1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề ngữ văn trại hè hùng vương

137 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông được người đọc biết đến như một nhà văn có sở trường ở thể loại tùy bút, nhưng gắn với tên tuổi của Nguyễn Tuân nhiều hơn cả không phải là “Một chuyến đi” hay “Sông Đà” mà lại là “Va

Trang 1

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ VI

Tập san Văn học

Thái Nguyên tháng 8 năm 2010

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

Chúng ta đang có trên tay tập Tiểu luận về các tác giả và tác phẩm chủ yếu thuộc chương trình Ngữ văn 11 cải cách Chắc chắn đây mới chỉ là một phần kết quả nghiên cứu của một số thầy cô đang trực tiếp đứng lớp, song qua đó chúng ta có thể vui mừng

về tính chất đúng đắn của hướng đi gắn nghiên cứu với giảng dạy, về tiềm lực đáng quí cần được phát huy tối đa của đội ngũ giáo viên trong “không gian trại hè Hùng Vương”

Các bài viết thể hiện cả tình yêu, niềm say mê cũng như sự tinh tường, am hiểu của những lão nông tri điền trên cánh đồng chữ nghĩa Tính chuẩn mực của kiến thức vốn là một đòi hỏi của nhà trường phổ thông được kết hợp với những trăn trở suy nghĩ, tìm tòi khám phá đã đem lại nét đặc sắc của tập san này Kiến thức ấy và tình yêu ấy của các tác giả, các thầy cô trao truyền cho học sinh chuyên văn nhất định sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp Theo nghĩa là ‘cơ quan ngôn luận” chính thức, Tập san đã gián tiếp tạo cảm hứng, kích thích cho các bài luận, mời gọi và tạo sự tự tin chính đáng để những bài luận khác sẽ xuất hiện trong Tập san tiếp theo

Nếu cần nói về điều chờ đợi như một độc giả thì tôi sẽ nói đến mong muốn rằng các thầy cô sẽ tích cực hơn nắm bắt, chiếm lĩnh được nhiều hơn nữa các thông tin mới

về lý thuyết, phương pháp nghiên cứu mới mẻ xuất hiện trong thời gian gần đây và ứng dụng có hiệu quả hơn vào công việc giảng dạy của mình Bởi chúng ta làm việc trong môi trường đặc biệt, nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, thì sự nỗ lực đổi mới không bao giờ là đủ Và tôi nghĩ Tập san này cấp cho cơ sở để hy vọng vào những thành công lớn hơn sẽ đến với thầy trò “Trại hè Hùng Vương” trong các kỳ thi Học sinh giỏi quốc gia

Xin trân trọng giới thiệu Tập san với các thầy cô và các em học sinh

PGS TS Trần Nho Thìn

Trang 3

QUY CÁCH BIÊN TẬP

1 Tôn trọng quan điểm học thuật và phương pháp trình bày của các tác giả, Ban biên tập về cơ bản chỉ sửa chữa các lỗi vi tính trong các bài viết

2 Các bài tiểu luận được xếp theo trật tự abc tên tác giả

3 Vì lý do nội dung, có một vài bài chưa đưa vào tập san lần này sẽ được sử dụng vào một bộ sách khác của bộ môn ngữ văn, Trại hè Hùng Vương

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT

NHỮNG BÀI VIẾT CHỌN LỌC CỦA CÁC THẦY CÔ

-Bài cô Dậu

-Nguyễn Thị Thanh Hải Thế giới nhân vật tài hoa nghệ sĩ trong tập truyện “Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân”……….tr.5

-Phùng Hạnh Suy nghĩ về việc dạy-học tác phẩm “Đàn ghita của Lorca” (Thanh Thảo)…… tr.15 -Mai Thị Thúy Hòa Một số nét đặc sắc đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám……….tr.26 -Phạm Thị Thanh Huyền Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) ……….tr.38 -Lưu Quốc Hương Đò Lèn- sức ám ảnh của thơ……… tr 47 -Đặng Thị Minh Ngọc Ảnh hưởng của văn học dân gian với thơ Hồ Xuân Hương………… tr 53 -Trần Minh Quý, Đọc “Chiều tối” của Hồ Chí Minh……… tr 77

