Nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới: Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, phát huy kết quả đạt được, khắc phục cơ bản những hạn chế, yếu kém, Ban Bí thư yêu cầu cấp Uỷ, tổ chức
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ
TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRÃI
BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HÈ NĂM 2019
Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Giàu
Nhiệm vụ được giao: Dạy lớp
Câu hỏi: Qua nội dung bồi dưỡng chính trị hè năm 2019, nhất là những nội dung liên
quan đến ngành giáo dục được đề ra trong Kết luận số 51-KL/TW, nghị quyết tăng cường bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, thù địch trong tình hình mới, chỉ thị về công tác nghiên cứu biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng, quy định về trách nhiệm, về nêu gương của cán bộ, đảng viên và chuyên đề năm 2019 Anh/ chị hãy:
- Trình bày nhận thức khái quát chung của mình về các nội dung đã được bồi dưỡng Gắn với vị trí công tác, anh/chị hãy cho biết cần làm gì để thực hiện tốt những chủ trương quy định
đó ở cơ quan, đơn vị mình đang công tác
- Đề xuất, kiến nghị những vấn đề liên quan đến ngành giáo dục, cũng như việc tổ chức bồi dưỡng chính trị hè
Trả lời
Qua nghiên cứu, học tập lớp bồi dưỡng chính trị hè cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên năm 2019 do Ban Tuyên giáo - Phòng giáo dục đào tạo Thành phố Tây Ninh tổ chức Bản thân nhận thấy đây là những quyết sách quan trọng của Đảng, đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn,
hệ trọng của đất nước, vừa cơ bản, vừa cấp bách và là sự cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra
* Về kết luận số 51-KL/TW ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW8 khóa 11 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Ban Bí thư kết luận như sau:
1 Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả bước đầu quan trọng:
- Giáo dục mầm non đạt chuẩn phổ cập cho trẻ 5 tuổi
- Giáo dục phổ thông có chuyển biến tốt hơn, được thế giới công nhận
- Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và xoá mù chữ được duy trì vững chắc
- Quy mô giáo dục nghề nghiệp ngày càng tăng, chất lượng được cải thiện
- Quản lý, quản trị đại học có chuyển biến tích cực; chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng cao; số công trình khoa học được công bố trong nước và quốc tế tăng mạnh
- Nhiều cơ sở giáo dục ngoài công lập có bước phát triển khá cả về quy mô và chất lượng
- Ngành Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện quyết tâm đổi mới, phát triển đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới công tác quản lý; đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông.
2 Hạn chế:
- Chất lượng giáo dục ở các bậc học chưa cải thiện đáng kể
- Năng lực hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
- Một bộ phận nhà giáo chất lượng thấp, số ít nhà giáo vi phạm đạo đức nghề nghiệp; cơ cầu đội ngũ nhà giáo có nơi chưa hợp lý, thừa thiếu cục bộ, nhất là thiếu giáo viên mầm non
- Công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Trang 2- Một số tiêu cực trong giáo dục chưa được giải quyết tốt gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân
3 Nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới:
Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, phát huy kết quả đạt được, khắc phục cơ bản những hạn chế, yếu kém, Ban Bí thư yêu cầu cấp Uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp sau:
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả và đồng bộ giữa các ngành, các cấp và cả hệ thống chính trị trong thực hiện Nghị quyết
- Đẩy mạnh công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lỗi sống, kiến thức pháp luật và ý thức công dân trong hệ thống giáo đục quốc dân
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xoá mù chữ và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, xây dựng xã hội học tập
- Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; bảo đảm các điều kiện cơ bản để thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa mới
- Tiếp tục đổi mới công tác quản lý; đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát; ngăn chặn, xử lý nghiêm những tiêu cực trong hoạt động giáo dục, đào tạo
- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo
* Về Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của BCH TW Đảng khóa XII
về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đế năm 2045
I Tình hình và nguyên nhân:
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về
vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên
rõ rệt Chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển được giữ vững; công tác tìm kiếm cứu nạn, an toàn hàng hải cơ bản được bảo đảm; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển khai chủ động, toàn diện Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực
về biển đạt được nhiều kết quả tích cực Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng Hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả
Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và khó khăn, thách thức trong phát triển bền vững kinh tế biển Phát triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Công tác bảo vệ an ninh, an toàn, phối hợp tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với sự cố môi trường trên biển còn nhiều bất cập Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ đề
ra chưa đạt được; lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới chưa được phát huy đầy đủ; việc thực hiện chủ trương phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn chưa đáp ứng được yêu cầu
