Theo khảo sát sơ bộ thì đa số các loài ốc gây ra các vụ ngộ độc này thuộc họ Nassariidae và triệu chứng đa số nạn nhân trong các trường hợp này có triệu chứng của ngộ độcTetrodotoxin viế
Trang 1Đề tài:
Khảo sát độc tố tetrodotoxins ở một số loài trong họ ốc bùn Nassariidae tại vùng biển Khánh Hòa bằng phương pháp sắc ký
HPLCLời cảm ơn
Trong khoảng thời gian thực tập, để có được những buổi thực tập bổ ích và hiệu quả, tôi
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, sự hướng dẫn tận tình của nhà trường, quý thầy cô, bạn bè
và gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành báo cáo này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo, quý thầy cô trường đại học NhaTrang, đặc biệt là quý thầy cô trong viện công nghệ sinh học và môi trường đã tạo cơ sởvật chất, truyền đạt kiến thức, và tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian qua Đồng thời tôixin chân thành cảm ơn GVHD là Th.s Chính đã đóng góp ý kiến và tận tình chỉ dẫn để tôihoàn thành báo cáo này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ban lãnh đạo, cán bộ, nhân viên của Viện Hải dươnghọc Nha Trang đã tạo điều kiện để tôi có cơ hội tiếp cận với thực tế Và đặc biệt tôi xincảm ơn đến cử nhân Đặng Quốc Minh, TS Phạm Xuân Kỳ và tập thể phòng hóa sinh đãtận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt thời gian thực tập cũng như hoàn thành tốt báocáo
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân đã quantâm, động viên, giúp đỡ và điều kiện tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gianhọc tập
Trong quá trình thực tập không thể tránh khỏi sự thiếu sót, rất mong nhận sự đónggóp ý kiến quý báu của quý thầy cô và các bạn để bài báo cáo được hoàn thiện hơn
Nha Trang, ngày tháng năm
Người thực hiện
Đỗ Thị Li Na
Trang 2Mở Đầu
Hiện nay ở nước ta tình hình ngộ độc do ăn phải các loài ốc biển có độc ngày càng tăng,trong thời gian gần đây, rải rác ở nhiều địa phương vùng ven biển đã ghi nhận một số vụngộ độc khi sử dụng ốc biển làm thức ăn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người ăn.Điển hình như trường hợp tử vong ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa vào ngày26/10/2014 do ăn ốc bùn bống; trường hợp tử vong tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên vàongày 23/11/2014 do ăn ốc biển lạ chưa xác định loài; trường hợp tử vong tại xã PhướcDiêm, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận ngày 15/12/2014 do ăn ốc bùn răng cưa Mớiđây nhất là ngày 05/1/2015 đã có 03 ngư dân tỉnh Thanh Hóa tử vong do ăn ốc biển trênthuyền khi đang đánh bắt thủy sản tại vùng biển tỉnh Hà Tĩnh
Theo khảo sát sơ bộ thì đa số các loài ốc gây ra các vụ ngộ độc này thuộc họ Nassariidae
và triệu chứng đa số nạn nhân trong các trường hợp này có triệu chứng của ngộ độcTetrodotoxin( viết tắc là TTX), một loại độc tố thần kinh cực mạnh có thể gây tử vong ởmột người trưởng thành với liều thấp từ 1-2mg Hiện nay nguồn gốc của độc tố này trongcác loài ốc chưa được biết rõ ràng Đặc biệt, không phải tất cả các cá thể trong cùng mộtloài đều chứa độc tố, và độc tính cũng rất khác biệt theo từng cá thể
Để biết thêm thông tin về các loài ốc độc trong họ này cũng như bổ sung dữ liệu về độc tố
ở các loài sinh vật biển nhằm góp phần cho việc sử dụng thực phẩm biển một cách an
toàn Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Khảo sát độc tố tetrodotoxins ở một số loài trong
