cuối cùng

Thì anh chiu chắt đốm hồng

Tìm trang viết, nhóm bập bùng say mê

Ví dầu than lụi, trời khuya

Nhạt thênh tro bụi, não nề nhân duyên

Thì anh nhặt giữa lãng quên

Những than đen của lửa thiêng năm nào

Ví dầu thế nảo, thế nào

Vẫn tin còn lửa rì rào trong than

* * *

Mắt buồn

Bùi Giáng

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi (Nguyễn Du)

Bóng mây trời cũ hao mòn

Chiêm bao náo động riêng còn hai tay

Tấm thân với mảnh hình hài

Tấm thân thể với canh dài bão giông

Cá khe nước cõng lên đồng

Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng

Tạ từ tháng chạp quay nghiêng

Âm trang sử lịch thu triền miên trôi

Bỏ trăng gió lại cho đời

Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa

Bỏ người yêu bỏ bóng ma

Bỏ hính hài của tiên nga trên trời

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

* * *

Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần

Trần Mạnh Hảo

Ngày đăng: 13/09/2013, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w