Như vậy: Triết học ngay từ đầu nó đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,Triết học được xem
Trang 1Bài 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
I ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
1 Khái niệm và nguồn gốc của triết học
a Khái niệm triết học
- Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ VI tr.CN, vớinhững thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ và HyLạp Đối với sự phát triển tư tưởng triết học ở Tây Âu, kể cả đối với triết học Mác,
triết học cổ Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn Ph.Ăngghen đã nhận xét: “Từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”.
- “Triết học”
+ Thuật ngữ “triết học” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, “PhiloSophia” =
“Yêu mến sự thông thái” Philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnhđến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
+ Theo người Trung Quốc: Thuật ngữ triết học có gốc là chữ “triết”, gồm 3
bộ phận hợp thành: Thủ - Cân - Khẩu (bàn tay người cầm búa phanh phui sự thật),dựa theo từ nguyên chữ Hán có nghĩa là “trí”, chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu sắccủa con người về thế giới và về đạo lý làm người Cốt cách con người phươngđông vươn tới Chân - Thiện - Mỹ
+ Theo người Ấn Độ: Triết học được gọi là Darshara, có nghĩa là Chiêmngưỡng, nhưng với hàm ý là sự hiểu biết dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm đểdẫn dắt con người đến lẽ phải
Như vậy: Triết học ngay từ đầu nó đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng
nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức; nhà triết học là nhà thông thái cókhả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật
Ngày nay, theo quan điểm mácxít, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.
b Đặc trưng cơ bản của triết học
- Triết học là một hình thái ý thức xã hội
Hình thái ý thức triết học có vai trò, nội dung khác với những hình thái ýthức xã hội khác
- Triết học là những quan niệm chung nhất về thế giới
Những môn khoa học cụ thể chỉ là những quan niệm về từng mặt nhất định củathế giới Còn những quan niệm triết học là những quan niệm chung nhất về thế giới hợpthành một hệ thống lý luận phản ánh một cách tương đối toàn vẹn về thế giới
- Triết học mang tính giai cấp sâu sắc
Triết học hình thành cùng với sự xuất hiện các giai cấp cho nên triết họcluôn mang tính giai cấp Nó là công cụ tinh thần của một giai cấp nhất định vàthường là của giai cấp thống trị
c Nguồn gốc của triết học
Triết học có 2 nguồn gốc: Nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội
Trang 2- Nguồn gốc xã hội: Đó là sự phát triển của sản xuất dẫn tới sự phân cônglao động xã hội, có sự tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay
Đây là điều kiện xã hội quan trọng để các “Nhà triết học" - Những người laođộng trí óc có thể khái quát sự hiểu biết của mình thành những trí thức chung vềthế giới
- Nguốn gốc nhận thức: Đó là lúc tư duy con người đã đạt đến trình độ trừu tượnghoá, khái quát hoá, hệ thống hoá nhất định để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận
2 Đối tượng nghiên cứu của Triết học Mác - Lênin
- Triết học trong thời kỳ cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng củamình mà được coi là “khoa học của các khoa học”, bao gồm toàn bộ tri thức củanhân loại
- Trong suốt “Đêm dài trung cổ” của Châu Âu, triết học phát triển một cáchkhó khăn trong môi trường hết sức chật hẹp, nó không còn là một khoa học độc lập
mà chỉ là một bộ phận của thần học; nền triết học tự nhiên thời cổ đại đã bị thaythế bởi triết học kinh viện
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ thứ XV, XVI đã tạo một cơ
sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học Để đáp ứng yêu cầu của thựctiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyênngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa họcđộc lập
Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thựcnghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm vàtôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII ởAnh, Pháp, Hà Lan với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh),Điđơrô (Pháp), Xpinôza (Hà Lan)… V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao củacác nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch
sử triết học trước Mác Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong cáchọc thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc củatriết học cổ điển Đức
Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bướclàm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của các khoa học”.Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó
Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế
kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm
“Khoa học của các khoa học”, triết học Mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình
là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt
để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
* Note: Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới,
về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó.
Cấu trúc của thế giới quan bao gồm: tri thức và niềm tin
Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trựctiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của conngười, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức
Trong quá trình hình thành và phát triển có thể chia TGQ thành ba loại hình
cơ bản sau:
Trang 3Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của ngườinguyên thuỷ Ở thời kỳ này các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tìn ngưỡng,hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, thần và người thường hoà quyện vàonhau thể hiện quan niệm về thế giới.
Thế giới quan tôn giáo: Đó là những niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu;tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội hơn cái người
Thế giới quan khoa học, mà triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận: Lànhững quan niệm của con người được diễn tả dưới dạng hệ thống các phạm trù,quy luật Nó đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới
3 Vấn đề cơ bản của triết học Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
a Vấn đề cơ bản của triết học
- Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề cóliên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuấtphát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học
- Theo Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Lútvích Phơbách và sự cáo chung của
triết học Đức” viết: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
+ Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay ý thức với vật chất được gọi làvấn đề cơ bản của triết học bởi vì:
* Đây là vấn đề nảy sinh cùng với sự ra đời của triết học và tồn tại trong tất
cả các trường phái triết học cho đến tận ngày nay
* Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là tiêu chuẩn để xác định lập trườngthế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ
+ Vấn đề cơ bản của triết học chỉ có một vấn đề cơ bản và hai mặt của nó
* Một vấn đề: Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại
* Hai mặt:
Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước,
cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới
hay không?
Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành cáctrường phái triết học và các học thuyết về nhận thức của triết học
b Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Việc giải quyết mặt thứ nhất về vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhàtriết học thành hai trường phái lớn:
- Trường phái duy vật: Là những người cho rằng vật chất có trước, ý thức cósau, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức hợpthành trường phái triết học duy vật, còn gọi là chủ nghĩa duy vật
Các hình thái:
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác: trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vậtchất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và những kết luận của nómang nặng tính trực quan nên ngây thơ, chất phác Tuy còn rất nhiều hạn chế,nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới
tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên, không viện đến thần linh hay thượng đế
Trang 4+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình: là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩaduy vật, chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy, siêu hình máy móc.
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng: là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩaduy vật do Mác - Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đóđược Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết trước đó và sửdụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biệnchứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vậtchất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình, thể hiện là đỉnh cao trong sựphát triển của chủ nghĩa duy vật
- Trường phái duy tâm: Là những người cho rằng ý thức có trước, vật chất
có sau, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức quyết định vật chấthợp thành trường phái triết học duy tâm, còn gọi là chủ nghĩa duy tâm
Xuất hiện ngay từ thời cổ đại, chủ nghĩa duy tâm có hai trào lưu chính:
+ CNDT chủ quan: Họ thừa nhận tính thứ nhất của ý thức Trong khi phủnhận sự tồn tại của khách quan, của hiện thực, CNDTCQ khẳng định mọi sự vật,hiện tượng chỉ là “phức hợp của cảm giác”
+ CNDT khách quan: Theo họ tính thứ nhất là tinh thần, song đó là tinh thầnkhách quan có trước và tồn tại độc lập với con người Tinh thần khách quan cónhững tên gọi như: “ý niệm”, “tinh thần tuyệt đối”, “ý niệm tuyệt đối”, “lý tính thếgiới”,
+ Ngoài hai trường phái DV và DT còn có một số nhà triết học lại đem đồngnhất vật chất và ý thức, hoặc cho rằng vật chất và ý thức tồn tại hoàn toàn độc lập vớinhau Họ điều hoà CNDV và CNDT song thực chất bản chất của nó là CNDT
Một hệ thống triết học mang tính triệt để khi nó đứng hẳn trên lập trườngcủa một trong hai phái chính của triết học CNDV hoặc CNDT Đó là tính đảng củatriết học
c Thuyết không thể biết
Việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học: “Con người cókhả năng nhận thức được thế giới hay không?”
- Các nhà triết học duy vật cho rằng: Con người có khả năng nhận thức đượcthế giới Song do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thếgiới vật chất vào óc người
- Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhậnthức thế giới song sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy
- Một số nhà duy tâm khác như Hium, Cantơ lại phủ nhận khả năng nhậnthức thế giới của con người Đây là những người theo thuyết “Bất khả tri” được gọi
là “thuyết không thể biết”
Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thếnào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không
Theo I.Kant, thừa nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “Vật tự nó”, nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận
thức những hiện tượng của nó mà thôi
Tóm lại: Khuynh hướng này không thừa nhận vai trò của nhận thức khoa học
trong đời sống xã hội, cho rằng con người không thể hiểu được đối tượng hoặc có hiểu
Trang 5chăng nữa thì chỉ là hình thức bề ngoài, vì tính xác thực về đối tượng chỉ là những hìnhảnh của giác quan, cảm giác bề ngoài không bảo đảm tính chân thực.
4 Phương pháp nghiên cứu Triết học Mác – Lênin
Quá trình học tập, nghiên cứu những Triết học Mác - Lênin cần thực hiệnđược một số yêu cầu cơ bản sau đây:
- Những luận điểm của Triết học Mác-Lênin được thể hiện trong những bốicảnh khác nhau, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể khác nhau nên hình thức thểhiện tư tưởng cũng khác nhau; chính vì vậy, học tập, nghiên cứu Triết học Mác-Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; chống xu hướng kinh viện,giáo điều
- Sự hình thành, phát triển những luận điểm của Triết học Mác - Lênin làmột quá trình Trong quá trình ấy, những luận điểm của Triết học Mác - Lênin cóliên quan mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau; vì vậy, học tập, nghiêncứu mỗi luận điểm của Triết học Mác - Lênin phải đặt chúng trong mối liên hệvới các luận điểm khác, ở các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhấttrong tính đa dạng và nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủnghĩa Mác - Lênin nói chung
- Học tập, nghiên cứu Triết học Mác - Lênin để hiểu rõ cơ sở lý luận quantrọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản ViệtNam, nền tảng tư tưởng của Đảng; vì vậy, phải gắn những luận điểm của Triết họcMac - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mac - Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sảnViệt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử
- Học tập, nghiên cứu Triết học Mác - Lênin để đáp ứng những yêu cầucủa con người Việt Nam trong giai đoạn mới; vì vậy, quá trình học tập, nghiêncứu đồng thời cũng là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện đểtừng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sốngcộng đồng xã hội
- Triết học Mác - Lênin không phải là hệ thống lý luận khép kín nhấtthành bất biến, mà trái lại đó là một hệ thống lý luận không ngừng phát triểntrên cơ sở phát triển của thực tiễn thời đại; vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứuđồng thời cũng phải là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm để góp phần pháttriển tính khoa học và tính nhân văn vốn có của nó; mặt khác việc học tập,nghiên cứu Triết học Mác - Lênin cũng cần phải đặt nó trong lịch sử phát triển
tư tưởng nhân loại bởi nó là sự kế thừa và phát triển những tinh hoa của lịch sử
đó trong những điều kiện lịch sử mới
Những yêu cầu trên thống nhất hữu cơ với nhau, giúp cho quá trình họctập, nghiên cứu không chỉ kế thừa được tinh hoa của chủ nghĩa Mác-Lênin màquan trọng hơn, nó giúp người học tập, nghiên cứu vận dụng được tinh hoa ấytrong các hoạt động nhận thức và thực tiễn
Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
- Phương pháp siêu hình là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi cácchỉnh thể và giữa các mặt đối nhau có một ranh giới tuyệt đối
Trang 6+ Nhận thức đối tượng ở trạnh thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là
sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ngay ở bên ngoài đốitượng, không thấy sự vận động
Theo Ph.Ăngghen phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấynhững sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy,chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà khộng nhìn thấy sự phát sinh và tiêuvong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quênmất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”
- Phương pháp biện chứng là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ ràng buộc, tác động qua lại,chuyển hoá lẫn nhau
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động, biến đổi, nằm trong khuynhhướng chung là phát triển
+ Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại, thể hiện
tư duy linh hoạt, mềm dẻo Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thànhcông cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
- Các giai đoạn phát triển của phương pháp biện chứng
Phương pháp biện chứng ra đời trong triết học cổ đại đến nay đã trải qua bahình thức cơ bản:
+ Phép biện chứng tự phát thời cổ đại
Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấycác sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những sợi dây liên hệ
vô cùng tận Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng thấy được chỉ là trực kiến,chưa phải là kết quả nghiên cứu và thực nghiệm khoa học
+ Phép biện chứng duy tâm
Đỉnh cao được thể hiện trong triết học cổ điển Đức Theo họ, biện chứng ở đâybắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, giới hiện thực chỉ là sự sao chép “ý niệm”nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là “Biện chứng duy tâm”
+ Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học, do Mác - Ăngghenxây dựng, sau đó được Lênin phát triển Phép biện chứng duy vật với tính cách làhọc thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất
II VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng của triết
học Đó là chức năng thế giới quan và phương pháp luận.