đề ra Sự liên kết giữa các vùng biển, ven biển; vùng ven biển với vùng nội địa; địa phương có biển với địa phương không có biển và giữa các ngành, lĩnh vực còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả Ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhựa đã trở thành vấn đề cấp bách; các hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển bị suy giảm; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn nhiều hạn chế, bất cập Khoa học và công nghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tố then chốt trong phát triển bền vững kinh tế biển Hợp tác quốc tế về biển chưa hiệu quả Khoảng cách giàu - nghèo của người dân ven biển có xu hướng
Trang 3ngày càng tăng Việc giữ gìn giá trị, phát huy bản sắc văn hoá biển chưa được quan tâm đúng mức
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu Nhận thức của các cấp, các ngành, địa phương và người dân, doanh nghiệp về vai trò, vị trí của biển, phát triển bền vững kinh tế biển chưa đầy đủ; phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất về biển dựa trên hệ sinh thái chưa theo kịp với yêu cầu phát triển và xu thế thời đại Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết của một số cấp uỷ, chính quyền còn thiếu thường xuyên, quyết liệt Chính sách, pháp luật về biển chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, một số chủ trương lớn của Đảng chưa được thể chế hoá kịp thời Công tác quản lý nhà nước về biển, đảo còn nhiều bất cập Công tác quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương liên quan đến biển còn thiếu tính tổng thể, liên kết Mô hình tổ chức và công tác quản lý đối với một số tập đoàn kinh tế biển còn nhiều yếu kém, chậm được khắc phục Đầu
tư cho nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển còn hạn chế; công tác đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho người dân ven biển chưa đáp ứng được yêu cầu
II- Quan điểm, mục tiêu:
1 Bối cảnh, tình hình
Dự báo trong thời gian tới, tình hình quốc tế tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt
là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền ranh giới biển và sự bất đồng giữa các nước tại Biển Đông Ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu Phát triển bền vững, hài hoà giữa phát triển với bảo tồn biển trở thành xu thế chủ đạo Toàn cầu hoá và cách mạng khoa học - công nghệ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức Ở trong nước, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững; thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; an ninh, trật tự, an toàn xã hội vẫn là những khó khăn, thách thức lớn
2 Quan điểm
(1) Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam
(2) Phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển; bảo đảm hài hoà giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển, giữa lợi ích của địa phương có biển và địa phương không có biển; tăng cường liên kết, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát huy tiềm năng, lợi thế của biển, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước
(3) Giữ gìn giá trị, phát huy truyền thống lịch sử, bản sắc văn hoá biển đi đôi với xây dựng xã hội gắn kết, thân thiện với biển; bảo đảm quyền tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở công bằng, bình đẳng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
(4) Tăng cường quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo tồn
đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tự nhiên; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng Đẩy mạnh đầu tư vào bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái biển; bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái từ đất liền ra biển Gắn bảo vệ môi trường biển với phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, sự cố môi trường, tăng cường hợp tác khu vực và toàn
Trang 4(5) Lấy khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhân tố đột phá Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực về biển; kết hợp huy động các nguồn lực trong và ngoài nước Chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập, hợp tác quốc tế, ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu thế giới có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
3 Mục tiêu đến năm 2030
a) Mục tiêu tổng quát
Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hoá sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển
và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển
b) Mục tiêu cụ thể
- Các chỉ tiêu tổng hợp: Các chỉ tiêu về quản trị biển và đại dương, quản lý vùng bờ theo chuẩn mực quốc tế đạt mức thuộc nhóm nước trung bình cao trở lên trên thế giới Hầu hết các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến biển, đảo được thực hiện theo nguyên tắc quản lý tổng hợp phù hợp với hệ sinh thái biển
- Về kinh tế biển: Các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 - 70% GDP cả nước Các ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế; kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển
- Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) của các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn mức trung bình của cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp
từ 1,2 lần trở lên so với thu nhập bình quân của cả nước Các đảo có người dân sinh sống có hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đầy đủ, đặc biệt là điện, nước ngọt, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục
- Về khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển: Tiếp cận, tận dụng tối đa thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến và thuộc nhóm nước dẫn đầu trong ASEAN, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ biển đạt trình độ tiên tiến, hiện đại trên thế giới Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển, hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ biển có năng lực, trình độ cao
- Về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng:
+ Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật
+ Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương Ở các tỉnh, thành phố ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường
+ Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000
+ Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ
vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực Có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển
4 Tầm nhìn đến năm 2045
Trang 5Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương
* Về chỉ thị số 20-CT/TW ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng
Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW của Ban Bí thư khoá IX, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đã đạt được kết quả quan trọng, góp phần tổng kết thực tiễn lịch sử cách mạng qua các thời kỳ, rút ra kinh nghiệm, bài học, quy luật của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo; giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp tinh thần yêu nước và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng còn có những hạn chế Chất lượng nghiên cứu, biên soạn một số công trình lịch sử Đảng chưa cao; công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ chưa được chú trọng đúng tầm mức
Để tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng trong thời gian tới, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
1- Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng và toàn xã hội, trước hết là của
người đứng đầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng đối với công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới Làm tốt công tác này nhằm phát huy truyền thống, lịch sử vẻ vang của Đảng, là cội nguồn sức mạnh, là động lực tinh thần to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc
2- Các cấp uỷ, trực tiếp và thường xuyên là thường trực cấp uỷ tăng cường lãnh đạo, chỉ
đạo đối với công tác lịch sử Đảng Quan tâm việc sưu tầm, khai thác tư liệu, nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng Chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lịch sử Đảng có kiến thức chuyên ngành sâu rộng, có bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao; bảo đảm điều kiện, cơ sở vật chất, kinh phí cần thiết cho công tác quan trọng này
3- Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, nâng cao chất lượng, tính khách quan, khoa học của các công trình lịch sử Đảng ở các cấp; chú trọng nghiên cứu, biên soạn biên niên sự kiện lịch sử Đảng, văn kiện Đảng và về quan hệ quốc tế của Đảng
Quan tâm sưu tầm, khai thác bổ sung tư liệu lịch sử Đảng, nhất là tư liệu lịch sử Đảng ở nước ngoài và tư liệu qua phỏng vấn các nhân chứng lịch sử Làm tốt công tác bảo quản, lưu trữ
tư liệu lịch sử Đảng, đồng thời đẩy mạnh, tiến tới số hoá toàn bộ tư liệu lịch sử Đảng
Đổi mới phương pháp nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng theo hướng gắn liền với nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nghiên cứu lịch sử dân tộc Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, sưu tầm tư liệu lịch sử Đảng ở nước ngoài và nghiên cứu lịch sử một số đảng cầm quyền trên thế giới
4- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng trong Đảng và toàn xã hội, đặc
biệt là thế hệ trẻ với phương pháp, cách thức đa dạng, phù hợp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; làm tốt công tác thông tin, giới thiệu lịch sử Đảng ta với bạn bè quốc tế Chủ động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử Đảng ta
* Về chuyên đề năm 2019 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm
lo đời sống nhân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Quy định số 08-QĐi/
TW về vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp
1 Về tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân
Trang 6Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân thể phải có thái độ đánh giá cao vai trò, vị trí nhân dân
- Theo Bác, muốn thật tôn trọng nhân dân phải hiểu dân Chính tài dân, sức dân, dân, quyền dân, lòng dân, khôn khéo, hăng hái, anh hùng tạo nên “cái gốc” dân Cùng với thái độ đánh giá cao vai trò nhân dân, ý thức tôn trọng nhân dân phải đặc biệt ý không xâm phạm đến lợi ích, quyền lợi hợp pháp, không xúc phạm nhân dân Phải luôn tôn trọng giữ gìn của công, của nhân dân
- Phát huy dân chủ khía cạnh biểu ý thức tôn trọng nhân dân Từ chỗ đánh giá cao vai trò dân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm Đảng, Nhà nước việc phát huy quyền làm chủ nhân dân, cho họ có lực làm chủ, biết hưởng, dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm
- Dân chủ được Người giải thích ngắn gọn, súc tích dân làm chủ dân chủ Trong nước dân chủ địa vị cao dân, dân quý nhất, lực lượng nhân dân mạnh Phát huy dân chủ phát huy tài dân Muốn vậy, phải chịu khó nghe dân, gặp dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân Học hỏi dân để lãnh đạo dân Theo Hồ Chí Minh “Không học hỏi dân không lãnh đạo dân Có biết làm học trò dân, làm thầy học dân”
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh chăm lo đời sống nhân dân người, người, trước hết là vì dân do dân Người nói “tôi có ham muốn, ham muốn bậc, cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hòan tòan tự do, đồng bào có cơm ăn áo mặc, học hành”