- Phạm Kim Sơn Nguyễn Du và Truyện Kiều trong trang phê bình văn học của Xuân Diệu….tr.81 -Đàm Thanh Thủy Chất thơ trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam……… tr 87 -Nguyễn Phú Thành Tâm sự của Tú Xương qua những đêm dài không ngủ……… tr 92 -Nguyễn Thị Thủy Chất người – những khám phá của Nam Cao qua tác phẩm “Chí Phèo”…… tr.97 -Nguyễn Thị Bích Thủy Một số suy nghĩ về đề mở trong trường phổ thông……….tr 110 -Bùi Thị Hoàng Yến Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Thanh Thảo………tr.115

PHẦN THỨ HAI

ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG 2007-2009………tr.124

Trang 5

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TÀI HOA, NGHỆ SĨ TRONG TẬP TRUYỆN

“VANG BÓNG MỘT THỜI” CỦA NGUYỄN TUÂN

Nguyễn Thị Thanh Hải

Trường THPT Chuyên Tuyên Quang

Nguyễn Tuân (1910-1987) là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông được người đọc biết đến như một nhà văn có sở trường ở thể loại tùy bút, nhưng gắn với tên tuổi của Nguyễn Tuân nhiều hơn cả không phải là

“Một chuyến đi” hay “Sông Đà” mà lại là “Vang bóng một thời” - tập truyện ngắn viết trước Cách mạng tháng Tám (1939), được in lần đầu (1940) gồm 11 truyện ngắn- tác phẩm kết tinh tài năng và tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng: chất tài hoa, uyên bác Đọc tác phẩm này, Vũ Ngọc Phan cho rằng đó là

“Một văn phẩm đạt gần tới sự hoàn thiện, hoàn mĩ”

Nguyễn Tuân đã cắt nghĩa đầu đề tập truyện ngắn của mình: vang là dư âm, bóng là dư ảnh “Vang bóng một thời” là những dư âm và dư ảnh còn rơi rớt lại của một thời đã qua, trong đó tác giả lang thang về quá khứ tìm kiếm những vẻ đẹp xưa cũ Toàn

bộ tập truyện đem lại cảm giác về một thời đại tàn úa, hiu hắt Nhưng dưới ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Tuân vẫn vẽ lại “cái đẹp” xưa của thời phong kiến suy tàn, mà cái đẹp đầu tiên ở đây chính là thế giới nhân vật rất đặc trưng cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: thế giới nhân vật tài hoa nghệ sĩ

Nói đến thế giới nhân vật có thể hiểu là một hệ thống những nhân vật mang một đặc điểm chung nào đó Chẳng hạn như Nguyễn Du, thế giới nhân vật mà ông thường quan tâm, phản ánh bao giờ cũng là những người tài hoa, bạc mệnh, đặc biệt là người phụ nữ Đó là nàng Kiều, Đạm Tiên (Truyện Kiều), Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh kí), là người con gái gảy đàn ở đất Long Thành (Long Thành cầm giả ca) hay người hát rong ở đất Thái Bình … mặc dù họ khác nhau về giai tầng, thời đại … nhưng phần lớn họ là những người phụ nữ tài sắc, bạc mệnh, họ trở thành thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Du Đọc các sáng tác của Thạch Lam, thế giới nhân vật là những người nghèo

Trang 6

Đọc “Vang bóng một thời”, ban đầu có cảm giác như thế giới nhân vật trong đó

có phần như tẻ nhạt, bởi hầu hết họ là những nho sĩ cuối mùa - những con người tài hoa bất đắc chí Gặp lúc Hán học suy vi, sống giữa buổi ‘Tây Tàu nhố nhăng” nên họ bày tỏ thái độ buông xuôi, quay lưng lại với xã hội đương thời Đó là tay đao phủ già Bát Lê (Bữa rượu máu), cụ Sáu (Những chiếc ấm đất), cụ Phủ (Thả thơ), Mộng Liên, Phó Sứ (Đánh thơ), cụ Hồ Viễn, cậu Chiêu, cô Tú (Ngôi mả cũ), cụ Kép (Hương cuội) Huấn Cao, viên quản ngục (Chữ người tử tù), Cai Xanh, Lý Văn, Phó Kình trong (Một đám bất đắc chí), cụ Ấm (Chén trà trong sương sớm), cụ Thượng, ông cử Hai (Đèn đêm thu)