- Chức năng thế giới quan:
+ Thế giới quan đúng đắn là nhân tố định hướng cho quá trình con ngườinhận thức thế giới và cải tạo thế giới
+ Thế giới quan giúp con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựachọn cách thức hoạt động cho mình để đạt mục đích và ý nghĩa đó
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác định nhân sinh quan tích cực vàtrình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành củamỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định
- Chức năng phương pháp luận:
Trang 7+ Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống các quan điểmchỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp
+ Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ:
* Phương pháp luận ngành: Là phương pháp luận của một ngành khoa học
Như vậy: Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thếgiới và vai trò của con người trong thế giới đó; Triết học thực hiện chức năngphương pháp luận chung nhất
2 Vai trò của triết học Mác - Lênin
- Triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiêncũng như đời sống xã hội và tư duy con người
- Triết học Mác - Lênin không những được hình thành phát triển trên cơ sởtổng kết nhận thức từ các khoa học cụ thể, mà nó còn cung cấp phương pháp luậnphổ biến thúc đẩy các khoa học cụ thể phát triển đúng hướng và đạt được nhữngthành quả cao nhất
+ Trong tình hình hiện nay, đòi hỏi con người phải có thế giới quan khoa họcvững chắc và năng lực tư duy sáng tạo Trong đó, triết học Mác - Lênin là cơ sởquan trọng để xây dựng TGQ khoa học và bồi dưỡng năng lực tư duy
Trang 8Bài 2 VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
I VẬT CHẤT
1 Phạm trù vật chất
a Quan điểm phi Mác xít
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500
năm Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranhkhông khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đồng thời,cũng giống những phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát triển gắn liềnvới thực tiễn và nhận thức của con người
- Quan điểm CNDT: Họ cho rằng thế giới vật chất là bản nguyên của tinhthần nào đó, có thể là do “ ý niệm tuyệt đối”, “ ý chí của thượng đế”, hay do nhữngcảm giác của con người
+ CNDTKQ: vật chất là do “ ý niệm tuyệt đối”, “ý chí của thượng đế”
Ví dụ: Platôn cho rằng vật chất bắt nguồn từ ý niệm, sự vật cảm tính là cáibóng của ý niệm; Hêghen cho rằng vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra, thế giớivật chất chẳng qua là sự tha hoá của “ý niệm tuyệt đối”
+ CNDTCQ: cho rằng sự tồn tại của thế giới là do cảm giác của con người
Ví dụ: Béccơli cho rằng mọi sự vật chỉ tồn tại trong chừng mực con ngườicảm thấy chúng, cái gì ngoài tri giác con người là không tồn tại
- Quan điểm của CNDV trước Mác: Họ khẳng định, thực thể của thế giới làvật chất, cái tồn tại một cách vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng vớinhững thuộc tính của chúng, biểu hiện:
+ Thời kỳ cổ đại: Đồng nhất thể giới vật chất nói chung với những dạng cụthể của nó
* Ở Trung Hoa cổ đại: coi khí là thực thể của vật chất
* Ở Ấn Độ cổ đại: coi nguyên tử là thực thể của thế giới
* Ở Hy Lạp cổ đại: Talét coi thực thể của thế giới là nước, Anaximen làkhông khí; Hêraclít là lửa; Ămpeđốclơ cho cả 4 yếu tố đất, nước, lửa, không khí
Đỉnh cao của quan điểm duy vật thời cổ đại là thuyết nguyên tử luận củaLơxíp và Đêmôcrít (đây là phỏng đoán thiên tài về cấu tạo vật chất và có ý nghĩađịnh hướng với lịch sử phát triển khoa học)
+ Thời kỳ Phục hưng thế kỷ 15 -16: Nhờ KHTN, khoa học thực nghiệm pháttriển Quan điểm thế giới vật chất có bước phát triển
* Côpécních chứng minh mặt trời là trung tâm của vũ trụ làm đảo lộn truyềnthuyết của kinh thánh và quan điểm thần học về thế giới
* Bêcơn coi thế giới là vật chất tồn tại khách quan, vật chất là tổng hợp cáchạt tự nhiên là tổng hợp những vật thể, có chất lượng muôn màu, muôn vẻ Coi vậnđộng là thuộc tính không tách rời khỏi vật chất
* Đêcáctơ: vũ trụ là vật chất, vũ trụ là vô tận Vật chất là bao gồm những hạtnhỏ có thể phân chia đến vô tận, các hạt vật chất làm vận động thường xuyên thayđổi vị trí trong không gian
Tuy nhiên do các ngành khoa học phát triển còn thấp nên các nhà triết họcrơi vào quan điểm siêu hình máy móc, mọi phân biệt vật chất giữa các vật thể đều
Trang 9bị quy giản về sự phân biệt về lượng, mọi sự vận động quy về sự dịch chuyển vị trítrong không gian Mọi hiện tượng bị quy về cái đơn giản mà từ đó chúng được tạothành Và niềm tin vào chân lý trong cơ học khiến các nhà khoa học đồng nhất vậtchất với khối lượng.
- Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20: có nhiều phát minh lớn trong khoa học tựnhiên
+ 1895 Rơnghen phát hiện tia X (sóng điện từ bước sóng 0.01-100.10-8 cm)+ 1896 Béccơren phát hiện hiện tượng phóng xạ
+ 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử
+ 1901 Kauphơman chứng minh được khối lượng của điện tử không phải làkhối lượng tĩnh mà là khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử
Đây là bước tiến mới của loài người trong nhận thức và làm chủ thiên nhiên,
nó bác bỏ quan niệm siêu hình về vật chất Những quan niệm về giới hạn cuối cùng
về vật chất là nguyên tử, điện tử hoặc vật chất là khối lượng đã sụp đổ trước khoahọc Lúc đó trong nhận thức các hạt điện tích và trường điện từ coi đó là cái gì đóphi vật chất và chủ nghĩa duy tâm cho rằng “vật chất” của CNDV đã biến mất, nềntảng của chủ nghĩa duy vật đã biến mất
b Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin
Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã bác bỏquan điểm của các nhà duy vật về những chất được coi là “giới hạn tột cùng”, từ đódẫn tới cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý học.Những người theo chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất
“phi vật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối vớiquá trình sáng tạo ra thế giới
Trong bối cảnh lịch sử đó, V.I.Lênin đã tiến hành tổng kết những thành tựukhoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấutranh chống chủ nghĩa duy tâm, khẳng định bản chất vật chất của thế giới và đưa rađịnh nghĩa kinh điển về vật chất:
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Theo định nghĩa của Lênin về vật chất:
- Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là chỉ những thuộc tính, nhữngmối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn,
vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, những hiện tượng lànhững dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển,chuyển hóa Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểuhiện cụ thể của vật chất
- Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan tức là
thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người,cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó
- Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảmgiác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của conngười; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cáiđược ý thức phản ánh
Trang 10Định nghĩa của Lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triểncủa chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
- Bằng việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tínhkhách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phụcđược hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn
cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lýluận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạnchế duy tâm trong quan niệm về lịch sử của chủ nghĩa duy vật trước Mác
- Khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lại cho conngười trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lai, phảnánh”, Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của
ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhậnthức được thực tại khách quan
2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
Theo quan niệm của Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vịtrí trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”,vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vậtchất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụthể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chấtluôn gắn liền với vật chất
Ăngghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản: vận động cơhọc, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội
Các hình thức vận động nói trên được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến caotương ứng với trình độ kết cấu của vật chất Các hình thức vận động khác nhau vềchất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, trongđó: hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp vàbao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn
Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một số quan hệ
nhất định chứ không xảy ra với tất cả mọi quan hệ; đứng im, cân bằng chỉ xảy ratrong một hình thức vận động chứ không phải xảy ra với tất cả các hình thức vận
động Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà chỉ
tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ xét trong một hay một số quan hệ nhấtđịnh, ngay trong sự đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định
- Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảngtính nhất định và tồn tại trong những mối tương quan nhất định với những dạng vật
chất khác Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian mặt khác, sự
tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp
và chuyển hóa,…Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian.
Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên khônggian, thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vật chất, đó là
tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn.
