Đề số 17 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình chọn: Đáp án và lời giải chi tiết Đề số 17 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 18 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 19 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 20 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 21 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Xem thêm: ĐỀ THI VÀO 10 MÔN NGỮ VĂN Đề bài Câu 1: (6.0 điểm) Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu: “Lúc đó nồi cơm sôi lên sùng sục. Nó hơi sợ, nó nhìn xuống, vẻ nghĩ ngợi, nhắc không nổi, nó lại nhìn lên. Tiếng cơm sôi như thúc giục nó. Nó nhăn nhó muốn khóc. Nó nhìn nồi cơm rồi nhìn lên chúng tôi. Thấy nó luýnh quýnh tôi vừa tội nghiệp vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào nó cũng chịu thua. Nó loay hoay rồi nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ. Con bé đáo để thật.” a. Nhận biết Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? Văn bản ra đời trong hoàn cảnh nào? (3. 0 điểm) b. Thông hiểu Xác định nội dung chính của đoạn văn. (1.0 điểm) c. Thông hiểu Chỉ ra và nêu tác dụng của hai từ láy trong đoạn văn trên. (2.0 điểm) Câu 2: (6.0 điểm) Vận dụng cao “Sáng 222, đường dây nóng của Trung tâm Điều phối tạng Hà Nội nhận một cuộc điện thoại đặc biệt. Đầu dây bên kia tự xưng tên Nguyễn Trần Thùy Dương (33 tuổi, thôn Tân Mỹ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Chị Dương nghẹn ngào đưa lời: “Con tôi – bé gái Nguyễn Hải An mới 7 tuổi, 3 tháng đang trong tình trạng hôn mê do u cầu não xâm lấn. Gia đình có nguyện vọng hiến tặng nội tạng của cháu cho những bạn nhỏ khác đang bị bệnh chờ ghép tạng, muốn sẽ được nghe tiếng trái tim của con gái mình còn đập trong lồng ngực một bạn trẻ nào đó…” Bé An nhập viện ngày 1512018. Cũng kể từ ngày đó, chị Dương xin nghỉ việc để đồng hành cùng con gái bé nhỏ. Chị hay kể cho con nghe về chuyện hiến tặng nội tạng cho người bị bệnh. Một lần, khi còn tỉnh táo bé An tân sự với mẹ: “Con cũng muốn sau này làm thế nào khi mất đi, những bộ phận vẫn còn tồn tại, vẫn sống trên cơ thể của người khác…” (Theo Kenh 14.vn, ngày 2722018) Từ nội dung đoạn tin trên, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về câu nói: “Cho đi là còn mãi mãi.” Câu 3: (8 điểm) Vận dụng cao Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…” (Trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập 2, NXBGD, 2005, trang 58) Lời giải chi tiết Câu 1. a. Phương pháp: căn cứ nội dung bài Chiếc lược ngà Cách giải: Đoạn văn trên trích từ văn bản “Chiếc lược ngà”. Tác giả là Nguyễn Quang Sáng. Văn bản ra đời năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra ác liệt. b. Phương pháp: căn cứ nội dung bài Chiếc lược ngà Cách giải: Nội dung chính của đoạn văn: Bé Thu quyết không gọi ông Sáu là ba ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn, cơm sôi mà mẹ đi vắng, không làm sao để múc nước cơm ra được. c. Phương pháp: căn cứ nội dung bài Từ láy Cách giải: Hai từ láy: sùng sục, loay hoay Tác dụng: + Sùng sục: trạng thái cơm sôi to, yêu cầu cấp thiết phải múc nước ra > hoàn cảnh khó khăn của bé Thu. Xem thêm tại: https:loigiaihay.comdeso17dethivaolop10monnguvanc36a48874.htmlixzz5wAEHNoyf
Trang 1Đề số 17 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Bình chọn:
Đáp án và lời giải chi tiết Đề số 17 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Đề số 18 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Đề số 19 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Đề số 20 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Đề số 21 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
Xem thêm: ĐỀ THI VÀO 10 MÔN NGỮ VĂN
Đề bài
Câu 1: (6.0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:
“Lúc đó nồi cơm sôi lên sùng sục Nó hơi sợ, nó nhìn xuống, vẻ nghĩ ngợi, nhắc không nổi,
nó lại nhìn lên Tiếng cơm sôi như thúc giục nó Nó nhăn nhó muốn khóc Nó nhìn nồi cơm rồi nhìn lên chúng tôi Thấy nó luýnh quýnh tôi vừa tội nghiệp vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào nó cũng chịu thua Nó loay hoay rồi nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước, miệng lẩm bẩm điều
gì không rõ Con bé đáo để thật.”
a Nhận biết
Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? Văn bản ra đời trong hoàn cảnh nào? (3 0 điểm)
b Thông hiểu
Xác định nội dung chính của đoạn văn (1.0 điểm)
c Thông hiểu
Chỉ ra và nêu tác dụng của hai từ láy trong đoạn văn trên (2.0 điểm)
Câu 2: (6.0 điểm) Vận dụng cao
“Sáng 22/2, đường dây nóng của Trung tâm Điều phối tạng Hà Nội nhận một cuộc điện thoại đặc biệt Đầu dây bên kia tự xưng tên Nguyễn Trần Thùy Dương (33 tuổi, thôn Tân Mỹ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) Chị Dương nghẹn ngào đưa lời: “Con tôi – bé gái Nguyễn Hải An mới 7 tuổi, 3 tháng đang trong tình trạng hôn mê do u cầu não xâm lấn Gia đình có nguyện vọng hiến tặng nội tạng của cháu cho những bạn nhỏ khác đang bị bệnh chờ ghép tạng, muốn sẽ được nghe tiếng trái tim của con gái mình còn đập trong lồng ngực một bạn trẻ nào đó…”
Bé An nhập viện ngày 15/1/2018 Cũng kể từ ngày đó, chị Dương xin nghỉ việc để đồng hành cùng con gái bé nhỏ Chị hay kể cho con nghe về chuyện hiến tặng nội tạng cho người bị
Trang 2bệnh Một lần, khi còn tỉnh táo bé An tân sự với mẹ: “Con cũng muốn sau này làm thế nào khi mất đi, những bộ phận vẫn còn tồn tại, vẫn sống trên cơ thể của người khác…”
(Theo Kenh 14.vn, ngày 27-2-2018)
Từ nội dung đoạn tin trên, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về câu
nói: “Cho đi là còn mãi mãi.”
Câu 3: (8 điểm) Vận dụng cao
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”
(Trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập 2, NXBGD, 2005, trang 58)
Lời giải chi tiết
Câu 1.
a
Phương pháp: căn cứ nội dung bài Chiếc lược ngà
Cách giải:
Đoạn văn trên trích từ văn bản “Chiếc lược ngà” Tác giả là Nguyễn Quang Sáng
Văn bản ra đời năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra ác liệt
b
Phương pháp: căn cứ nội dung bài Chiếc lược ngà
Cách giải:
Nội dung chính của đoạn văn: Bé Thu quyết không gọi ông Sáu là ba ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn, cơm sôi mà mẹ đi vắng, không làm sao để múc nước cơm ra được
c
Phương pháp: căn cứ nội dung bài Từ láy
Cách giải:
- Hai từ láy: sùng sục, loay hoay
- Tác dụng:
Trang 3+ Sùng sục: trạng thái cơm sôi to, yêu cầu cấp thiết phải múc nước ra -> hoàn cảnh khó khăn của bé Thu
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/de-so-17-de-thi-vao-lop-10-mon-ngu-van-c36a48874.html#ixzz5wAEHNoyf