… Họ là những con người sống thanh cao, nhàn tản nhưng uể oải, buồn chán Về sau, người đọc phát hiện thấy trong cái thế giới nhân vật ban đầu có phần tẻ nhạt ấy lại có cái gì rất lung linh, cuốn hút Đó là sự cuốn hút bởi chất tài hoa, tài tử cùng với những thú chơi tao nhã cầu kỳ của những nhà Nho cuối mùa và trên hết là những con người ấy không chịu a dua theo đời, chạy theo danh lợi mà vẫn cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” Những nhân vật ấy, dù làm bất cứ nghề gì, lứa tuổi, địa phương nào

… thì họ đều là những người tài hoa Nguyễn Tuân khám phá, khai thác chất tài hoa, tài

Trang 7

tử ở hai kiểu nhân vật: những người nghệ sĩ hành nghề nghệ thuật và những người không phải là nghệ sĩ nhưng sống một cách tài hoa, nghệ sĩ, để từ đó nhà văn đưa ra quan điểm của mình trong sáng tạo nghệ thuật

1.Trước hết là những người nghệ sĩ hành nghề nghệ thuật

“ Nghệ sĩ là những người biểu diễn hay sáng tạo nghệ thuật Tài năng nghệ thuật, phương thức hoạt động đặc thù là điều kiện quan trọng nhất để trở thành nghế sĩ”

và “Nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của các hoạt động con người, một phương thức hoạt động để con người chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực, nhằm mục đích tạo thành phát triển các năng lực chiếm lĩnh và cải tạo bản thân và thế giới xung quanh theo quy luật của cái đẹp”

Ở “Vang bóng một thời”, người ta nhận thấy chất tài hoa nghệ sĩ của vợ chồng Mộng Liên, Phó Sứ trong “Đánh thơ”, ông Cử Hai trong “Đèn đêm thu” và Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”

Vợ chồng Mộng Liên, Phó Sứ xứng đáng là một cặp vợ chồng nghệ sĩ tài tử làm nghệ thuật Mộng Liên vốn là một người đàn bà đẹp, rất lẳng lơ và có tài đàn hát,

“bằng cái sắc, bằng tiếng ca, bằng cái tiểu xảo, bằng cái duyên lúc kín đáo, lúc lộ liễu,

ba người đàn bà ấy đã từng điểm tô cho xứ Huế một thời” Còn Phó Sứ là một người giữ lăng nhưng từ khi kết bạn trăm năm với Mộng Liên, ông bỏ nghề giữ lăng và cùng

vợ đi chu du thiên hạ với tiếng hát, lời thơ của hai vợ chồng Ông Phó Sứ là một thi sĩ, bởi một trong những “mánh” làm ăn của ông trong cuộc đánh thơ là lấy thơ của ông giả

cổ thi lừa “những quan to có tiếng là hay chữ” Điều này chứng tỏ ông Phó Sứ sáng tác thơ phải rất hay thì những kẻ “có tiếng là hay chữ” ấy mới tưởng là thơ của cổ nhân thật Và mỗi lúc ngâm lên, cái hay của câu thơ đã làm cho người khác lạnh cả người Kiểu làm thơ của ông Phó Sứ không phải là để kiếm tiền hay làm giàu mà đây chỉ là một cách chơi với thiên hạ mà thôi Bởi “cái giống lãng tử cầm tiền thường không nóng lòng bàn tay” Đôi vợ chồng ấy chưa bao giờ nghĩ đến việc làm một cái tổ ấm nhất định nào “Quê hương của họ là cờ bạc và đờn hát Nhà cửa đôi lưu đãng ấy gửi vào trong cái truy hoan của thiên hạ” Nguyễn Tuân gọi cặp vợ chồng Mộng Liên, Phó Sứ là “một

Trang 8

lứa đôi tài tử”, tài tử ở chỗ họ dám sống bằng lời thơ, tiếng hát, một kiểu sống rất bấp bênh có lúc kiếm được nhiều tiền có lúc thua đau nhưng đáng kể gì, “Nhà con nhà cái đều ngâm vang cả nhà, chừng như muốn thi nhau một cái giọng tốt chứ đồng tiền mất đi hay thu về, thời có đáng kể là gì” Cặp vợ chồng ấy không tài tử sao được khi họ đánh bạc bằng thơ và “giữa hai tiếng bạc trên một chiếc chiếu la liệt những mảnh thơ đề, Mộng Liên đêm đêm kề đùi, tựa má ông Phó Sứ, lại đánh đàn, ca Nam Ai, Nam Bình” Tiềng hát của Mộng Liên dã làm vui cho cuộc đỏ đen trí thức