họ ốc bùn Nassariidae tại vùng biển Khánh Hòa bằng phương pháp sắc ký HPLC” Với mục tiêu: Cung cấp dữ liệu độc tố của một số loài thuộc họ ốc bùn Nassariidae nhằm
góp phần an toàn thực phẩm
Trang 3Chương 1: Tổng quan
1.1 Tìm hiểu chung về viện hải dương học
1.1.1 Giới thiệu viện hải dương học
Trải qua hơn 90 năm hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng gópđược một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục khaithác và bảo vệ biển Đông, bao gồm 1100 ấn phẩm đã được công bố, trong đónghiên cứu về tính đa dạng sinh học chiếm 62,6%, về vật lý hải dương chiếm11,6%, về sinh thái môi trường chiếm 7,6%, về địa chất địa mạo biển chiếm 5,4%,
về hóa học biển và về hóa sinh chiếm 4,4% Qua đó, có thể thấy được Viện HảiDương Học đã góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu khoa học của đất nước
Chức năng: Viện Hải dương học có chức năng nghiên cứu cơ bản, điều tra cơ bản,
phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực hải dương học và các lĩnh vực khác có liên quan theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ bản về các quá trình, quy luật hải dương học và sinh thái học, các hiện tượng đặc biệt của biển và đại dương, tương tác thủy quyển - khí quyển - thạch quyển và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu trên Biển Đông;
Điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học, đặc điểm sinh học - sinh thái - sinh hóa thủy sinh vật, nguồn lợi sinh vật - phi sinh vật và môi trường biển Việt Nam;
Nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học cơ bản vào thực tiễn quản lý và
sử dụng hợp lý tài nguyên, nuôi trồng thủy sản bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và chủ quyền quốc gia trên biển, dự báo các quá trình hải dương, khảo sát phục vụ thiết kế công trình biển và ven bờ;
Xây dựng bộ mẫu sinh vật và phi sinh vật, trao đổi mẫu vật trong và ngoài nước, chuyển giao kỹ thuật bảo tàng biển;
đ) Triển khai các kết quả nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực hải dương học và các lĩnh vực khoa học có liên quan;
Dịch vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực hải dương học và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan;
Đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ cao trong lĩnh vựchải dương học và các lĩnh vực khác có liên quan;
Trang 4 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải dương học và các lính vực khác có liên quan;
Quản lý về tổ chức, bộ máy; quản lý và sử dụng công chức, viên chức của đơn
vị theo quy định của Nhà nước và của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam;
Quản lý về tài chính, tài sản của đơn vị theo quy định của Nhà nước;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giao
Trang 51.1.2 Quy mô và cơ cấu tổ chức
Đơn vị quản lý nghiệp vụ Bảo tàng hải dương học
Phòng Quản lý tổng hợp Phòng Truyền thông và Giáo dục môi trường
Các phòng chuyên môn Phòng Quản lý chuyên môn Bảo tàng
Phòng Thủy - Địa hóa Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường
biển
Phòng Động vật có xương sống biển Trạm quan trắc và phân tích môi trường biển
Miền Nam
Phòng Công nghệ nuôi trồng Trung tâm Tư vấn, Ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ biển
Phòng Hóa sinh biển Đội tàu Nghiên cứu và khảo sát biển
Trang 6
1.1.3 Các lĩnh vực hoạt động
Nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng trong lĩnh vực hải dương học
