1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề số 6 đề thi vào lớp 10 môn ngữ văn

3 474 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 15,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề số 6 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Bình chọn: Đáp án và lời giải chi tiết Đề số 6 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 7 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 8 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 9 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Đề số 10 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Xem thêm: ĐỀ THI VÀO 10 MÔN NGỮ VĂN Đề bài Câu 1: Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu “Vẻ đẹp của Ba Vì biến ảo lạ lùng từng mùa trong năm, từng giờ trong ngày. Thời tiết thanh tịnh, trời trong trẻo, ngồi phóng tầm mắt qua những thung lũng xanh biếc. Ba Vì hiện lên như hòn ngọc bích. Về chiều, sương mù tỏa biếc. Ba Vì nổi bồng bệnh như vị thần bất tử ngự trên sông. Những đám mây nhuộm màu biến hóa muôn hình, nghìn dạng tựa như nhà ảo thuật có phép tạo ra một chân trời rực rỡ. Khi vầng sáng nan quạt khép lại dần, trăng vàng mịn như một nốt nhạc bay lên bầu trời, ru ngủ muôn đời thần thoại. (Võ Văn Trực, Vời vợi Ba Vì, dẫn theo Ngữ văn 8, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 26) 1. Nhận biết Xác định phép lập luận của đoạn văn trên. 2. Thông hiểu Phân tích tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong đoạn văn. Câu 2: Vận dụng cao Khi con ngã, không ít bậc phụ cha mẹ thường vội vàng nâng con dậy, dỗ dành con bằng cách đánh đất, đánh bàn. Hãy viết một đoạn văn nghị luận theo phép lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp (khoảng 12 câu) trình bày ý kiến của em về những điều hành vi trên gợi ra. Câu 3: Vận dụng cao Cảm nhận của em về đoạn thơ sau đây. Ta làm con chim hót Tam làm một cành hoa Tan nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mười Dù là khi tóc bạc Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế. (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 55 56) Lời giải chi tiết Câu 1 1. 2. Phương pháp: căn cứ nội dung bài So sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp Cách giải: Tác dụng của hai biện pháp so sánh: Hai phép so sánh trên nhằm gợi tả vẻ đẹp của Ba Vì vào những thời khắc khác nhau. Với mỗi thời điểm, Ba Vì được tác giả so sánh với đối tượng khác nhau nhằm làm nổi bật sự biến ảo lạ lùng của vẻ đẹp nơi đây. Đồng thời, qua đó, tác giả muốn gửi gắm tình yêu của mình đối với mảnh đất này cũng như đối với thiên nhiên đất nước nói chung. Câu 2. Phương pháp: phân tích, tổng hợp Cách giải: Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để viết một đoạn văn nghị luận xã hội. Đoạn văn phải có bố cục, kết cấu rõ ràng; lập luận thuyết phục; diễn đạt mạch lạc; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Yêu cầu về nội dung: 1. Nêu vấn đề 2. Giải thích vấn đề: Khi con ngã không ít bậc cha mẹ thường vội vàng nâng con dạy, dỗ dành con bằng cách đánh đất, đán bàn. Những điều mà hành vi trên gợi ra: + Cha mẹ luôn bao bọc con cái, chiều chuộng và nâng niu nhiều khi không đúng cách. + Trẻ em không được dạy về việc “vấp ngã phải tự đúng dậy” – bài học về sự tự lập. Con cái là tài sản quý giá nhất của cha mẹ. Việc cha mẹ chăm sóc, nâng niu là chuyện dường như tự nhiên phải vậy. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cha mẹ cần để con tự lập, điều đó sẽ quyết định đến tương lai dài lâu của con trẻ sau này. Xem thêm tại: https:loigiaihay.comdeso6dethivaolop10monnguvanc36a48863.htmlixzz5wABf1EI5

Trang 1

Đề số 6 Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn

Bình chọn:

Đáp án và lời giải chi tiết Đề số 6 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn

 Đề số 7 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn

 Đề số 8 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn

 Đề số 9 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn

 Đề số 10 - Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn

Xem thêm: ĐỀ THI VÀO 10 MÔN NGỮ VĂN

Đề bài

Câu 1:

Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu

“Vẻ đẹp của Ba Vì biến ảo lạ lùng từng mùa trong năm, từng giờ trong ngày Thời tiết thanh tịnh, trời trong trẻo, ngồi phóng tầm mắt qua những thung lũng xanh biếc Ba Vì hiện lên như hòn ngọc bích Về chiều, sương mù tỏa biếc Ba Vì nổi bồng bệnh như vị thần bất tử ngự trên sông Những đám mây nhuộm màu biến hóa muôn hình, nghìn dạng tựa như nhà ảo thuật có phép tạo ra một chân trời rực rỡ Khi vầng sáng nan quạt khép lại dần, trăng vàng mịn như một nốt nhạc bay lên bầu trời, ru ngủ muôn đời thần thoại

(Võ Văn Trực, Vời vợi Ba Vì, dẫn theo Ngữ văn 8, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr

26)

1 Nhận biết

Xác định phép lập luận của đoạn văn trên

2 Thông hiểu

Phân tích tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong đoạn văn

Câu 2: Vận dụng cao

Khi con ngã, không ít bậc phụ cha mẹ thường vội vàng nâng con dậy, dỗ dành con bằng cách đánh đất, đánh bàn

Hãy viết một đoạn văn nghị luận theo phép lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp (khoảng

12 câu) trình bày ý kiến của em về những điều hành vi trên gợi ra

Câu 3: Vận dụng cao

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau đây

Ta làm con chim hót

Tam làm một cành hoa

Trang 2

Tan nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mười

Dù là khi tóc bạc

Mùa xuân ta xin hát

Câu Nam ai, Nam bình

Nước non ngàn dặm mình

Nước non ngàn dặm tình

Nhịp phách tiền đất Huế.

(Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 55- 56)

Lời giải chi tiết

Câu 1

1

2

Phương pháp: căn cứ nội dung bài So sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Tác dụng của hai biện pháp so sánh: Hai phép so sánh trên nhằm gợi tả vẻ đẹp của Ba Vì vào những thời khắc khác nhau Với mỗi thời điểm, Ba Vì được tác giả so sánh với đối tượng khác nhau nhằm làm nổi bật sự biến ảo lạ lùng của vẻ đẹp nơi đây Đồng thời, qua đó, tác giả muốn gửi gắm tình yêu của mình đối với mảnh đất này cũng như đối với thiên nhiên đất nước nói chung

Câu 2.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

*Yêu cầu về kĩ năng:

- Học sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để viết một đoạn văn nghị luận xã hội

- Đoạn văn phải có bố cục, kết cấu rõ ràng; lập luận thuyết phục; diễn đạt mạch lạc; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật

*Yêu cầu về nội dung:

1 Nêu vấn đề

2 Giải thích vấn đề: Khi con ngã không ít bậc cha mẹ thường vội vàng nâng con dạy, dỗ dành

con bằng cách đánh đất, đán bàn

Những điều mà hành vi trên gợi ra:

Trang 3

+ Cha mẹ luôn bao bọc con cái, chiều chuộng và nâng niu nhiều khi không đúng cách.

+ Trẻ em không được dạy về việc “vấp ngã phải tự đúng dậy” – bài học về sự tự lập

- Con cái là tài sản quý giá nhất của cha mẹ Việc cha mẹ chăm sóc, nâng niu là chuyện dường như tự nhiên phải vậy Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cha mẹ cần để con tự lập, điều đó sẽ quyết định đến tương lai dài lâu của con trẻ sau này

Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/de-so-6-de-thi-vao-lop-10-mon-ngu-van-c36a48863.html#ixzz5wABf1EI5

Ngày đăng: 10/08/2019, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w