Trang 11II Ý THỨC
Ý thức là một phạm trù triết học dùng để chỉ một hình thức phản ánh thếgiới khách quan của dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất là não người, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
1 Nguồn gốc của ý thức
Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: được thể hiện qua sự hình thành của bộ óccon người Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người,
là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc cànghoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của conngười càng phong phú và sâu sắc Điều này lý giải tại sao quá trình tiến hóa của loàingười cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đờisống tinh thần của con người bị rối loạn khi sinh lý thần kinh của con người khôngbình thường do bị tổn thương bộ óc
- Nguồn gốc xã hội của ý thức: là lao động và ngôn ngữ; hai yếu tố này vừa
là nguồn gốc, vừa là tiền đề của sự ra đời ý thức
+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự
nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Đâycũng là qúa trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân,giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não
Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làmcho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những qui luậtvận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thểquan sát được
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung
ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện
Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối quan hệ giữa các thành viêntrong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt Nhu cầu nàylàm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữcon người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thựctiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác
2 Bản chất và kết cấu của ý thức
- Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Trang 12+ Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả
năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thôngtin, chọn lọc, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có
nó có thể tạo ra những thông tin mới Tính chất năng động, sáng tạo của sự phảnánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những giả tưởng, giảthuyết, huyền thoại,
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức là
hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan qui định cả vềnội dung, cả về hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giớikhách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người
+ Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồn
tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của cácqui luật sinh học mà chủ yếu là của các qui luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội
và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội qui định Với tính năng động, ýthức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội
- Kết cấu của ý thức
Ý thức bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất là: tri thức, tình cảm và ý chí, trong
đó tri thức là nhân tố quan trọng nhất
+ Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình
nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loạingôn ngữ
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành nhiều loại như trithức về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức nhân văn Căn cứ vào trình độ pháttriển của nhận thức, có thể chia thành tri thức đời thường và tri thức khoa học, trithức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri thức cảm tính và tri thức lý tính,…
+ Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ con người trong các quan
hệ Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của con người; làmột yếu tố phát huy sức mạnh, một động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thựctiễn
Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đốitượng đó trong các quan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau, nhưtình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo,…
+ Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở
trong quá trình thực hiện mục đích của con người Có thể coi ý chí là quyền lựccủa con người đối với mình; nó điều khiển, điều chỉnh hành vi để con người hướngđến mục đích một cách tự giác; nó cho phép con người tự kìm chế, tự làm chủ bảnthân và quyết đoán trong hành động theo quan điểm và niềm tin của mình
III MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau;vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánhđối với vật chất
+ Vật chất quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức
Vật chất là cái vốn có, tồn tại khách quan độc lập với ý thức và là nguồn gốc
sinh ra ý thức Nhờ quá trình vận động tiến hóa trong thế giới vật chất đã sinh ra bộ
Trang 13não người- cơ quan vật chất của ý thức Não người là 1 dạng vật chất có kết cấuđặc biệt, là cơ quan phản ánh để hình thành nên ý thức, ý thức tồn tại phụ thuộcvào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức
Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người, làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Do vậy, nội dung của vật chất như thếnào thì ý thức phản ánh như thế
+ Vật chất quyết định sự vận động biến đổi của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, do đó khi thế giới vật chất luôn vậnđộng và biến đổi thì ý thức cũng vận động và biến đổi theo
2 Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất
+ Bản chất sự phản ánh của ý thức mang tính sáng tạo tích cực Nó có thể
tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, cải tạo biếnđổi hiện thực khách quan
+ Chiều hướng tác động: ý thức có thể tác động trở lại vật chất theo 2 chiều
hướng Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạtđộng thực tiễn của con người trong cải tạo thế giới và ngược lại, ý thức sẽ kìm hãmhoạt động cải tạo của con người
+ Mức độ tác động của ý thức: Phụ thuộc vào trình độ, nội dung ý thức mà
chủ thể phản ánh về thế giới vật chất, mức độ thâm nhập của ý thức vào lực lượngvật chất và việc ý thức chỉ đạo hoạt động thực tiễn
+ Vai trò sáng tạo, tích cực của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới hiện thực, phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa vào sự phản ánh
thế giới vật chất và các điều kiện vật chất khách quan
4 Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất – ýthức, đồng thời là cơ sở khoa học để đấu tranh phê phán các quan điểm duy tâm sailầm phản khoa học
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tôn trọng khách quan, xuấtphát từ thực tế khách quan không được chủ quan nôn nóng, duy ý chí, đồng thờiphải phát huy nỗ lực chủ quan, không chông chờ ỷ lại
- ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người, vì vậy phải thấy được vai trò tích cực của nhân
tố ý thức trong việc sử dụng có hiệu quả các điều kiện vật chất hiện có Phải pháthuy tính năng động chủ quan của ý thức con người
- Tránh tuyệt đối hóa vai trò duy nhất của vật chất trong quan hệ giữa vậtchất và ý thức (chống chủ nghĩa khách quan, thái độ trông chờ, thụ động…); chốngtuyệt đối hóa vai trò của ý thức, đánh giá không đúng vai trò của các điều kiện vậtchất trong hoạt động thực tiễn…
- Là cơ sở khoa học để giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan
Trang 14Bài 3 HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Một số hình thức phép biện chứng trong lịch sử
Phép biện chứng ra đời ngay từ khi triết học ra đời, đến nay đã trải qua 3hình thức cơ bản
a Phép biện chứng tự phát, sơ khai
- Hình thức đầu tiên của Phép biện chứng được hình thành trong triết học
Ấn Độ, Hy Lạp và Trung Quốc cổ đại
- Đó là Phép biện chứng dựa trên sự cảm thụ trực tiếp TGVC xung quanh.Những kết luận mà nó rút ra mới chỉ là những tư tưởng mộc mạc, thô sơ, rời rạc,chưa trở thành hệ thống lý luận và cũng chưa có cơ sở khoa học
+ Hêraclit (được Mác coi là ông tổ của Phép biện chứng ) cho rằng: Tất cảmọi vật trên thế giới luôn vận động biến đổi “ Chúng ta không thể tắm hai lần trêncùng một dòng sông, vì nước sông không ngừng chảy” Theo ông, SV là thốngnhất các mặt đối lập, các mặt đói lập đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốccủa sự vận động, phát triển
+ Thuyết Âm - Dương trong triết học TQ cổ đại cho rằng: Âm và Dương thốngnhất trong Thái cực, thể hiện nguyên lý về sự thống nhất của các mặt đói lập Sự tácđộng qua lại giữa Âm và Dương làm cho mọi SVHT vận động, biến đổi
+ Thuyết Ngũ hành: vạn vật được cấu trúc từ 5 yếu tố Kim Mộc Thủy Hỏa - Thổ Ngũ hành “tương sinh, tương khắc”
-Tóm lại: tuy là Phép biện chứng mộc mạc, thô sơ nhưng Phép biện chứng
tự phát thời cổ đại đã có những cống hiến hết sức quý báu cho lịch sử Phép biệnchứng nhân loại
b Phép biện chứng duy tâm
Phép biện chứng DT ra đời vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Tiêu biểu
là quan điểm triết học của Hêghen (nhà triết học cổ điển Đức)
- Hêghen đã khái quát Phép biện chứng thành một hệ thống các nguyên lý,các cặp phạm trù, các quy luật cơ bản
- Hệ thống lý luận đó là Phép biện chứng DT vì sự vận động và phát triểntheo Hêghen giải thích không phải là sự vận động, phát triển của bản thân cácSVHT, mà chỉ là những nấc thang phát triển khác nhau của “Ý niệm tuyệt đối”.Phép biện chứng Hêghen là Phép biện chứng “lộn ngược”, bởi vì ông cho rằngbiện chứng của “Ý niệm tuyệt đối” quy định biện chứng khách quan
C.Mác nhận xét: “Ở Hêghen, phép biện chứng đi ngược đầu xuống đất; chỉ cầnđảo xuôi lại lên thì sẽ phát hiện ra cái nhân hợp ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”
Trang 15khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, thực tiễn lịch sử xã hội,khắc phục những hạn chế trong lý luận nhận thức, C.Mác và Ph.Ăngghen sáng tạo raPhép biện chứng DV, sau này Lênin kế thừa và phát triển.
Quan điểm biện chứng duy vật là quan điểm khoa học, là đỉnh cao của quanđiểm biện chứng nói chung, khác về cơ bản so với quan điểm biện chứng duy tâm
Nó cho rằng biện chứng là biện chứng của TGKQ, TGVC Biện chứng của tựnhiên của tồn tại quyết định biện chứng của tinh thần, ý thức
2 Nội dung phép biện chứng duy vật
a Khái niệm phép biện chứng duy vật
- Định nghĩa: Phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
Ph.Ăngghen: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” (C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, tập 20, tr.201).
- Đặc trưng của Phép biện chứng duy vật:
+ Phép biện chứng DV là sự thống nhất giữa TGQDV và phương pháp BC
Nó đã khắc phục được những hạn chế của Phép biện chứng tự phát, sơ khai thời
cổ đại và những thiếu sót của Phép biện chứng DT thời Cận đại
+ Phép biện chứng DV là sự thống nhất giữa biện chứng khách quan và biệnchứng chủ quan
* Biện chứng khách quan: là phạm trù dùng để chỉ biện chứng của bản thâncác SV- HT, là quá trình tồn tại độc lập ở bên ngoài ý thức con người
* Biện chứng chủ quan: là phạm trù dùng để chỉ tư duy biện chứng và biệnchứng của quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc của con người, là
“hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
Ph.Ăngghen viết: “biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộgiới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng thì chỉ phảnánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên”
* Mối quan hệ giữa BCKQ và BCCQ
BCKQ của bản thân đối tượng là cái được phản ánh, quyết định là đốitượng ngiên cứu của BCCQ
BCCQ chỉ là cái phản ánh, cái bị quy ủũnh bởi BCK Tuy nhiên BCCQ cótính độc lập tương đối so với BCKQ ở chỗ:
Cái phản ánh và cái được phản ánh không trùng khít nhau hoàn toàn (Quátrình tư duy nhận thức có những quy luật riêng của nó)
+ Đối tượng nghiên cứu của Phép biện chứng DV là những quy luật chungnhất, những MLH phổ biến nhất của TGVC Còn đối tượng nghiên cứu của cáckhoa học cụ thể là nghiên cứu các quy luật đặc thù
+ Phép biện chứng DV nghiên cứu sự vận động, phát triển của thế giới rút racác quy luật chung nhất và hệ thống PPL trong nhận thức và cải tạo thế giới
+ Tính chất của Phép biện chứng DV: tính hệ thống, tính hoàn bị và tính chấtmở
* Mang tính hệ thống: Các yếu tố của phép biện chứng được sắp xếp mộtcách lôgíc chặt chẽ, có hệ thống
Trang 16* Mang tính hoàn bị: Có sự thống nhất giữa tính khoa học với tính đảng,giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng và nó trở thành môn khoa học duynhất vừa là thế giới quan, vừa là phương pháp luận, vừa là lý luận vừa có tính thựctiễn Nó là Phép biện chứng triệt để duy vật cả trong TN, XH và TD.
* Có tính chất mở: Phép biện chứng duy vật luôn luôn vận động và pháttriển không ngừng Nó không phải là những khẳng định giáo điều, trừu tượng màluôn gắn liền với thực tiễn Được bổ sung thường xuyên cùng với sự phát triển củathực tiễn Do vậy phép biện chứng duy vật vừa có tính cách mạng, vừa có tính tựgiác cao Nó là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản nó luôn gắn liền với quá trìnhđấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, nó đòi hỏi phải được bổ sung đáp ứngyêu cầu đấu tranh
b Nội dung của phép biện chứng duy vật
- Phép biện chứng DV được xây dựng trên cơ sở một hệ thống các kháiniệm, phạm trù cơ bản, các quy luật phổ biến và những nguyên lý được khái quát
từ hiện thực khách quan phù hợp với hiện thực khách quan, phản ánh đúng đắn sựliên hệ, vận động và phát triển từ TN, XH đến TD
- Nội dung của Phép biện chứng DV bao gồm: Hai nguyên lý cơ bản, cáccặp phạm trù cơ bản, các quy luật cơ bản
II NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quá trìnhkhác nhau
- Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau haychúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau?
- Nếu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại, thì nhân tố gì quy định sự liên
hệ đó? Giải quyết vấn đề này trong lịch sử triết học đã hình thành những quanđiểm khác nhau
1 Các quan điểm phi mácxít về mối liên hệ
- Chủ nghĩa duy tâm: thừa nhận trong thế giới các sự vật, hiện tượng vànhững quá trình có mối liên hệ Nhưng họ cho rằng, mối liên hệ đó là do một lựclượng siêu nhiên nào đó ở bên ngoài chi phối sáng tạo ra, hay do ý thức, cảm giáccủa con người mà có
+ Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli cho rằng cảm giác là nềntảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
+ Hêghen, xuất phát từ lập trường duy tâm khách quan lại vạch ra rằng “ýniệm tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình: cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệtlập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc,không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫnnhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên
2 Quan điểm của CNDVBC về mối liên hệ phổ biến
a Khái niệm
Liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự phụ thuộc gắn bó khôngthể tách rời nhau, quy định làm tiền đề cho nhau, tác động qua lại xâm nhập lẫn
Trang 17nhau, chuyển hóa lẫn nhau, trong sự tồn tại và phát triển của mọi sự vật và hiệntượng trong thế giới
- Bản chất của liên hệ là sự ràng buộc, tác động, chuyển hoá lẫn nhau giữacác sự vật, hiện tượng trong thế giới
- Liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới có nhiều cấp độ:
+ Mối liên hệ chỉ diễn ra ở một sự vật hiện tượng, một lĩnh vực hoặc một số
- Tính phổ biến.