và tài nguyên - môi trường biển
Dịch vụ KH&CN: Cung cấp các dịch vụ thông tin, truyền thông và đào tạo liênquan đến khoa học và công nghệ biển
Thực hiện các hợp đồng tư vấn, dịch vụ, knh tế về khoa học biển và chuyển giao các thành tựu khoa học, giải pháp công nghệ vào thực tiễn
Xây dựng các tiêu bản sinh vật và phi sinh vật biển; Quy hoạch, hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật bảo tàng về biển
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải dương học và tài nguyên - môi tường biển
1.2Tổng quan tài liệu
1.2.1 Tổng quan về độc tố TETRODOTOXINS (TTXs)
Khái niệm: Tetrodotoxin (TTX) là một chất độc thần kinh cực mạnh, là một chấthữu cơ phi protein, có khả năng tác động trực tiếp lên kênh trao đổi ion Na+ củamàng tế bào Ở liều thấp 1-2 mg gây ra hiện tượng tê liệt và nặng hơn có thể dẫnđến tử vong ở người trưởng thành nặng khoảng 75-100 kg [5]
Hiện nay, TTX và hơn 30 dẫn xuất của nó (hình 1) đã được phát hiện [9] với mức
độ độc tính khác nhau[6] Các dẫn xuất thường gặp trong sinh vật biển là TTX,
4epi-TTX và 4,6-anhydroTTX
Trang 7TTX-8-O-hemisuccinate H OH OH CH2OH OOC(CH2)2COO
Hình 1: Công thức cấu tạo và một số dẫn xuất của TTX theo Bane và cs, 2014
Nguồn gốc: Tetrodotoxin tìm thấy trong da, gan, cơ thịt một số loài như: cánóc, một số loài động vật thân mềm (bạch tuộc, ốc phổi - Pleurobranchaea
Trang 8maculate), giun dẹp [5] và động vật trên cạn như sa giông[7] TTXs được biết là
tích lũy trong sinh vật biển thông qua chuỗi lưới thức ăn [14] hoặc do vi sinh vậtcộng sinh[13] Người ta cho rằng, tetrodotoxin sinh ra do sự ký sinh của một sốloài phiêu sinh động vật lên cơ thể thủy sản Tuy nhiên, nguồn gốc sinh ratetrodotoxin hiện nay còn chưa biết rõ
Công thức cấu tạo: là hợp chất dị vòng, có công thức phân tử C11H17N3O8 [2]
Cấu trúc : Octahydro-12-(hydroxymethyl)-2-imino-5,9:7,10a-dimethano- [1,3]dioxocino[6,5-d]pyrimidine-4,7,10,11,12-pentol
10aH- Đặc tính: là một chất rắn kết tinh màu trắng, sẫm màu ở nhiệt độ trên 2200 C nhưngkhông nóng chảy [2] , là độc tố tan trong nước, bền nhiệt và pH Không bền trongmôi trường kiềm và môi trường axit mạnh, có trọng lượng phân tử: 319.27g/mol[2]
Liều lượng gây độc : Tetrodotoxin có khả năng gây độc rất cao, tỉ lệ tử vong gấp10.000 so với cyanua
- Liều gây độc được xác định là 1- 4mg
- LD 50 8–20 mg/kg lượng sử dụng
Cơ chế tác động: Vận chuyển ion thần kinh, tetrodotoxin ngăn cản sự tăng điện ápgây ra bởi Na của tế bào thần kinh, sự truyền dẫn xung thần kinh Guanidinium củađộc tố làm nghẽn mạch,vì gây ra sự thay thế Na trong việc phát điện khi màng tếbào bị kích thích, và vật còn lại của phân tử máu trong mạch
Triệu chứng: Tê, ngứa môi và phía trong miệng, sau đó yếu, liệt cơ hoành, cơ ngực
và cuối cùng là hạ huyết áp Các triệu chứng này xảy ra sau 10 phút và dẫn đến tửvong trong vòng 30 phút.[3]
Đường xâm nhập: Ăn phải, hít phải, dính trên da
Biện pháp phòng ngừa : Không nên dùng các loại thực phẩm chứa độc tốtetrodotoxin làm thức ăn bởi lẽ chế độ xử lý nhiệt thông thường không loại trừđược độc tố này Hiện nay vẫn chưa có thuốc giải độc đặc hiệu cho các trường hợpngộ độc do độc tố Tetrodotoxin Biện pháp cấp cứu, điều trị hữu hiệu nhất là kíchthích cho bệnh nhân nôn càng sớm càng tốt; rửa dạ dày; uống than hoạt tính để thảiloại bớt chất độc; điều trị triệu chứng kịp thời: hỗ trợ hô hấp, truyền dịch, trợ timmạch…