Ông Cử Hai cũng là một nghệ sĩ tài hoa, tài tử “Ông ta sinh ra để mà đùa vui với cuộc sống bắt đầu từ việc đem ngay cái tài hoa của mình ra mà đùa nhả với sự nghiệp thân thế của mình” Ông làm nghề dạy học, đã lấy việc dạy học làm một “mưu

hồ khẩu” mà y như việc đi ngoạn cảnh hay là đi dâng hương ở các đền chùa cổ tích Thậm chí những lúc mỏi chân phải dừng lại ở một nơi nào đó “ông lại còn thỉnh thoảng ngừng cả cái miệng giảng sách hoặc ngừng chấm nét son lên quyển bài, để đề một bức châm lên lá quạt tặng bạn đồng song, để khắc chữ triện và chạm trổ một hòn đã xù xì cho thành một con thạch ấn, để dùng ngón tay trỏ vào chậu mực vẽ một bộ tứ bình thuỷ mặc có đủ bốn thứ cây cỏ tứ hữu: cúc, trúc, lan, mai treo chơi trên vách đất quán trọ nơi ngồi dạy học.” Vì tài hoa, tài tử nên ông Cử Hai không ưa những gì nhợt nhạt, bằng phẳng, nửa vời, đi khắp Đông Nam Đoài Bắc, có lúc giảng bài chưa ấm phòng học ông

đã khăn gói lên đường vì ông cho rằng cảnh của vùng đấy không dung được người “cái

gì mà nước chỉ chảy xiết không bao giờ tụ, cây trồng ba năm bói không có quả; ớt chấm

mà không thấy cay; hoa chỉ có mùi thơm về phần đêm; núi chỉ bằng đầu chứ không chỏm ngọn và mây trời không bao giờ hiện đủ năm sắc” Nguyễn Tuân đã gọi ông Cử Hai là người nghệ sĩ “Cái hành tung của người nghệ sĩ không chịu sống cho người khác

và hùa theo người xung quanh ấy thực là khó đòi hỏi” Chất nghệ sĩ bộc lộ rõ nhất ở nhân vật này là việc ông làm đèn xẻ rãnh để rước vào đêm trung thu cho cậu con trai Ngộ Lang Tài làm đèn xẻ rãnh của ông nổi tiếng, truyền rộng ra khắp xứ Kinh Bắc từ việc ông diễn lại cái tích “Triệt giang phò A Đẩu” trông giống như thật Lần này, làm đèn ông muốn diễn lại một tích khác không phải là để trổ tài năng của mình với thiên hạ

Trang 9

mà vì ông không muốn lặp lại những gì mình đã làm và trên hết “người tài hoa giang hồ đến cái tuổi chán sự bay nhảy, nghĩ đến chuyện vui cùng gia đình.” Trong cuộc đối thoại của ông Cử Hai với người cha, ta thấy được ý đồ nghệ thuật của người nghệ sĩ này với tích “Phạm Lãi đem Tây Thi sang dâng cho Ngô Phù Sai” Khi bắt tay vào việc làm đèn ông coi đó là một công trình nghệ thuật thực thụ chứ không phải là một thứ đồ chơi bình thường của trẻ con trong ngày rằm Vì thế mà ông bận rộn lựa chọn vật liệu, trăn trở nghĩ đầu đề, khi chọn được tích để diễn ông lại tính đến chuyện dàn quân, sắp xếp vị trí của từng quân đèn sao cho thật giống như thật (Vị trí của nàng Tây Thi, Phạm Lãi, Phù Sai, Ngũ Tử Tư ) Lúc gọt đến mặt Phạm Lãi, ông Cử Hai “ nghĩ đến cái thú vị của một đời người như lúc Phạm Lãi dám bỏ lại sau mình cả một cái giàu sang nhất thì