+ Cơ sở tính phổ biến của mối liên hệ phổ biến nằm ngay trong tính thốngnhất vật chất của thế giới, trong bản thân sự vật, hiện tượng và tồn tại độc lậpkhông phụ thuộc vào ý thức của con người
+ Liên hệ mang tính phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi SVHT và cảtrong các quá trình khác nhau
* Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều liên hệ với các sự vật, hiện tượngkhác Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ với các sự vật, hiệntượng khác và giữa chúng với nhau
* Xét về mặt thời gian, không gian, ở đâu cũng có mối liên hệ
* Những mối liên hệ riêng rẽ cụ thể tồn tại dưới nhiều hình dạng khác nhautrong những điều kiện nhất định đều là những biểu hiện của mối liên hệ phổ biếnnhất, chung nhất
- Tính chất đa dạng, phong phú.
+ Tính đa dạng của mối liên hệ được quy định bởi sự đa dạng trong hìnhthức tồn tại, sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng cũng như bởitrình độ tổ chức của nó Vì vậy một sự vật có thể bao gồm rất nhiều loại mối liên
hệ chứ không phải chỉ có một cặp mối liên hệ xác định nào đó
+ Biểu hiện tính đa dạng, phong phú:
* Mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài
* Mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp
* Mối liên hệ bản chất, mối liên hệ không bản chất
* Mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu
* Mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ ngẫu nhiên
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Mối liên hệ phổ biến là cơ sở của nguyên tắc toàn diện trong nhận thức vàcải tạo sự vật
Trang 18- Xem xét sự vật, hiện tượng trong tất cả các mối liên hệ mà nó có Nhưngphải xác định được mối liên hệ nào là cơ bản, quan trọng nhất, chủ yếu nhất tránhmắc sai lầm như xem xét SVHT một cách phiến diện, chủ quan, nóng vội, duy ýchí trong nhận thức cũng như hành động.
- Phân loại được các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơbản, để tìm ra mối liên hệ cần thiết cho mình
- Phải liên hệ từ mối liên hệ cơ bản với các mối liên hệ không cơ bản khácxem chúng trong tính chỉnh thể, hệ thống Đặt sự vật, hiện tượng trong chính bảnthân nó
- Quan điểm toàn diện luôn phải gắn liền với quan điểm lịch sử, cụ thể khixem xét các mối liên hệ Khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt chúng trong cácđiều kiện không gian và thời gian xác định
Nghiên cứu - vận dụng các nguyên tắc rút ra từ mối liên hệ phổ biến vào thực tiễn quá trình học tập ở nhà trường và công tác sau này
III NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
Sự vật tồn tại trong sự liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau làm cho nó vậnđộng phát triển không ngừng Nhưng vấn đề là sự phát triển diễn ra như thế nào?Bằng cách nào? Cái gì là nguồn gốc của sự phát triển? Việc giải quyết vấn đề này
đã xuất hiện những quan điểm sau:
1 Các quan điểm phi mácxít về sự phát triển
- Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm: Họ cho rằng nguồn gốc của sự pháttriển là do “cái hích của thượng đế”, do một lực lượng siêu nhiên nào đó ở bênngoài chi phối, hay do ý thức của con người
Ví dụ: Hêghen cho rằng sự phát triển của tự nhiên, xã hội là do ý niệm tuyệtđối quyết định …
- Quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình:
+ Họ cho rằng sự phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đi thuần túy về lượng màkhông có sự biến đổi về chất
+ Sự phát triển là sự tiến lên theo một đường thẳng mà không có nhữngbước quanh co phức tạp, những bước thụt lùi tạm thời, sự nhảy vọt
+ Sự phát triển chỉ khép kín mà không có sự nảy sinh cái mới Họ cho rằngcác sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại bất biến không có sự vận động biếnđổi, không có sự phát triển
2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về sự phát triển
a Khái niệm phát triển
Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiếnlên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
- Theo quan điểm đó phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động
Là sự vận động diễn ra theo chiều hướng và con đường đi lên Khuynhhướng của sự vận động là từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện Phát triển là cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay thế cái cũ
- Không phải sự vận động nào cũng đưa tới sự phát triển Trong thực tế cónhững vận động thụt lùi kìm hãm sự phát triển Chủ nghĩa duy vật biện chứngkhẳng định chỉ có sự vận động theo chiều hướng đi lên, đưa đến sự ra đời cái mớithay thế cái cũ mới được gọi là phát triển
Trang 19b Nội dung nguyên lý về sự phát triển
- Phát triển là khuynh hướng chung của mọi SVHT trong thế giới
+ Xét trong tính tổng thể, mọi sự vật, hiện tượng, vận động bao giờ cũng cóchiều hướng đi lên, đều trải qua giai đoạn ra đời, lớn lên và mất đi, nhưng cái cũmất đi, cái mới ra đời phát triển cao hơn
+ Trong thế giới nói chung, khuynh hướng phát triển là tất yếu
Ví dụ: Trong thế giới sự phát triển bắt đầu từ vô cơ hữu cơ sự sống thấp
-sự sống cao - con người là -sự phát triển cao nhất
- Thông qua sự vận động rất phức tạp dưới nhiều hình thức khác nhau nóquy định một xu hướng phát triển mang tính phổ biến diễn ra trong cả TN, XH,TD
- Sự phát triển là đi lên, nhưng xét trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, trong
sự vật cụ thể, trong thời gian nhất định thì sự vật, hiện tượng trong quá trình pháttriển đi lên nó cũng phải trải qua những bước quanh co, phức tạp thậm chí có cảnhững sự thụt lùi, thoái trào đồng thời cũng có cả những bước nhảy vọt
c Tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan.
+ Thế giới thống nhất là ở tính vật chất, mà vận động lại là thuộc tính cố hữucủa vật chất Do vậy trong vận động, có sự vận động tiến lên đó là phát triển Vậyphát triển là tất yếu khách quan của thế giới vật chất
+ Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng nguồn gốc của sựphát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn nội tại của nó quy định.Phát triển là quá trình tự thân của sự vật, hiện tượng không do một lực lượng nào
từ bên ngoài hay do ý thức con người chi phối
- Tính phổ biến.
+ Các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều luôn luôn vận động, biến đổi vàphát triển không ngừng Sự phát triển đó là khuynh hướng chung chủ yếu của thếgiới vật chất Do đó sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở bất kỳ một sự vật, hiệntượng nào trong thế giới
+ Bởi vì: ở đâu có vật chất thì ở đó có vận động, mà có vận động có nghĩa là
có phát triển trong tư duy , xã hội, tự nhiên
Vậy sự phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật, hiện tượng
- Tính đa dạng.
+ Sự phát triển diễn ra không phải bằng con đường bằng phẳng, mà cónhững bước quanh co, phức tạp, bao hàm cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.Thậm chí có những sự thụt lùi tạm thời, những bước nhảy vọt, những sự vận độngchệch hướng Dường như có sự quay trở về vị trí ban đầu, lặp lại nhưng trên một
cơ sở mới cao hơn
+ Bởi vì: Các sự vật, hiện tượng tồn tại trong không gian, và thời gian khácnhau Do đó chúng chịu sự tác động, ảnh hưởng của các sự vật, hiện tượng các yếu
tố và các quá trình khác nhau…
d Nguồn gốc, phương thức, khuynh hướng và kết quả của sự phát triển
- Nguồn gốc động lực của sự phát triển: Là sự thống nhất và đấu tranh giữacác mặt đối lập của sự vật, hiện tượng
- Phương thức, hình thức của sự phát triển chính: Là quá trình tích luỹ dầndần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại
Trang 20- Khuynh hướng của sự phát triển: Sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừaliên tục
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển chỉ ra cho chúng ta trong hoạt động thực tiễn phải
có quan điểm phát triển Phải có tư duy linh hoạt, mềm dẻo và biện chứng Nghĩa là:
- Khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, phát triển,biến đổi của chính bản thân sự vật, hiện tượng đó Thấy rõ tính quanh co, phức tạpcủa quá trình phát triển như là hiện tượng phổ biến
- Phải thấy được chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng từ đó tìm ra cáimới, tiến bộ trong sự vận động phát triển đó Không những thấy sự vật như là cáiđang có, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai
- Kiên quyết đấu tranh chống lại cái cũ lạc hậu, kìm hãm sự phát triển Tíchcực, ủng hộ cái phát triển tiến bộ, tôn trọng cái mới Đồng thời không được coi nhẹcái cũ
- Quán triệt quan điểm phát triển đòi hỏi trong tư tưởng chúng ta phải chốngquan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến hoặc tuyệt đối hoá một nhận thức nào đó về sựvật
KẾT LUẬN
Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống các nguyên
lý, những phạm trù cơ bản, những qui luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực.Nghiên cứu nắm chắc nội dung của Phép biện chứng duy vật là việc hết sức cầnthiết nhằm xây dựng thái độ lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng củaĐảng ta, đồng thời góp phần hữu ích vào công cuộc đó
Trang 21Bài 4 NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI
Vị trí của quy luật: Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượngthành những sự thay đổi về chất và ngược lại là 1 trong 3 quy luật cơ bản củaPBCDV chỉ rõ cách thức của sự vận động, biến đổi của sự vật hiện tượng
1 Khái niệm về chất, lượng
a Khái niệm chất
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó,
mà không phải là cái khác.
- Chất của một sự vật là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính tạo thành tínhquy định của sự vật để phân biệt nó với cái khác
+ Thuộc tính là biểu hiện những tính chất, đặc điểm, khía cạnh nào đó của
sự vật trong sự tác động qua lại với sự vật khác
+ Chất của sự vật không phải là một thuộc tính riêng lẻ hay là sự cộng lạicủa các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính
Lưu ý:
* Phân biệt chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối, tuỳ thuộc quan hệđang xét
* Các thuộc tính của sự vật có vị trí không ngang bằng nhau, có thuộc tính
cơ bản và thuộc tính không cơ bản Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thànhchất căn bản của sự vật Mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản, nó quy định sự tồn tạihay mất đi của bản thân sự vật
- Mỗi SV có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật có một phức hợpnhững đặc trưng về chất Do đó, mỗi sự vật có vô vàn chất
VD: Đồng (Cu) là chất dẫn điện, chất dẫn nhiệt, chất xúc tác trong các phảnứng hoá học…
- Chất không những được xác định bởi các yếu tố cấu thành mà còn xác địnhbởi cấu trúc của SV, bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó
Ví dụ: Than chì và kim cương đều do nguyên tố Cácbon tạo thành, nhưng lạikhác biệt rất căn bản về chất Sự khác nhau về chất ấy được quyết định bởi phươngthức liên kết khác nhau của các phân tử Các bon
- Chất biểu hiện tính tương đối ổn định của sự vật, là cái vốn có, không táchrời sự vật, chất là chất của sự vật, chất tồn tại khách quan
b Khái niệm lượng
Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị bằng số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó
- Lượng được xác định bởi số lượng các thuộc tính, tổng số các bộ phận cấuthành sự vật và các đại lượng đặc trưng cho sự vật ấy
Ví dụ: Một phân tử nước H2O được cấu tạo bởi 2 nguyên tử Hyđrô và 1nguyên tử Ôxy
Trang 22- Có những lượng của sự vật được xác định bằng những đơn vị đo lường cụthể và chính xác, nhưng cũng có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừutượng và khái quát hoá.