- Theo Bác, muốn có sức dân, lòng dân phải chăm lo đời sống dân Trước lúc xa, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm “đầu tiên là công việc đối với con người” Người dặn trong Di chúc “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”
- Thứ hai, đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng Nhân dân thể hiện nổi bật ở sự thống nhất tư tưởng đạo đức và tư tưởng chính trị ở Người
- Ý thức tôn trọng nhân dân ở khía cạnh đạo đức cần phải khai thác việc coi trọng, đề cao nhân dân Tôn trọng nhân dân đạo đức Hồ Chí Minh đề cao ý dân, sức dân, “dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong” Vì vậy, “đối với dân ta đừng có làm điều trái
ý dân Dân muốn gì, ta phải làm nấy” Người yêu cầu cán bộ, đảng viên hết lòng, phục vụ nhân dân, yêu kính nhân dân, thật tôn trọng nhân dân
- Đạo đức Hồ Chí Minh phát huy dân chủ hiểu ngắn gọn: dân là chủ và dân làm chủ Từ chỗ nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức, lực làm chủ, phát triển văn hóa trị tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào công việc Đảng, Chính phủ, điều quan trọng tạo điều kiện cho dân “dùng quyền dân chủ mình, dám nói, dám làm”
- Đạo đức Hồ Chí Minh chăm lo đời sống nhân dân thể hiện rất rõ quan điểm Người nói điều tóm tắt, đạo đức cách mạng là: Đặt lợi ích Đảng nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng cá nhân Hết lòng phục vụ nhân dân Chăm lo đời sống nhân dân là sứ mệnh Đảng ta từ đời “Đảng không phải là tổ chức để làm quan phát tài Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”
- Trăn trở đời sống Nhân dân, Di chúc, Người không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước
“chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí tiền bạc nhân dân”
- Thứ ba, phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng nhân dân xuất phát cách tự nhiên từ nhân cách, cuộc đời, cái tâm, cái đức vì nước vì dân của Người Phong cách tôn trọng nhân dân của
Hồ Chí Minh thể nhiều cách Hồ Chí Minh có cách giao tiếp hòan toàn mới giữa lãnh tụ và quần chúng nhân dân, thể thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng người
- Phong cách Hồ Chí Minh phát huy dân chủ xuất phát từ chỗ tôn trọng nhân dân, đề cao vai trò, vị trí nhân dân Dù bận nhiều công việc đối nội, đối ngoại, với dân, đến với quần chúng, người “không quan trọng” để học dân, hỏi dân, hiểu dân, nghe dân nói, thấy dân làm, để nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý nhu cầu thường trực của Bác
- Để thực phong cách dân chủ, cần phải hiểu: “nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu bổ ích Uy tín người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc
Trang 7ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm e sợ quần chúng phê bình”, Người chỉ rõ: “để phát huy ưu điểm, điều quan trọng dân nói Dân biết nhiều việc mà cấp lãnh đạo không biết Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay
2 Phong cách Hồ Chí Minh chăm lo đời sống cho nhân dân:
+Trong sự nghiệp kiến thiết chủ nghĩa xã hội, Người cho “hễ có người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là chưa làm tròn nhiệm vụ” Người nói: “một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào chịu cực khổ là 1 ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”, Người biến tình thương thành trách nhiệm bản thân
+Theo Người, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải gần gũi nhân dân, quan tâm đến việc nhỏ cho đời sống hằng ngày của Nhân dân “Chính sách Đảng Chính phủ phải chăm nom đến đời sống nhân dân Nếu dân đói, Đảng Chính phủ có lỗi; dân rét Đảng Chính phủ có lỗi; dân dốt Đảng Chính phủ có lỗi; dân ốm Đảng Chính phủ có lỗi Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, phải quan tâm đến đời sống nhân dân Phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất tiết kiệm Dân đủ ăn đủ mặc thì chính sách của Đảng Chính phủ đưa ra sẽ
dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh sách ta dù có hay không thực hiện được”
+Nói chuyện hội nghị sản xuất cứu đói, Người rõ: “Khi thiếu gạo, cán bộ không biết tự
tổ chức sản xuất tự cứu, không biết tổ chức nhân dân giúp đỡ nhau Không biết tổ chức trưng vay
+Theo Hồ Chí Minh, tham nhũng là tội ác với dân, cần nghiêm trị tất kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, cương vị gì Thực có hiệu xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân
+ Năm 2019 là năm toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019); 70 năm Bác viết tác phẩm “Dân vận” (1949 - 2019);
50 năm tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969 - 2019)
+ Trong bối cảnh nêu trên, việc thực hiện có hiệu quả chủ đề xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân trong năm 2019 và các năm tiếp theo chính là góp phần thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” Trong đó, cần chú trọng một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
-xã hội:
Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về "dân làm gốc"; chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân tự do sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân
Nghiêm túc triển khai thực hiện: Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị khóa XI “về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của
Bộ Chính trị quy định “về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”; Quy định 124-QĐ/TW ngày 2-2-2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị
-xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán
bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”
Thứ hai, đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu, cần chủ động, tích cực trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường; phát huy sức dân, huy động nhân dân tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợi ích của nhân dân