1.2.2 Vài nét về ốc bùn.
Trang 9Ốc bùn là loại ốc thuộc họ Nassariidae, chủ yếu sống ở đáy bùn hoặc cát, phân bốrộng từ vùng triều đến vùng dưới triều
Họ Nassariidae có đa dạng sinh học cao nhất ở khu vực Ấn Ðộ - Tây Thái Bình Dương,gồm có 211 loài[8] Ở Việt Nam, hiện có 64 loài đã được ghi nhận , trong đó 15 loài bướcđầu đã được phát hiện ở vùng biển Khánh Hòa[1] Trong số đó có một số loài chứa độc tố
TTX như N sufflatus[12], N papillosus[11], N siquijorensis [10]và N albescens[9],
Hình 2: Một số loại ốc bùn có tiền sử gây độc ở vùng biển Khánh Hòa
Những loại ốc bùn này thường sinh sống ở đáy biển ven bờ Việt Nam, chúng có độc tốTetrodotoxin là loại độc tố thần kinh cực mạnh, có trọng lượng phân tử thấp , do có cấutrúc và tính chất hóa học khá đặc biệt (bền nhiệt, bền pH ) nên không bị phân hủy, biếntính trong quá trình xử lý ở nhiệt độ cao khi chế biến, do đó độc tố có thể tồn tại trong cácsản phẩm thức ăn đã được chế biến chín như xào, luộc, hấp , thậm chí kể cả sản phẩmcấp đông, đóng hộp.[3]
Để dự phòng ngộ độc do ốc biển độc, Cục An toàn thực phẩm khuyến cáo:
- Tuyệt đối không khai thác, đánh bắt và tuyệt đối không sử dụng, không “thử nghiệm” các loại ốc biển nghi ngờ có độc, các loài ốc biển lạ, màu sắc sặc sỡ (ốc ma) để chế biến thành thức ăn
- Đối với các loại ốc biển khi sử dụng làm thức ăn đều phải sơ chế, chế biến bảo đảm an toàn: ngâm, thả vào môi trường để nước để kích thích đào thải hết căn bã, chất tiết trong ruột, tuyến bọt (nước muối nhạt, nước vôi nhạt, dấm ăn…); rửa sạch bằng nước sạch, để ráo nước, đun chín kỹ và ăn ngay sau khi chế biến Tuyệt đối không ăn sống, ăn tái, khôngqua sơ chế, vệ sinh sạch sẽ
Trang 10- Và tuyệt đối không nên ăn những loài ốc có tiền sử gây ngộ độc hoặc chưa được kiểm chứng chắc chắn an toàn thực phẩm.
- Nếu sau khi ăn ốc biển mà có các biểu hiện, triệu chứng khác thường như tê, rát bỏng ở môi và đầu lưỡi, đau đẩu, đau bụng, buồn nôn… cần đến ngay các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời
1.2.3 Tổng quan về phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
HPLC là chữ viết tắt 4 chữ cái đầu bằng tiếng Anh của phương pháp sắc ký lỏnghiệu năng cao (High Performance Liquid Chromatography), trước đây gọi là phương phápsắc ký lỏng cao áp (High Pressure Liquid Chromatography)
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) ra đời năm 1967-1968 trên cơ sởphát triển và cải tiến từ phương pháp sắc ký cột cổ điển
Phương pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến vì nhiều lý do: có
độ nhạy cao, khả năng định lượng tốt, thích hợp tách các hợp chất khó bay hơi hoặc dễphân hủy nhiệt
1.2.3.1 Khái niệm:
HPLC là một phương pháp tách hóa lý dựa vào ái lực khác nhau của cácchất khác nhau với hai pha luôn tiếp xúc và không đồng tan với nhau là phađộng và pha tĩnh Trong đó pha động là chất lỏng chảy qua cột với một tốc