Ví dụ: Trình độ giác ngộ cách mạng của một con người,…
- Lượng cũng là tính quy định vốn có của sự vật, nó mang tính khách quan
Vì nó là yếu tố bên trong sự vật, mà sự vật tồn tại khách quan nên lượngcũng tồn tại khách quan, do đó căn cứ vào lượng có thể phân biệt được sự khácnhau giữa các sự vật (dù mới chỉ là sự khác nhau bề ngoài)
Ví dụ: Nước hiện nay dân số hơn 1,3 tỷ người là Trung Quốc
- Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối tuỳ theo mối quan hệ đangxem xét, còn trong một mối quan hệ xác định thì chất nào lượng nấy
Ví dụ: Ôxy và Hyđrô là các chất, nhưng lại là lượng cấu tạo nên phân tửnước H2O
2 Nội dung cơ bản của quy luật
Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa chất và lượng; sự vận động của sự vật diễn ra bắt đầu từ sự biến đổi dần dần về lượng Sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn “độ” sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tạo khả năng mới cho sự biến đổi của lượng mới, cứ như vậy làm cho sự vật phát triển không ngừng.
Quy luật lượng chất nói lên sự tác động biện chứng giữa hai mặt trong sự vật
đó là sự vận động thống nhất giữa hai mặt lượng và chất
- Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất
+ Lượng là lượng của một chất xác định, chất là chất của một sự vật cụ thể;
đi liền với một tính quy định về lượng là một tính quy định về chất, và ngược lại
+ Sự thống nhất giữa lượng và chất là điều kiện tồn tại của mọi SVHT
* Không có sự thống nhất giữa lượng và chất thì không có SVHT nào tồntại, song sự thống nhất ấy không phải là tuyệt đối, vĩnh viễn
* Đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập nên chỉ được duy trì trong mộtkhoảng giới hạn nhất định gọi là “độ”
- Sự biến đổi của sự vật bao giờ cũng đi từ sự thay đổi dần dần về lượng đếnbiến đổi về chất
+ Sự thay đổi dần dần về lượng là quá trình tích luỹ dần dần các yếu tố, cácđặc trưng, các thuộc tính, các tính quy định của sự vật mới trong giới hạn độ của sựvật cũ
+ Khi lượng biến đổi đạt đến điểm nút diễn ra sự chuyển hoá những thay đổi
về lượng thành thay đổi về chất
- Sự biến đổi về lượng phải đạt tới một giới hạn nhất định mới dẫn tới sựbiến đổi về chất Khoảng giới hạn mà sự biến đổi về lượng chưa dẫn tới sự biến đổi
về chất được gọi là “độ”
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó
là khoảng giới hạn, mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản
Trang 23Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi 2 điểm nút Sự thay đổi về lượng khiđạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới Sự thống nhất giữa lượng và chấttạo thành một độ mới với điểm nút mới.
- Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi làbước nhảy
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra.
- Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất không xảy ra trong mọiđiều kiện, mà chỉ xảy ra trong điều kiện nhất định
- Chất mới ra đời lại tạo khả năng mới cho sự biến đổi về lượng
Vì: SV mới ra đời lại có kết cấu mới của lượng - chất, trong kết cấu đó chấtmới sẽ tạo điều kiện, khả năng cho lượng biến đổi
3 Các hình thức của bước nhảy
Bước nhảy để chuyển hoá về chất của sự vật hết sức đa dạng và phong phú vớinhững hình thức rất khác nhau Những hình thức bước nhảy được quyết định bởi bảnthân sự vật, bởi những điều kiện cụ thể trong đó SV thực hiện bước nhảy
a Căn cứ vào nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật
- Bước nhảy đột biến: Là bước nhảy diễn ra trong thời gian ngắn làm biếnđổi tất cả các bộ phận cấu thành sự vật
Ví dụ: Giải phóng năng lượng dưới dạng vụ nổ nguyên tử (khối lượngUranium 235 (U235) được tăng đến khối lượng tới hạn thì sẽ xảy ra vụ nổ nguyên tửtrong chốc lát) Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 ở nước ta
- Bước nhảy dần dần: là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằngcách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũdần dần mất đi
Ví dụ: Quá trình chuyển hoá từ vượn thành người diễn ra hàng vạn năm.Quá trình cách mạng đưa nước ta vốn là nước kinh tế lạc hậu quá độ đi lên CNXH,
bỏ qua chế độ TBCN
Lưu ý: Phân biệt bước nhảy dần dần với tích luỹ về lượng.Tích luỹ vềlượng: diễn ra một cách liên tục trong khuôn khổ chất đang có; bước nhảy dần dần
là sự chuyển hoá từ chất này sang chất khác
b Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật
- Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các
bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật
Ví dụ: Sự chuyển biến của một hình thái kinh tế - XH trong lịch sử xã hội
- Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số bộ phận,một số yếu tố của sự vật đó
Ví dụ: Quá trình phát triển đi lên CNXH ở nước ta đang diễn ra từ thay đổicục bộ (từng mặt) đi đến toàn bộ
4 Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biếttừng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật Chống: tư tưởngchủ quan, duy ý chí, nôn nóng, “đốt cháy giai đoạn”
- Khi đã tích luỹ đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bướcnhảy, phải kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về
Trang 24chất, từ những thay đổi mang tính chất tiến hoá sang những thay đổi mang tínhchất cách mạng.
Chống: tư tưởng bảo thủ, trì trệ, “hữu khuynh”, chỉ coi sự phát triển chỉ là sựthay đổi đơn thuần về lượng
- Trong hoạt động thực tiễn, con người phải biết vận dụng linh hoạt các hìnhthức của bước nhảy
Sự vận dụng này tuỳ thuộc vào việc phân tích đúng đắn những điều kiệnkhách quan và những nhân tố chủ quan, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, từng điềukiện cụ thể hay quan hệ cụ thể Mặt khác, đời sống xã hội của con người rất đadạng, phong phú do rất nhiều yếu tố cấu thành, do đó để thực hiện được bước nhảytoàn bộ, trước hết, phải thực hiện những bước nhảy cục bộ làm thay đổi về chất củatừng yếu tố
II QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
Vị trí quy luật: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 1trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ rõ nguồn gốc, động lựccủa sự phát triển, là hạt nhân của phép biện chứng
1 Khái niệm về mặt đối lập và mâu thuẫn
a Khái niệm mặt đối lập
Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau ở trong cùng một sự vật hiện tượng.
Mặt đối lập không tồn tại một mình mà chỉ tồn tại trong trong mối liên hệvới mặt đối lập khác
Ví dụ: Điện tích âm - dương (điện tích); Tốt - xấu (đạo đức con người)
b Khái niệm mâu thuẫn
Mâu thuẫn là phạm trù dùng để chỉ hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một SVHT có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
- Mâu thuẫn được tạo dựng bởi hai mặt đối lập
- Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thànhmâu thuẫn biện chứng
Các mặt đối lập tuy có xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau nhưng chúng lạigắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau để tạo thành mâu thuẫn
- Đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn:
+ Tính khách quan.
Bất cứ SV nào cũng có một cấu trúc nhất định, được cấu tạo bởi các mặt, các yếu
tố, bộ phận Các mặt, các yếu tố, các bộ phận này luôn tác động qua lại, liên hệ vớinhau Sự tác động, liên hệ này là khách quan, vốn có của bản thân SV Trong sự tácđộng của các mặt, các yếu tố, các bộ phận đó có những mặt có khuynh hướng tráingược nhau tạo thành mâu thuẫn Do đó, mâu thuẫn có tính khách quan
+ Tính phổ biến.
Mâu thuẫn tồn tại trong mọi SVHT và trong mọi lĩnh vực cả trong tự nhiên,
xã hội và tư duy Trong 1SV, mâu thuẫn tồn tại trong suốt quá trình tồn tại và pháttriển của SV từ khi ra đời cho đến khi kết thúc
Trang 25Ví dụ: Mâu thuẫn trong tự nhiên: các điện tích trái dấu, đồng hoá - dị hoá,biến dị - di truyền,…
* Trong XH: LLSX - QHSX, giai cấp thống trị - giai cấp bị trị,…
* Trong tư duy: đúng - sai, tiến bộ - lạc hậu, biện chứng - siêu hình…
+ Tính đa dạng, phong phú, muôn vẻ.