mà đi chu du giang hồ, nghĩ đến phút ấy trong cái bình sinh của một người xưa, ông Cử Hai cũng làm luôn cho Phạm Lãi một khuôn mặt rất đẹp.” Khi làm cốt hình người cho nhân vật Thái Tể Bá Hy ông để mặt trắng mốc có điểm mấy vệt đỏ nhờ nhờ vì Bá Hy là một kẻ phản nịnh góp phần đưa nước Ngô vào con đường diệt vong theo đúng kế hoạch của Việt vương Câu Tiễn Có thể thấy, người nghệ sĩ này đã sáng tạo nghệ thuật không chỉ theo đúng cái nhìn chủ quan mà còn bằng cả tài năng và tâm huyết của mình Đó là phẩm chất của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật

Nhân vật tiêu biểu nhất trong “Vang bóng một thời” là Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” Huấn Cao là một nghệ sĩ tài năng – tài viết chữ Chữ của ông Huấn Cao viết là chữ Hán, loại văn tự rất giàu tính tạo hình Người viết chữ Hán rất nhiều nhưng đạt đến trình độ nghệ thuật cao thì rất hiếm hoi Bởi mỗi một chữ viết ra không chỉ thể hiện tài năng, tâm huyết mà còn bộc lộ tâm sự, ý chí và cả những khát khao thầm kín nhưng mãnh liệt của người viết Từ đó chữ của người nghệ sĩ gắn liền với nghệ thuật thư pháp.Huấn Cao thực sự là người nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp, Bởi tài viết chữ của ông đã lan truyền như một huyền thoại, nổi tiếng tỉnh Sơn, đến tận chốn ngục tù tăm tối “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm, có được chữ ông Huấn Cao mà treo,

là có một vật báu trên đời” Chữ ông Huấn Cao đẹp đến nỗi viên quản ngục bất chấp hiểm nguy đến sự nghiệp, tính mạng, cạy cục để xin bằng được chữ ông Huấn Cao

Trang 10

Chất tài tử trong con người Huấn Cao thể hiện ở chỗ, ông viết chữ đẹp nhưng trừ chỗ tri

kỷ ông mới cho chữ Chữ ông rất đẹp nhưng đời ông mới chỉ viết “có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân” Huấn Cao không vì tiền bạc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ Đó là quan niệm sống rất cao đẹp của người nghệ

sĩ có “thiên lương” trong sáng Chất tài tử của người nghệ sĩ còn thể hiện ở khí phách hiên ngang Là một thủ lĩnh cầm quân khởi nghĩa chống lại triều đình, chí lớn không thành bị bắt giam, Huấn Cao không sợ tra tấn hay cái chết Trước hôm ra pháp trường ông đã viết những nét chữ tung hoành cuối cùng của một đời con người để đáp lại tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục Huấn Cao là nhân vật tiêu biểu cho những con người mang đạo lí truyền thống Việt Nam từng “Vang bóng một thời”: có nhân, có trí, có dũng, những người “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” Bởi thế, Huấn Cao đã trở thành hình tượng nhân vật tuyệt đẹp trong đời văn của Nguyễn Tuân, là kết quả của một tài năng sáng tạo mà Nguyễn Tuân dành cho bạn đọc bao thế hệ

Nhân vật ông Huấn Cao, ông Cử Hai, vợ chồng Mộng Liên, Phó Sứ là những người nghế sĩ hành nghề nghệ thuật, thuộc kiểu nhân vật thứ nhất trong thế giới nhân vật tài hoa nghệ sĩ của “ Vang bóng một thời” Họ là những ca sĩ, thi sĩ, hoạ sĩ với những hoạt động nghệ thuật rất đặc sắc của mình, nhân vật nào cũng tài hoa, tài tử Họ

là hình ảnh của một Nguyễn Tuân: tài hoa, tài tử đến kiêu bạc, khinh đời, chơi ngông với thiên hạ để phủ nhận trật tự xã hội thực dân đương thời, từ đó ông bày tỏ tấm lòng yêu nước theo cách riêng của mình

2 Kiểu nhân vật thứ hai, xuất hiện chủ yếu trong “Vang bóng một thời” là những người không phải là nghệ sĩ nhưng lại sống một cách tài hoa, nghệ sĩ