độ nhất định và pha tĩnh chứa trong cột là chất rắn đã được phân chia dướidạng tiểu phân hoặc một chất lỏng phủ lên một chất mang rắn, hay một chấtmang đã được biến đổi bằng liên kết hóa học với các nhóm chức hữu cơ.Quá trình sắc ký xảy ra dựa trên các cơ chế : hấp phụ, phân bố ,trao đổi Ionhay phân loại theo kích cỡ ( Rây phân tử )
1.2.3.2 Nguyên lý hoạt động của HPLC:
Hỗn hợp cần phân tích được hòa tan trong một dung môi thích hợp, tiêm mộtthể tích chính xác vào bộ phận tiêm mẫu và được mang vào cột bởi một dòngchảy liên tục của cùng dung môi (pha động) trong đó mẫu được hòa tan Sựtách diễn ra trong cột có chứa những hạt xốp có diện tích bề mặt lớn (pha tĩnh).Các cấu tử trong mẫu liên tục tương tác với pha tĩnh
Pha động (còn gọi là chất rửa giải) được bơm qua cột được nhồi chặt các hạtsắc kí Với việc chọn pha động và vật liệu nhồi cột thích hợp, các cấu tử trongmẫu sẽ di chuyển dọc trên cột với những tốc độ khác nhau và tách ra khỏi nhau
vì trong hỗn hợp các chất phân tích, do cấu trúc phân tử và tính chất hóa lý củacác chất khác nhau nên khả năng tương tác của chúng với pha động và pha tĩnh
Trang 11khác nhau [15] Khi những cấu tử lần lượt thoát ra khỏi cột và đi vào bộ phậnoxy hóa để thực hiện các phản ứng oxy hóa khử để phản ứng với các chất còn
dư thừa sau đó đi vào detector thích hợp, ở đây tín hiệu được ghi lại, xử lí vàchuyển ra ngoài một sắc kí đồ, cho biết sự hiện diện của mỗi cấu tử dưới dạngmột peak Khi đó lượng cấu tử có trong mẫu được tính toán dựa vào chiều caohoặc diện tích của peak của nó
1.2.3.3 Các bộ phân cơ bản của HPLC
Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao gồm có các bộ phận cơ bản như sau:
Hình 3: Các bộ phận cơ bản của Hplc
1.2.3.3.1 Bình chứa dung môi
Máy HPLC thường có 4 đường dung môi vào đầu bơm cao áp cho phép chúng ta sử dụng 4 bình chứa dung môi cùng một lần để rửa giải theo tỉ lệ mong muốn và tổng tỉ lệ của 4 đường là 100%
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm, ít khi sử dụng 4 đường dung môi cùng một lúc mà thường sử dụng 2 hoặc 3 đường để cho hệ pha động luôn được pha trộn đồng nhất hơn, hệ pha động đơn giản hơn giúp ổn định quá trình rửa giải
Mục đích: tạo nồng độ pha động theo gradient để thực hiện rửa giải trong quá trình sắc kí
Trang 12Lưu ý: Tất cả dung môi dùng cho HPLC đều phải là dung môi tinh khiết
sử dùng cho HPLC Tất cả các hóa chất dùng để chuẩn bị mẫu và pha hệ đệm đều phải là hóa chất tích khiết dùng cho phân tích
Việc sử dụng hóa chất tinh khiết nhằm tránh hỏng cột sắc ký hay nhiễu đường nền, tạo nên các peak tạp trong quá trình phân tích
Trong các trường hợp trên đều dẫn đến sai kết quả phân tích
Bơm cần đáp ứng một số yêu cầu khá cao về tính năng như sau:
Phía trong bơm không bị tấn công bởi bất kỳ loại dung môi nàođược sử dụng
Một khoảng rộng của tốc độ dòng có thể chọn lựa và dễ thay đổitốc độ dòng
Dễ thay đổi từ việc sử dụng dung môi này đến loại dung môikhác
Dễ bảo dưỡng và sửa chữa
1.2.3.3.4 Bộ phận tiêm mẫu
Trang 13Mục đích: Để đưa mẫu vào dòng pha động để nạp vào cột sắc kí với thểtích bơm có thể thay đổi.