Các SVHT đa dạng, phong phú, muôn vẻ Mà trong SVHT lại tồn tại nhiềumâu thuẫn, do đó mâu thuẫn mang tính phong phú, muôn vẻ
Tính đa dạng, phong phú, muôn vẻ của MT luôn gắn liền với tính riêng biệtcủa mâu thuẫn, vì mâu thuẫn của SV này khác với mâu thuẫn của SV khác, mâuthuẫn này khác với mâu thuẫn kia của cùng một SV
2 Nội dung cơ bản của quy luật
CNDVBC khẳng đinh: Thống nhất và đấu tranh là hai trạng thái đối lập của một mâu thuẫn Sự thống nhất (trong đấu tranh) của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, là tiền đề cho sự tồn tại của các sự vật hiện tượng; sự đấu tranh (trên cơ
sở của thống nhất) của các mặt đối lập là tuyệt đối, vĩnh viễn, là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của mọi sự vật hiện tượng
- Mọi sự vật, hiện tượng đều là sự thống nhất của các mặt đối lập
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập là một trạng thái của mâu thuẫn, trong
đó các mặt đối lập cùng tồn tại bởi sự ràng buộc, nương tựa vào nhau, mặt đối lậpnày lấy mặt đối lập kia làm tiền đề tồn tại
Ví dụ:
* Các hạt mang điện tích (+) và điện tích (–) trong nguyên tử phải dựa vàonhau để tồn tại Nếu tổng số điện tích (–) lớn hơn điện tích (+) hoặc ngược lại thìnguyên tử sẽ bị phá vỡ trở thành ion
* Sự nương tựa vào nhau cùng tồn tại của GCTS và GCVS trong xã hội tưbản GCVS phải bán sức lao động cho GCTS để nuôi sống bản thân, tái sản xuấtsức lao động và nuôi sống gia đình; trái lại, GCTS nhờ bóc lột sức lao động củaGCVS mà thu được ngày càng nhiều của cải, nhiều giá trị thặng dư do đó càngnhanh chóng giàu hơn
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập là một trường hợp đặc biệt về sự đối lậpgiữa các mặt, ở đó chúng có những đặc trưng, những yếu tố nào đó giống nhau,đồng nhất với nhau Chính sự thống nhất, đồng nhất này mà các mặt đối lập có thểchuyển hoá được cho nhau
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua,tương đối, tương ứng với trạng thái đứng im tương đối của sự vật, là cơ sở cho sựtồn tại của sự vật hiện tượng
- Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, là nguồn gốc, động lực của sựvận động và phát triển của các SVHT
+ Đấu tranh của các mặt đối lập là trạng thái của mâu thuẫn, ở đó các mặtđối lập tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng
* Sự đấu tranh của các mặt đối lập là quá trình các mặt đối lập làm đối tượng
để thâm nhập vào nhau, làm cho cả mặt này lẫn mặt kia luôn vận động, biến đổi
VD: Trong XHTB luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa GCTS và GCVS GCTS
ra sức bóc lột, hạn chế tối đa mọi quyền lợi của GCVS; GCVS muốn lật đổ sựthống trị, bóc lột của GCTS
Trang 26* Sự đấu tranh của của các mặt đối lập là phương thức giải quyết mâu thuẫncủa SVHT bằng cách các mặt đối lập bài trừ, chuyển hoá cho nhau
* Mục đích của đấu tranh không phải là duy trì sự thống nhất hiện có mà làxoá bỏ sự thống nhất ấy để thiết lập sự thống nhất mới cao hơn
VD: Đấu tranh giữa GCVS và GCTS trong XHTB nhằm giải quyết mâuthuẫn cơ bản của XHTB Khi MT được giải quyết thì XH chuyển sang một XHmới cao hơn, XH XHCN
+ Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, vĩnh viễn, tương ứng với sự vậnđộng, phát triển của mọi SVHT, là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triểncủa mọi SVHT
Vì: Nguyên nhân chính và cuối cùng của sự vận động của các SV là sự tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các SV, giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành SV Mà MT
là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các khuynh hướng đối lập Sự tác động qualại, sự đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu những thay đổi củacác mặt đang tác động qua lại cũng như SV nói chung, nó là nguồn gốc động lựccủa sự vận động, phát triển của SV
VD: Bất kỳ 1 sinh vật nào cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có
sự tác động qua lại giữa đồng hoá và dị hoá
- Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ biện chứng vớinhau
+ Thống nhất của các mặt đối lập là sự thống nhất bao hàm đấu tranh, được tạodựng bởi đấu tranh Không có sự thống nhất thuần tuý, tuyệt đối, tách rời sự đấu tranh
+ Đấu tranh của các mặt đối lập trên cơ sở sự thống nhất, trên địa bàn của sựthống nhất, trong suốt quá trình thống nhất, với mục đích phá vỡ sự thống nhất cũ,thiết lập sự thống nhất mới cao hơn Không có cuộc đấu tranh chung chung, táchrời nền tảng của sự thống nhất
3 Phân loại mâu thuẫn
a Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với một sự vật
- Mâu thuẫn bên trong: Là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynhhướng đối lập nhau của cùng một sự vật
Ví dụ: Sự tác động giữa đồng hoá và dị hoá của một sinh vật
- Mâu thuẫn bên ngoài: Là mâu thuẫn diễn ra trong MLH giữa một SV vớicác SV khác
Ví dụ: Sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi trường, khi xét cơ thể là một SV
- Vai trò: mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quátrình vận động và phát triển của SV; mâu thuẫn bên ngoài có tác động ảnh hưởngđến SV, song sự tác động của nó phải thông qua mâu thuẫn bên trong
b Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật
- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quy định bản chất của SV, quy định sự pháttriển ở tất cả các giai đoạn của SV, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của SV
Đặc trưng:
+ Tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của SV
+ Chi phối toàn bộ các mâu thuẫn khác
+ Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì SV có bước nhảy
+ Trong SV có thể có nhiều mâu thuẫn cơ bản cùng tồn tại
Trang 27Ví dụ: Mâu thuẫn giữa tính chất XH hoá của LLSX và tính chất chiếm hữu
tư nhân về TLSX của xã hội TBCN…
- Mâu thuẫn không cơ bản: là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào
đó của SV, quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó của SV
- Vai trò: mâu thuẫn cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của SV, chiphối sự vận động và phát triển của mâu thuẫn không cơ bản
Trong thực tiễn cách mạng cần xác định mâu thuẫn cơ bản có ý nghĩa đặc biệtquan trọng, đó là cơ sở khoa học để xác định đường lối cho cả 1 thời kỳ cách mạng
c Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định
- Mâu thuẫn chủ yếu: Là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn pháttriển nhất định của SV, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẫn khác
ở cùng giai đoạn
- Mâu thuẫn thứ yếu: là những mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định
d Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập tạo thành mâu thuẫn xã hội
- Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoànngười, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau
- Mâu thuẫn không đối kháng: là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynhhướng xã hối có đối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời
Ví dụ: Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nông dân, giữa các bộ phận công nhânkhác nhau…
- Xu hướng phát triển từng mâu thuẫn: mâu thuẫn đối kháng thì ngày càngphát triển gay gắt vì nó được nảy sinh từ những quan hệ cơ bản không thể điều hoàđược; mâu thuẫn không đối kháng thì ngày càng dịu đi
- Phương pháp giải quyết: thường giải quyết mâu thuẫn đối kháng bằng đấutranh, bạo lực cách mạng; còn mâu thuẫn không đối kháng thường được giải quyếtbằng hoà bình, thông qua tổ chức giáo dục, thuyết phục, hành chính…
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Việc nghiên cứu quy luật mâu thuẫn có ý nghĩa PPL quan trọng đối với nhậnthức và hoạt động thực tiễn
- Trong hoạt động nhận thức:
+ Phải nhận thức sự vật trong sự thống nhất của các mặt đối lập, nghiên cứu
sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập để biết được mâu thuẫn của nó, phát hiệnnguồn gốc, động lực của sự phát triển
+ Khi phân tích mâu thuẫn phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, quá trìnhphát sinh, phát triển của các mặt đó và điều kiện làm biến đổi Đánh giá đúng thựcchất vai trò các mặt và mâu thuẫn trong từng giai đoạn
- Trong hoạt động thực tiễn:
+ Phải xác định trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, phải tìm được phươngthức, phương tiện, lực lượng để giải quyết mâu thuẫn và tổ chức giải quyết mâuthuẫn một cách thực tế
+ Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi đã chín muồi, do vậy không được vộivàng khi chưa đủ điều kiện Song không thể giải quyết mâu thuẫn một cách tự phát
mà phải tích cực, chủ động, tạo điều kiện thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn vàđiều kiện để giải quyết
Trang 28+ Đối với mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau,tuỳ thuộc bản chất mà có điều kiện cụ thể.
III QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
Vị trí quy luật: Quy luật phủ định của phủ định là 1 trong 3 quy luật cơ bảncủa phép biện chứng duy vật chỉ rõ khuynh hướng phát triển của sự vật
1 Phủ định biện chứng và các đặc điểm cơ bản của nó
Trên thế giới bất kỳ sự vật, hiện tượng nào đều trải qua quá trình: sinh ra,tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Sự thay thế đó
là tất yếu trong quá trình vận động phát triển của sự vật Không như vậy sự vậtkhông phát triển được Triết học gọi sự thay thế đó là phủ định
VD: Dẫm chết một con sâu; nghiền nát một hạt thóc…
- Phủ định biện chứng: Là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, làmắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn SV cũ
Do vậy, phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định
tự thân, sư phát triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới tiến bộ hơn sự vật cũ.
b Đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng
- Tính khách quan:
Nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân SV Nó là kết quảgiải quyết những mâu thuẫn vốn có, bên trong của SV Quá trình đó diễn ra mộtcách hợp quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người hoặcmột lực lượng nào Đó là sự tự thân phủ định
- Tính kế thừa:
+ PĐBC là sự tự thân phủ định, tự thân phát triển trên cơ sở giải quyếtnhững MT vốn có bên trong SVHT, cho nên cái mới ra đời không thủ tiêu hoàntoàn cái cũ, mà giữ lại những yếu tố tích cực của cái bị phủ định Với ý nghĩa đó,
PĐ đồng thời cũng là khẳng định
+ Kế thừa là giữ lại cái tích cực, hợp quy luật, thúc đẩy sự phát triển Song đó
là sự kế thừa có lọc bỏ những yếu tố lỗi thời lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển vàchọn lọc giữ lại những yếu tố tích cực và cải biến đi cho phù hợp cái mới
VD: Khi phủ định CNTB với tư cách là một chế độ lỗi thời, CNXH cũng kếthừa toàn bộ những thành quả của sự phát triển, tiến bộ XH mà nhân loại đã đạtđược dưới CNTB
2 Nội dung cơ bản của quy luật
Khuynh hướng chung của mọi sự phát triển là quá trình cái mới phủ định cái cũ, cái mới vừa gạt bỏ cái cũ, vừa kế thừa những yếu tố hợp lý trong lòng cái
cũ theo “cơ chế” chu kỳ phủ định của phủ định để khẳng định sự tiến lên; con đường tiến lên trong quá trình phát triển không tuân theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”.
Trang 29- Sự phát triển là một quá trình phủ định biện chứng liên tục từ thấp đến cao.+ Phủ định biện chứng là một giai đoạn, một nấc thang trong quá trình pháttriển Với tư cách là kết quả của “phủ định lần thứ nhất”, cái mới cũng chứa đựngtrong bản thân mình xu hướng dẫn tới những lần phủ định tiếp theo – phủ định củaphủ định.
+ Mỗi lần phủ định biện chứng được thực hiện sẽ mang lại những nhân tốtích cực mới Do đó, sự phát triển thông qua những lần phủ định biện chứng sẽ tạo
ra xu hướng tiến lên không ngừng
- Sự phát triển của SV thông qua những lần phủ định biện chứng mang tínhchu kỳ
+ Số lần phủ định trong một chu kỳ có thể nhiều ít khác nhau tuỳ theo từngSVHT, quá trình cụ thể, nhưng về thực chất bao giờ cũng bao gồm 2 lần phủ định
cơ bản khác nhau về nội dung:
* Phủ định lần 1(phủ định cái khẳng định): làm cho SV chuyển thành mặtđối lập với ban đầu
(Trong phủ định lần 1, sự kế thừa còn mang tính phiến diện, chưa thấy rõ sựphát triển, mới vạch ra sự thay đổ, cái phủ định mới phê phán cái bị phủ định, loại
bỏ mặt tiêu cực của nó, kế thừa những yếu tố cơ bản của cái cũ, nhưng nó tạo ra sựđối lập với cái cũ cả về nội dung và hình thức)
* Phủ định lần 2 (phủ định cái phủ định): Dẫn tới sự ra đời của SV mới vớinhiều đặc trưng đối lập với cái được sinh ra ở phủ định lần 1 SV mới dường nhưtrở lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn
Phủ định lần 1 và phủ định lần 2 có quan hệ chặt chẽ với nhau theo một cơchế thống nhất: vừa phủ định vừa kế thừa
+ Phủ định của phủ định là sự kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng thờilại là điểm xuất phát của một chu kỳ mới
Lưu ý: Không phải mọi chu kỳ phát triển đều được diễn ra trực tiếp bằng 2lần phủ định, mà có khi phải thực hiện nhiều lần phủ định trung gian mới thực hiệnđược một chu kỳ (vì nó phụ thuộc vào tính chất đặc thù và quy luật đặc biệt của kếtcấu của SV bị phủ định cũng như SV mới ra đời)
- Sự phát triển của sự vật theo hình thức “xoáy ốc”
+ Tính chất của sự phát triển là tiến lên, song không loại trừ mà trái lại cònbao hàm khả năng thụt lùi tạm thời, đôi khi còn rất lớn
Ví dụ: XH loài người phát triển đi lên CNXH là tất yếu và CNXH được xâydựng thành một hệ thống trên hiện thực nhưng nay tạm thời bị sụp đổ, chỉ còn lạimột số nước
+ Sự phát triển đi lên không phải diễn ra theo đường thẳng mà là quanh co,phức tạp, theo hình “xoáy ốc”
* Đường “xoáy ốc” là hình thức cho phép biểu đạt được rõ ràng nhất các đặctrưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng khôngquay trở lại và tính chất tiến lên của sự phát triển
* Mỗi vòng của đường “xoáy ốc” thể hiện một trình độ cao hơn của sự pháttriển, đồng thời dường như quay trở lại cái đã qua, dường như lặp lại vòng trướcnhưng trên cơ sở cao hơn
Trang 30* Sự nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tận của sự phát triển, tính
vô tận của sự tiến lên từ thấp đến cao
3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Khi xem xét SV phải phân tích bản chất của nó để vạch ra chiều hướngphát triển cơ bản, đồng thời phải dự kiến được những bước quanh co trong sự pháttriển của nó
- Phải biết phát hiện, quý trọng, tin tưởng vào cái mới, cái tiến bộ, ra sức bồidưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó thắng cái cũ
- Trong khi phê phán cái cũ cần kế thừa những yếu tố hợp lý của nó, chốngthái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn, khắc phục thái độ bảo thủ, cản trở sựphát triển
- Xây dựng lòng tin vào tương lai, vào sự tất thắng của cái mới, xây dựngtinh thần lạc quan cách mạng, kiên định trước khó khăn của cuộc sống
KẾT LUẬN
Mỗi quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đề cập đến những phươngdiện khác nhau của quá trình vận động và phát triển của sự vật Trong thực tế, sựvận động và phát triển của bất cứ sự vật nào cũng là sự tác động tổng hợp của tất
cả những quy luật cơ bản do phép biện chứng duy vật trừu tượng hoá và khái quáthoá Do đó, trong hoạt động của mình, cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thựctiễn để đạt chất lượng và hiệu quả cao, con người phải vận dụng tổng hợp tất cảnhững quy luật đó một cách đầy đủ, sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điềukiện cụ thể
Trang 31Bài 5 CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG
1 Phạm trù cái riêng, cái chung, cái đơn nhất
a Khái niệm
- Cái riêng: Phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình
nhất định
- Cái chung: Phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu
tố, những quan hệ,…tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
- Cái đơn nhất: Phạm trù dùng để chỉ những đặc tính, những tính chất,…chỉ
tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiệntượng khác
b Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, vì nó là biểu hiện tính hiện
thực tất yếu, độc lập với ý thức con người
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồntại của mình; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng mà nó phải tồn tạitrong từng cái riêng cụ thể, xác định
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung; không có cái riêng tồntại độc lập tuyệt đối tách rời cái chung
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng Bởi vì, cái riêng là tổng hợp của
cái chung và cái đơn nhất; còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính qui luật củanhiều cái riêng
Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện
xác định.