Họ là những nhà Nho cuối mùa, những anh hùng hảo hán, thất thế như cụ Sáu (Những chiếc ấm đất); cụ Ấm (Chén trà trong sương sớm); cụ Kép (Hương cuội),

cụ Hồ Viễn (Ngôi mả cũ); Cai Xanh, Lí Văn, Phó Kình (Một đám bất đắc chí) và viên quản ngục (Chữ người tử tù) Mỗi một nhân vật ở các truyện đều gắn với một thời đại, một giai đoạn nào đó trong xã hội cũ Họ dường như là một mảnh vỡ của thể giới gắn

Trang 11

với những vẻ đẹp xưa cũ: nghệ thuật uống trà, chơi hoa thuỷ tiên, hay cả những anh hùng tài hoa

Một loạt những ông Nghè, ông Cử, những nhà Nho “cuối mùa” dù không phải

là nghệ sĩ thực thụ nhưng cách sống của họ lại mang đầy màu sắc nghệ sĩ Cụ Sáu trong

“Những chiếc ấm đất” có thói quen phong lưu rất cầu kì Uống trà Tàu phải pha bằng nước giếng chùa Đồi Mai “chỉ có nước giếng đây là pha trà không lạc mất hương vị” và vài ngày cụ lại phải cho người nhà lên xin nước giếng của chùa đem về Danh và lợi cụ không màng, phá gần hết cơ nghiệp của ông cha để lại, cụ thực sự đã coi “ phú quý nhỡn tiền” không bằng một ấm trà tàu Cụ tài tử đến nỗi chỉ vì uống trà mà khuynh gia bại sản, đến khi nghèo đói cụ phải mang bán những chiếc ấm đất quý giá của mình để kiếm sống nhưng vẫn giữ thói quen phong lưu “Thỉnh thoảng có xin được người nào quen vài ấm, cụ lấy làm quý lắm: gói dắt kỹ lấy trong mình, đợi lúc nào vắng vẻ một mình mới đem ra pha uống Vẫn còn có thói quen phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ lại còn bứt lấy ít nhị sen mang về ướp luôn và gói trà dắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ” Cũng ở tác phẩm này, còn xuất hiện một người ăn mày rất tài hoa, tài tử, kiểu ăn xin cũng hết sức độc đáo.: cho cơm thừa, canh cặn rồi xôi gấc đều không lấy, chỉ xin chủ nhà được “uống trà tàu với!”, Xin được nắm trà, người

ăn mày giở bị lấy ra lấy ra cái “ấm đất độc ẩm” đun nước, pha trà, rồi vắt chân chữ ngũ rất đúng quy cách để thưởng thức ấm trà Tàu Tài tử ở chỗ hắn còn phát hiện bình trà của nhà chủ có lẫn mùi vỏ trấu ở trong Điều làm cho chủ nhà ngạc nhiên là đến chiều hôm ấy “lọ trà đánh đổ tung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu” Cụ Sáu đã tin người ăn mày là có thật, cụ khẳng định chắc chắn “cái lão ăn mày

đã tiêu cả một sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới rành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy” Cụ đoán biết cái kết cục của người ăn mày và chính bản thân cụ sau này nhưng cụ không thể từ bỏ cái thú chơi phong lưu tài tử ấy được

Vẫn là thú uống trà, cụ Ấm ở “Chén trà sương”cũng rất tài tử từ cách pha trà, đun nước đến cả người ngồi uống với cụ Nước pha trà phải là thứ nước đọng trên mỗi

lá sen buổi sớm, phải gạn vét nhiều là mới đủ đun một ấm, đun nước phải đun bằng

Trang 12

Ở truyện“Ngôi mả cũ” cụ Hồ Viễn vốn là một tướng quân Cờ Đen một thời tung hoành ngang dọc giờ đây thất thế , về già cụ trở thành một ông thầy địa lí nhưng vẫn giữ phong cách sống tài tử, giang hồ “Thuốc phiện nếu không phải là thứ một lạng đựng vào cóng thì không hút”, móng tay để dài, riêng móng tay út lá lan của cụ uốn hai vòng như râu rồng, sáng nào cũng phải có chanh để cụ rửa móng tay Cụ thuộc nước cờ như lòng bàn tay, ngồi trên cáng đi đủng đỉnh song song với nhau và đánh cờ miệng, đi đường có thể đánh xong vài ván … là thầy địa lí nhưng cụ Hồ Viễn rất khái tính Có rất nhiều nhà giàu chèo kéo cụ nhưng cụ không màng tới Cụ Hồ Viễn cho rằng việc cụ đang làm là “phân phát hạnh phúc bằng cách tìm đất để mả cho những người đã thất thế

và lúc nhàn rỗi uống một đôi rượu của những người biết nhớ ơn mình”