Có 2 cách đưa mẫu vào cột: bằng tiêm mẫu thủ công và tiêm mẫu tự động(autosamper)
Mẫu được bơm vào cột nhờ hệ thống van mẫu Người ta bơm mẫu vàovòng mẫu với thể tích thường là từ 10 đến 20 μl
Ngày nay, hầu như tất cả hệ thống HPLC đều sử dụng van nạp mẫu.Bơm tiêm sẽ đưa mẫu đến van nạp mẫu để nạp mẫu vào cột
Cấu tạo của van nạp mẫu:
- Van nạp mẫu gồm có 6 cổng, trong đó 1 cổng để nạp mẫu vàovòng nạp mẫu
- Vòng nạp mẫu có thể tích cố định ở áp suất thường thể tích vòngnạp mẫu thừng dùng là 10-100 microlit
- Van có thể điều chỉnh để xoay theo các vị trí LOAD và INJECT
Nguyên tắc hoạt động của van nạp mẫu:
- Khi van nạp ở vị trí LOAD: mẫu được nạp qua bơm tiêm vàovòng ngoài, lcs đó pha động chảy trực tiếp qua cột sắc kí
- Khi van nạp xoay đến vị trí INJECT: vòng chứamẫu trở thànhmột bộ phận trong dòng chảycủa pha động và mẫu sẽ theo phađộng vào cột
1.2.3.3.5 Cột sắc ký
Vai trò: là công cụ chính để tách riêng các cấu tử có trong mẫu.Cột pha tĩnh thông thường làm bằng thép không rỉ, chiều dài cột thay đổi
từ 5-25cm đường kính trong 1-10mm, đường kính ngoài khoảng 6.35
mm Vận hành ở điều kiện lưu lượng1-2ml/phút
Cột được nhồi các hạt có cở đường kính 3, 4, 5, 10 µm Chất nhồi trong cột thường là silicagen hoặc silicagen có bọc hoặc gắn hóa học một màng mỏng chất hữu cơ Bên cạnh silicagen người ta còn dùng Al2O3, hạt polime xốp, hạt chất trao đổi ion
Chất nhồi cột phụ thuộc vào lọai cột và kiểu sắc ký
Trang 14Cột bảo vệ
Sau bộ phận tiêm mẫu và trước cột tách cần phải lắp cột bảo vệ (hay bộlọc tiền cột) giúp bảo vệ những cột đắt tiền khỏi sự xâm nhập của củacác hạt bẩn nhỏ có thể có trong dung môi và trong mẫu tiêm vào Cộtbảo vệ không làm thay đổi hiệu quả tách của cột Nó được thiết kế vớimột thể tích tổng cộng tương đối nhỏ và thể tích chết nhỏ, nhờ vậykhông làm doãng pic Cột bảo vệ được đổ đầy các hạt nhồi tráng phimmỏng hoặc có pha liên kết như trong cột phân tích Cột bảo vệ có mộtdung lượng xác định cho chất nhiễm bẩn Số lần tiêm mẫu, sự suy giảmcủa hình dáng pic hoặc độ phân giải là dấu hiệu cần phải thay cột bảo vệ
1.2.3.3.6 Detector (Đầu dò)
Là bộ phận phát hiện các chất khi chúng ra khỏi cột và cho các tín hiệu ghi trên sắc ký đồ để có thể định tính và định lượng Tùy theo tính chất của các chất phân tích mà người ta lựa chọn lọai đầu dò phù hợp lựa chọn detector dựa vào bản chất, nồng độ chất tan, độ nhạy, phạm vi tuyến tính của detector, tính tương thích với dung môivà chế độ nhạy của pha động sử dụng và cả tính kinh tế và chi phí
Tín hiệu đầu dò thu được có thể là: độ hấp thụ quang, cường độ phát xạ, cường độ điện thế, độ dẫn điện, độ dẫn nhiệt, chiết suất,…
Các detector được sử dụng phổ biến nhất:
- Đầu dò quang phổ tử ngọai 190-360nm để phát hiện UV
- Đầu dò quang phổ tử ngoại khả kiến (UV-VIS) (190-900nm) để phát hiện các chất hấp thụ quang Đây là lọai đầu dò thông dụng nhất
- Đầu dò hùynh quang (RF) để phát hiện các chất hữu cơ chứa huỳnh quang tự nhiên và các dẫn suất có huỳnh quang
- Đầu dò DAD (Detector Diod Array) có khả năng quét chồng phổ để định tính các chất theo độ hấp thụ cực đại của các chất
- Đầu dò khúc xạ (chiết suất vi sai) thường dùng đó các loại đường
- Đầu dò điện hóa: đo dòng, cực phổ, độ dẫn
- Đầu dò đo độ dẫn nhiệt, hiệu ứng nhiệt,…
1.2.3.3.7 Bộ phận ghi nhận tín hiệu
Bộ phận này ghi tín hiệu do đầu dò phát hiện
Đối với các hệ thống HPLC hiện đại, phần này được phần mềm trong hệ