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng cụ thể trong cáchoạt động của con người
- Mặt khác, cần phải được cá biệt hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điềukiện cụ thể; khắc phục bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cũng cần phải biết tận dụng cácđiều kiện cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và cái chung theo những mục đíchnhất định
II NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
1 Phạm trù nguyên nhân, kết quả
a Khái niệm
- Nguyên nhân: Phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt
trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau thì gây nênmột biến đổi nhất định
- Kết quả: Phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động
giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiệntượng tạo nên
Trang 32Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện Nguyên cớ là cái không cómối liên hệ bản chất với kết quả Điều kiện là những yếu tố bên ngoài tác động tớihình thành kết quả.
b Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân sinh ra kết quả, cho nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân Tuy nhiên, chỉ có
mối quan hệ tất yếu về mặt thời gian mới là quan hệ nhân quả
Tính phức tạp của mối quan hệ nhân quả Một nguyên nhân có thể sinh ra
một hay nhiều kết quả, và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạonên Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì xu hướng hình thành kết quảnhanh hơn, còn nếu tác động ngược chiều thì sẽ hạn chế hoặc triệt tiêu sự hìnhthành kết quả
Phân loại nguyên nhân: do tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sựhình thành kết quả, nên có nhiều loại nguyên nhân
c Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhâncủa các sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứkhông phải ở ngoài thế giới đó
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xáccác loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗitrường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại một kết quả
có thể có nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cáchnhìn toàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệnhân - quả
III TẤT NHIÊN VÀ NGẪU NHIÊN
1 Phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên
a Khái niệm
- Tất nhiên là phạm trù dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản, bêntrong của sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhất định, nóphải xảy ra như thế, chứ không thể khác
- Ngẫu nhiên là phạm trù dùng để chỉ cái do các nguyên nhân bên ngoàiquyết định, cho nên, nó có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện, có thể xuất hiệnnhư thế này hoặc như thế khác
Như vậy, cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân Nguyên nhân cơbản, bên trong gắn với tất yếu, còn nguyên nhân bên ngoài gắn với ngẫu nhiên
b Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan và đều có vai trò nhất địnhđối với sự phát triển của sự vật và hiện tượng
Tất nhiên và ngẫu nhiên là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập Vì vậy,
không có cái tất nhiên thuần túy và ngẫu nhiên thuần túy Cái tất nhiên bao giờcũng vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên; còn ngẫu nhiên làhình thức biểu hiện của tất nhiên, là cái bổ sung cho tất nhiên
Trang 33Ranh giới giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên có tính chất tương đối Trong
những điều kiện nhất định, chúng chuyển hóa lẫn nhau, tất nhiên trở thành ngẫunhiên và ngẫu nhiên trở thành tất nhiên
c Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phải căn cứ vào cái tất nhiênchứ không phải căn cứ vào cái ngẫu nhiên Tuy nhiên không được bỏ qua cái ngẫunhiên, không tách rời cái tất nhiên khỏi cái ngẫu nhiên Cần xuất phát từ cái ngẫunhiên để đạt đến cái tất nhiên, và khi dựa vào cái tất nhiên phải chú ý đến cái ngẫunhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau Vì vậy, cần tạo ra nhữngđiều kiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đíchnhất định
IV NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
1 Phạm trù nội dung, hình thức
a Khái niệm
- Nội dung là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu
tố, những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng
- Hình thức là phạm trù dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sựvật, hiện tượng đó, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tốcủa nó
b Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, vìvậy không có một hình thức nào không chứa dựng nội dung, đồng thời không cónội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định
Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức, và cùng một hìnhthức có thể chứa đựng nhiều nội dung Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức làmối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung quyết định hình thức và hình thức tácđộng trở lại nội dung
Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là khuynh hướng biến đổi còn hìnhthức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện tượng Nội dung thay đổi bắtbuộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp Tuy nhiên, không phải bất cứ lúcnào cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình thức Nội dung quyết địnhhình thức nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung.Hình thức phù hợp với nội dung thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển Nếu hình thứckhông phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung
c Ý nghĩa phương pháp luận
Nội dung và hình thức luôn luôn thống nhất hữu cơ với nhau Vì vậy, tronghoạt động nhận thức và thực tiễn, không được tách rời giữa nội dung và hình thức,hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó
Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trướchết phải căn cứ vào nội dung Muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phảithay đổi nội dung của nó
Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với nộidung; mặt khác cũng cần phải thực hiện những thay đổi đối với những hình thứckhông còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung
Trang 34V BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG
1 Phạm trù bản chất, hiện tượng
a Khái niệm
- Bản chất là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mốiliên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong, qui định sự vận động và phát triểncủa sự vật, hiện tượng đó
- Hiện tượng là phạm trù dùng để chỉ sự biểu hiện của những mặt, nhữngmối liên hệ đó trong những điều kiện xác định
b Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất,vừa đối lập với nhau
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng: bản chất bao giờ cũng bộc lộ raqua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhấtđịnh Không có bản chất tồn tại thuần túy tách rời hiện tượng, cũng như không cóhiện tượng lại không biểu hiện của một bản chất nào đó Khi bản chất thay đổi thìhiện tượng cũng thay đổi theo
Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng: Sự đối lập của mâu thuẫn biệnchứng thể hiện: bản chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệtphong phú và đa dạng Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài Bảnchất là cái tương đối ổn định, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi
c Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nhận thức đúng sự vật, hiện tượng thì không dừng lại ở hiện tượngbên ngoài mà phải đi vào bản chất Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mớinhận thức đúng bản chất V.I.Lênin viết: “tư tưởng của người ta đi sâu một cách vôhạn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một…đến bản chất cấp hai…”
Mặt khác, bản chất phản ánh tính tất yếu, tính qui luật nên trong nhận thức
và thực tiễn cần phải căn cứ vào bản chất chư không căn cứ vào hiện tượng thì mới
có thể đánh giá một cách đầy đủ, chính xác về sự vật, hiện tượng đó
VI KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
b Quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối liên hệ thống nhất, không tách rời, luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau.
Khả năng chuyển hóa thành hiện thực và hiện thực lại chứa đựng những khảnăng mới; khả năng mới, trong những điều kiện nhất định, lại chuyển hóa thànhhiện thực
Trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật, hiện tượng có thể tồntại một hoặc nhiều khả năng: khả năng thực tế, khả năng tất nhiên, khả năng ngẫunhiên, khả năng gần, khả năng xa…
Trang 35Trong đời sống xã hội, khả năng chuyển hóa thành hiện thực phải có điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Nhân tố chủ quan là tính tích cực xã hội của
ý thức chủ thể con người để chuyển hóa khả năng thành hiện thực Điều kiện kháchquan là sự tổng hợp các mối quan hệ về hoàn cảnh, không gian, thời gian để tạonên sự chuyển hóa ấy
c Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phải dựa vào hiện thực để xáclập nhận thức và hoạt động V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa Mác căn cứ vào những
sự thật chứ không phải dựa vào những khả năng… người Macxit chỉ có thể sửdụng, để làm căn cứ cho chính sách của mình, những sự thật được chứng minh rõrệt và không thể chối cãi được”
Tuy nhiên, trong nhận thức và thực tiễn cũng cần phải nhận thức toàn diệncác khả năng từ trong hiện thực để có được phương pháp hoạt động thực tiễn phùhợp với sự phát triển trong những hoàn cảnh nhất định Tích cực phát huy nhân tốchủ quan trong việc nhận thức và thực tiễn để biến khả năng thành hiện thực theomục đích nhất định
Trang 361 Quan niệm của CNDT và CNDVSH về bản chất của nhận thức.
* CNDT: Các nhà triết học duy tâm không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại
độc lập đối với ý thức, do đó không thừa nhận nhận thức là sự phản ánh hiện thựckhách quan
+ DTKQ: coi nhận thức không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà
chỉ là sự tự nhận thức của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người
Hêghen cho rằng bản nguyên của thế giới là “ý niệm tuyệt đối”, nhận thứccủa con người chính là lĩnh vực mà “ý niệm tuyệt đối” tự nhận thức bản thân mình
+ DTCQ: theo họ, nhận thức chẳng qua là sự nhận thức các cảm giác, biểu
tượng của con người
Ví dụ như Béccơly cho rằng:tất cả mọi cái từ cảm giác mà ra và sự vật là sựkết hợp những cảm giác chủ quan; không có chủ thể thì không có khách thể
- Thuyết không thể biết: những người theo thuyết không thể biết phủ định
khả năng nhận thức thế giới con người Đại biểu chính là Hium và Can tơ
* CNDVSH: Thừa nhận khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự
phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Tuy nhiên, họ cho nhận thức
là sự sao chép giản đơn, tiếp nhận 1 cách thụ động như soi gương, chụp ảnh
2 Quan điểm của CNDVBC.
a Bản chất nhận thức
Bản chất của nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vàotrong óc người một cách tích cực, tự giác thông qua hoạt động thực tiễn của conngười Nhận thức là quá trình biện chứng phức tạp
* quá trình nhận thức là quá trình tác động qua lại, quan hệ biện chứng giữachủ thể và khách thể nhận thức
- Chủ thể nhận thức: là những con người xã hội, thành viên của xã hội, của
những cộng đồng xã hội nhất định như một dân tộc, 1 giai cấp, 1 tập thể xác địnhnào đó, đang trực tiếp tham gia vào các quan hệ xã hội
- Khách thể nhận thức: là 1 bộ phận, 1 lĩnh vực nào đó của thế giới khách
quan, là nơi mà chủ thể hướng vào đó để nhận thức và cải tạo
Sự phản ánh của chủ thể đối với khách thể thông qua lăng kính chủ quan của
chủ thể Nó “là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, là “cái vật chất được di chuyển vào trong óc người” nhưng “đã được cải biến ở trong đó”.