Truyện “Một đám bất đắc chí” Nguyễn Tuân lại viết về những tên cướp tài hoa giang hồ, phóng khoáng Đi ăn cướp nhưng rất được nể trọng, vào quán lỡ thiếu tiền thì Cai Xanh – “một tay ăn chơi nổi tiếng ở mấy vùng Thanh nội và Thanh ngoại” lễ phép nói với nhà hàng xin để lại vật gì đó để làm tin nhưng không một chủ quán nào dám nhận, họ xoa tay nói “Dạ không dám Khi nào ông anh sẵn có thì cho đàn em xin Cái

đó có là bao nhiêu mà dám phiền ông anh” Chất tài hoa ở những tên cướp này là nghệ thuật “phóng bút chì” của Lý Văn và Phó Kình Để chặt một cây chuối Phó Kình buộc

cổ cán mai vào dây thừng, đầu kia dây thừng cuốn vào cuốn vào cánh tay và chỉ “một tiếng phập thân cây chuối đã gục xuống mặt đất kêu đánh roạt” và cán mai đã nằm gọn trong lòng bàn tay y từ lúc nào Lý Văn trổ tài “phóng bút chì” của mình bằng lưỡi dao

Trang 13

Có thể khẳng định rằng, mỗi khi cầm bút dường như Nguyễn Tuân luôn muốn chứng tỏ cho bạn đọc thấy được cái tài hoa uyên bác, hơn đời của mình và vì thế mà nhà văn phải tìm đến loại nhân vật tài tử, độc đáo.Còn gì độc đáo hơn khi thế giới nhân vật mà ông khai thác khám phá lại là những người không phải là nghệ sĩ nhưng lại sống một cách tài hoa, nghệ sĩ Qua kiểu nhân vật này, Nguyễn Tuân muốn gửi gắm một quan niệm của mình về nghệ thuật: không phải những người hành nghề nghệ thuật mới trở thành nghệ sĩ mà cả những người làm những nghề không liên quan gì đến nghệ thuật cũng trở thành nghế sĩ nếu như họ tâm huyết với nghề nghiệp của mình và lao tâm khổ

tứ với nó

“Vang bóng một thời” cùng với thế giới nhân vật tài hoa, nghệ sĩ đã đem đến cho tác giả một vị trí vững chãi trong nền văn học dân tộc Tác phẩm chỉ nói về thú tiêu dao hưởng lạc của cổ nhân, thế giới nhân vật là những con người sống ngông nghênh, phóng phiếm, tuy cam chịu thất bại nhưng chưa muốn làm lành với xã hội thực dân tư sản nên họ sống một cách tài tử, đề cao những thói ăn chơi cầu kì, đài các, đóng vai quý tộc bằng nghệ thuật hành lạc ở đời Qua đó thấy được tấm lòng yêu nước, thái

độ trân trọng và tự hào những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc của nhà văn Đặt thế

Trang 14

giới nhân vật ấy bên cạnh cuộc đời và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, ta thấy mỗi nhân vật thể hiện một nét tài hoa, một nét ngông nghênh kiêu bạc của chính tác giả

- một nghệ sĩ tài hoa

Trang 15

SUY NGHĨ VỀ VIỆC DẠY - HỌC TÁC PHẨM

" ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA"

(Thanh Thảo)