Thực hiện nghiêm Quy định 08-Qđi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” Nghiêm túc thực hiện yêu
Trang 8XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là “cán bộ chủ chốt và cán bộ dân
cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm
tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời”
.Thứ ba, đối với cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị:
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ Thực hiện tốt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất
là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" Tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban
Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”
Trong đó, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân./
3 Phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân
- Phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng Nhân dân xuất phát 1 cách tự nhiên từ nhân cách, cuộc đời, cái tâm, cái đức vì nước, vì dân của Người Hồ Chí Minh là con người sinh ra từ Nhân dân, sống hết lòng với dân cuối đời lại muốn trở lại với Nhân dân, làm 1 cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với cụ già hái củi, trẻ em, chăn trâu, không dính líu với vòng danh lợi Người thường nói không có Nhân dân không có Bác Hồ Chí Minh có trái tim cùng đập cùng nhịp, có tâm hồn biết xót xa đến thân phận người cùng khổ của Nhân dân Chính nhân cách lớn và cuộc đời oanh liệt Hồ Chí Minh đã tạo ra phong cách tôn trọng Nhân dân ở Người
- Phong cách tôn trọng Nhân dân của Hồ Chí Minh thể nhiều cách Người chú ý lắng nghe
ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình mình
- Phong cách Hồ Chí Minh phát huy dân chủ xuất phát từ chỗ tôn trọng Nhân dân, đề cao vai trò, vị trí Nhân dân Dù bận nhiều công việc đối nội, đối ngoại, với dân, đến với quần chúng, người “không quan trọng” để học dân, hỏi dân, hiểu dân, nghe dân nói, thấy dân làm, để nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý là nhu cầu thường trực Bác
+Phong cách ấy làm cho lãnh tụ quần chúng hòa nhập với nhau trong sự đồng cảm sâu sắc “Cán bộ đi về hợp tác xã không phải đi vào nhà chủ nhiệm để có chỗ có cơm nước đàng hoàng mà phải đi vào nhân dân”, phải “ba cùng”
+Mỗi cán bộ khi thực hiện phong cách phát huy dân chủ phải bắt đầu từ 1 khẩu hiệu, mỗi
1 công việc, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến kinh nghiệm dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng dân chúng
+Theo Hồ Chí Minh, dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến Những sáng kiến khen ngợi, người thêm hăng hái người khác học theo
- Phong cách Hồ Chí Minh chăm lo đời sống cho Nhân dân: trên cơ sở nhận thức “dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn chẳng làm được việc gì cả, tư tưởng phong cách Hồ Chí Minh thể hiện đậm nét trong việc chăm
lo đời sống Nhân dân
+Theo Người, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải gần gũi Nhân dân, quan tâm đến việc nhỏ cho đời sống ngày Nhân dân “Chính sách Đảng Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân
Trang 9+Hồ Chí Minh luôn luôn gương mẫu, thực hiện nói đi đôi với làm, “gần dân” thì phải tăng cường tiếp xúc với dân
* Liên hệ trách nhiệm vụ, trách nhiệm của bản thân:
Là một giáo viên, tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà nghị quyết TW 8 khóa XI
đã đề ra Bản thân cần tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, giáo viên và học sinh những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với các hoạt động hiệu lực, hiệu quả bằng những hành động cụ thể:
– Luôn luôn giữ vững quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Học tập và nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
– Cần xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;
– Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của đảng pháp luật Nhà nước, vận động gia đình và người thân thực hiện tốt các quy định của địa phương nơi cư trú, thực hiện tốt lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực, luôn giữ gìn đoàn kết nội bộ, tiếp thu và lắng nghe ý kiến đóng góp đồng chí trong đơn vị;
– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lí và giảng dạy, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn; tu dưỡng đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất của nhà giáo;
– Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục, định hướng phát triển học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức, là tấm gương cho học sinh noi theo
– Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội
* Các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết ở đơn vị công tác
– Bản thân tích cực tuyên truyền trong quần chúng nhân, giáo viên và học sinh những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu;
– Luôn luôn giữ vững quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Học tập và nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
– Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của đảng pháp luật Nhà nước, vận động gia đình và người thân thực hiện tốt các quy định của địa phương nơi cư trú, thực hiện tốt lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực, luôn giữ gìn đoàn kết nội bộ, tiếp thu và lắng nghe ý kiến đóng góp đồng chí trong đơn vị;
– Đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán
bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị;
– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác giảng dạy, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội; trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác
Trên đây là bài viết thu hoạch của cá nhân về tiếp thu đợt học tập chính trị hè năm 2019
Người viết