Tính tích cực sáng tạo của quá trình phản ánh của con người còn được biểuhiện ở chỗ, để khắc phục những giới hạn của các giác quan, con người luôn luôn chế
tạo ra công cụ phản ánh, “nối dài các giác quan của mình ra” để khám phá thế giới.
* quá trình nhận thức của con người là quá trình biện chứng phức tạp, xuấtphát từ sự vận động phong phú, phức tạp của thế giới vật chất
Trang 37quá trình nhận thức của con người là từ đơn giản đến phức tạp, từ hiểu
biết chưa đầy đủ đến hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn và tiếp tục đi sâu hơnnữa… Những thành quả nhận thức của những thế hệ kế tiếp nhau đã làm cho trithức của nhân loại ngày càng thêm phong phú và sự hiểu biết của con người vềthế giới ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn
b Những nguyên tắc cơ bản của quá trình nhận thức
+ Một là, thừa nhận thế giới VC tồn tại khách quan, ở ngoài con người, độc
lập với cảm giác, tư duy và ý thức của con người
+ Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người Về nguyên
tắc không có cái gì là không thể biết, chỉ có những cái hiện nay con người chưabiết, nhưng trong tương lai con người sẽ biết được
+ Ba là, nhận thức không phải là 1 hành động tức thời, giản đơn, máy móc,
thụ động mà là 1 quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo quá trình nhận thức diễn
ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừutượng đến thực tiễn
+ Bốn là, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Thực
tiễn là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức.Nhận thức là quá trình con người phản ánh 1 cách biện chứng, năng động sáng tạothế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội
c ý nghĩa
- Nghiên cứu bản chất của nhận thức đã cung cấp cho ta thế giới quan và
phương pháp luận để tiếp tục khẳng định lập trường DVBC trong nghiên cứu khảnăng nhận thức và vai trò cải tạo thế giới quan của con người
- Là cơ sở khoa học để chống tư tưởng sai lầm của CNDT, thuyết không thểbiết, khắc phục những thiếu sót của CNDVSH
II THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
1 Quan niệm của CNDT và CNDVSH về thực tiễn.
* CNDT: Tuy thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con
người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động ý chí tinh thần, chứ khônghiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người
* CNDVSH:
- không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức Họ
đồng nhất hoạt động thực tiễn với 1 lĩnh vực hay 1 hình thức hoạt động thực tiễnxác định (thực nghiệm, nghệ thuật…)
- Họ cho kinh nghiệm là nguồn gốc nhận thức của con người Song kinhnghiệm đó chỉ dựa vào quan sát và thực nghiệm của các nhà khoa học trong phòngthí nghiệm Do vậy, nó mang tính trực quan, phiến diện không thấy được vai tròtích cực chủ động cải tạo thế giới của hoạt động thực tiễn con người
2 Quan điểm của CNDVBC.
Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứnhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
a Khái niệm thực tiễn
Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo thế giới, cải tạo xã hội và cải tạo bản thân con người.
Trang 38- Hoạt động thực tiễn phải là những hoạt động vật chất của con người mang
tính cụ thể cảm tính Hoạt động của con người gồm nhiều hoạt động nhưng chungquy lại có hai loại hoạt động chính đó là hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần.Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất mang tính cụ thể hàng ngày mà conngười cảm nhận được bằng giác quan
Ví dụ: hoạt động của người nông dân trên đồng ruộng, của người công nhântrong nhà máy …
- Những hoạt động ấy là hoạt động mang tính lịch sử xã hội nghĩa là: hoạt
động thực tiễn không phải chỉ là hoạt động của các cá nhân riêng lẻ mà là hoạtđộng mang tính xã hội của đông đảo tập đoàn người trong xã hội được đánh dấubằng PTSX, những hoạt động xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu thực tiễn xã hội gắnliền với những điều kiện cụ thể (không gian - thời gian nhất định)
- Thực tiễn là sản phẩm lịch sử toàn thế giới thể hiện những mối quan hệmuôn vẻ và vô tận giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con ngườitrong quá trình sản xuất vật chất và tinh thần, là phương thức cơ bản của sự tồn tại
xã hội của con người Là những hoạt động trực tiếp cải tạo tự nhiên xã hội và con người, nghĩa là những hoạt động có tác dụng trực tiếp cải tạo tự nhiên xã hội và con người Mác viết: "Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới".
Như vậy, những hoạt động không có tác dụng như trên thì không phải là hoạtđộng thực tiễn ví dụ như hoạt động của những người điên, mất trí
- Các hoạt động thực tiễn bao gồm:
+ Một là, hoạt động sản xuất vật chất Đây là hình thức cơ bản nhất, quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người trong mọi thời kỳ lịch sử, nóchi phối các hình thức hoạt động khác Các hình thức hoạt động khác suy cho cùng
là từ hình thức hoạt động sản xuất vật chất mà ra và nhằm mục đích phục vụ chohoạt động này
Ănghen viết: "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến 1 mức mà trên 1 ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người".
+ Hai là, hoạt động chính trị xã hội Đây là một hình thức hoạt động thực
tiễn phong phú, là hoạt động của các nhà nước, các đảng phái chính trị và các giaicấp XH Hoạt động thực tiễn đó trước hết là hoạt động của đông đảo quần chúngnhân dân và của các giai cấp
Hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp làm thay đổi các quan hệ xã hội hiệnthực: về mặt chính trị, được thể hiện chủ yếu trong sự thay đổi các quan hệ giữacác giai cấp, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội; về mặt nhà nước, được thểhiện ở sự thay đổi của các tổ chức nhà nước và hoạt động của các nhà nước đó
+ Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Là hình thức hoạt động của con
người để nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh những tri thức đã đạt được, phát hiệnnhững tri thức mới
Ba hình thức hoạt động trên quan hệ biện chứng với nhau không thể tách rờitrong đó hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản, quyết định chi phối hai hình thức hoạtđộng kia Hai hình thức sau nhằm mục đích cho hoạt động thứ nhất Chính ba hình
Trang 39thức hoạt động này là điều kiện để khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn gắn
bó chặt chẽ với nhau
b Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và làtiêu chuẩn của chân lý
- Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở của nhận thức
Thật vậy, không có thực tiễn thì loài người không có được nhận thức nào hết,chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn tác động vào tự nhiên xã hội mới bắt đầu cho ta
+ Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hay người kia, thế
hệ này sang thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắtnguồn từ thực tiễn
- Thứ hai, thực tiễn là động lực của nhận thức
Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng phát triển cho nhận thức.Không có thực tiễn thì không có nhận thức Song, trong hoạt động thực tiễn conngười luôn luôn bộc lộ ra mâu thuẫn Đó là nhận thức của con người là có hạntrong khi đó thế giới khách quan luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển khôngngừng quá trình không ngừng nảy sinh mậu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn chính
là động lực thôi thúc con người vươn tới, không ngừng nâng cao nhận thức để đápứng nhu cầu của thực tiễn
- Thứ ba, thực tiễn là mục đích của nhận thức
+ Mục đích nhận thức của con người không phải để trang trí cho trí tuệ củamình, mà mục đích để cải tạo thế giới khách quan, quay về phục vụ thực tiễn, chỉđạo hoạt động thực tiễn, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người
+ Những tri thức khoa học - kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa khi nóđược vận dụng vào trong thực tiễn, nêu ra những vấn đề cho nhận thức hướng tới
để giải đáp đồng thời tạo ra những phương tiện cần thiết cho việc nghiên cứu đemlại những tài liệu, dữ kiện để tổng kết, khái quát thành lý luận
- Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
+ Những tri thức của con người thu nhận được chỉ khi nào được kiểmnghiệm bằng thực tiễn mới thấy rõ tính đúng đắn hay sai lầm của chúng
+ Nhận thức bao giờ cũng phải thông qua con người cụ thể, những thế hệngười trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Do đó, nó có thể đúng hoặc sai, cóthể đầy đủ, sâu sắc hoặc chưa đầy đủ, chưa sâu sắc Vì vậy chỉ thông qua kiểmnghiệm thực tiễn thì mới xác định nhận thức đã đạt được là đúng hay sai, từ đó màsửa đổi bổ sung, hoàn thiện nhận thức, làm cho nhận thức ngày càng đầy đủ, sâusắc hơn Cho nên thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá, kiểm tra nhận thức
+ Cần hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một các biện chứng, nó vừa
có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối
Trang 40Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối: vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan
để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận đượcchân lý
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối: vì thực tiễn không đứng yên một chỗ
mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là 1 quá trình và được thực hiện bởi con ngườinên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Từ vai trò của thực tiễn chúng ta luôn phải coi trọng thực tiễn, xuất phát từthực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, phải đi sâu vào thực tiễn, coi trọng công táctổng kết thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm
- Phải gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành Khi xem xét, đánh giá conngười phải căn cứ vào kết quả hoạt động thực tiễn của họ không nên chỉ căn cứ vàolời nói
- Là cơ sở khoa học để phê phán chủ nghĩa quan liêu, giáo điều, xa rời thựctiễn…
III CON ĐƯỜNG BIỆN CHỨNG CỦA SỰ NHẬN THỨC CHÂN LÝ
Nhận thức của con người là một quá trình biện chứng phức tạp, bao gồmnhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và các hình thức khác nhau V.I.Lênin đã chỉ
ra biện chứng quá trình nhận thức chân lý là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của
sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhận thức diễn ra theo một quá trình: “Thực hành sinh hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận chỉ đạo thực hành”.
1 Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
a Trực quan sinh động
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính): là giai đoạn đầu tiên của quá
trình nhận thức, giai đoạn thấp của nhận thức, gắn liền với hoạt động thực tiễn
+ Đặc trưng của giai đoạn này là phản ánh cụ thể, cảm tính, trực tiếp bềngoài của SVHT bằng các giác quan
Kết quả của nó mới chỉ là nhận thức bề ngoài, những mặt những mối liên hệ
bề ngoài, cảm tính của SVHT, mà chưa nhận thức được mối liên hệ bản chất bêntrong, quy luật của sự vật Sự phản ánh đó hình thành khi có đối tượng tác độngvào các giác quan, nên quá trình diễn ra nhanh chóng
+ Hình thức phản ánh trực quan cảm tính thông qua: cảm giác, tri giác, biểu
tượng
Cảm giác: là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc của
mọi hiểu biết của con người Cảm giác là sự phản ánh những mặt, những thuộc tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan của con người SVHT trực tiếp tác
động vào các giác quan con người, gây nên sự kích thích của các tế bào thần kinhlàm xuất hiện các cảm giác (chẳng hạn những cảm giác về màu sắc, mùi, vị, âmthanh, nhiệt độ )
Tri giác: là sự tổng hợp của nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh tương đối
hoàn chỉnh về sự vật Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự kết hợp
của các cảm giác So với cảm giác, tri giác đem lại tri thức về sự vật đầy đủ hơn,phong phú hơn, hoàn chỉnh hơn