Phùng Hạnh Trường THPT Chuyên Sơn La

Sự đổi mới chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 12 có bổ sung rất nhiều những tác phẩm văn chương giai đoạn đổi mới như “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải; “Đàn ghi ta

của Lorca” – Thanh Thảo; “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu Phải thừa nhận

quá trình đón nhận những tác phẩm đó ở người dạy và cả người học cũng thật nhiều cung bậc,

từ dè dặt đến hào hứng, thách thức đến say sưa Song đây cũng là những thách thức với cả hai phía, nhất là với không ít người dạy học văn đã quen với kiểu tư duy của văn học thời chiến…Tôi đã từng gặp khá nhiều những ý kiến thắc mắc của bạn đồng nghiệp xung quanh những tác phẩm mới Đối với "Một người Hà Nội”, người dạy băn khoăn về tiêu chí đánh giá nhân vật bà Hiền “Nên đánh giá theo kiểu nào để không mâu thuẫn với một thời ta nhìn nhận

về Hoàng trong Đôi mắt của Nam Cao ? Với tác phẩm “Đàn ghi ta của Lorca”, người học nói rằng phải chăng bài thơ chỉ là một bài ca bi tráng về một trái tim chính nghĩa bị tử thương ?

Cho đến nay, ít nhất những tác phẩm văn xuôi đã tìm được tiếng nói chung Nhưng riêng “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) vẫn như là một án ngữ với người dạy Trước hết, bài thơ chính là một bài ca bi tráng về Ga-xi-a Lorca – nhà thơ Tây Ban Nha, có ý nghĩa giáo dục rất cần thiết giữa thời đại mà người ta quan tâm và đôi khi cổ vũ nhầm tưởng rằng những cái đời thường, bé mọn, khuất lấp của con người mới là giá trị của sự sống khiến cuộc sống đang thực sự thiếu đi những hình tượng chính nghĩa Nhưng cái khó là bài thơ có cách biểu đạt không đơn giản Bởi thế cái khó của người dạy không phải chỉ ở chỗ phải đối diện với một thứ thơ phi tuyến tính, mà ở chính việc làm thế nào chuyển tải cho học sinh một cách thuyết phục

? Không phải cứ thuyết giảng một cách hào hứng, bát ngát về cái chất chính nghĩa của hình ảnh rồi áp đặt lên học sinh Học sinh bây giờ thích tìm hiểu vấn đề một cách cặn kẽ, đành rằng văn thơ nói riêng và kiến thức nói chung có những cái không thể cắt nghĩa một cách rạch ròi Song bất kể tác phẩm nào dẫu bất định đến mấy trong cảm xúc và sự thể hiện thì chiều sâu của

nó vẫn phải là một liên kết bên vững có đầy đủ lí do Bởi vậy cách tiếp cận tốt đối với thi

Trang 16

trường ca đi tìm “những gương mặt” “lấp lánh chất người”, đi tìm những nghĩa khí và trung trực như còn kết đọng đâu đây (“Những người đi tới biển” (1977), “Dấu chân qua trảng cỏ”

(1978), “Khối vuông ru-bic” (1985) Thế nhưng lại gây tiếng vang bằng những đột phá về cách

thể hiện thơ Thơ Thanh Thảo chính là tiếng nói trăn trở của người trí thức về chất Người, về

các vấn đề sâu xa của thời đại Tuy nhiên, những trăn trở ấy lại được thể hiện bằng những tìm tòi đổi mới: Vượt lên trên những kí thác chân dung thời đại và con người một cách đơn giản

bằng việc đào sâu vào thế giới nội cảm, thể hiện những suy tư sâu sắc; Mở đường cho những liên tưởng phóng túng, mãnh liệt bằng việc giải phóng hình thức câu thơ (câu thơ tự do hơn);

Đề xuất một mĩ cảm tươi mới cho thơ hiện đại bằng thi ảnh và ngôn từ mới lạ, mang màu sắc siêu thực, bằng nhịp điệu bất thường

Yếu tố thứ hai liên quan tới bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca”, cần phải kể đến đó là nhân

vật Lorca Bài thơ được rút từ tập “Khối vuông ru-bic”(1985) là một trong những sáng tác tiêu

biểu cho lối thơ giàu suy tư, mãnh liệt trong cảm xúc Tập thơ nói đến nhiều những tấm gương chính nghĩa Và nhân vật Lorca, một người anh hùng đơn độc đấu tranh không mệt mỏi cho tự

do, dân chủ chống lại nền độc tài; một nhà thơ khát khao cách tân nghệ thuật để đổi thay một nền nghệ thuật đã quá già nua của Tây Ban Nha đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ để tạo nên sáng tạo của Thanh Thảo Ở yếu tố này cần cho học sinh thấy được Thanh Thảo tìm được niềm đồng cảm ở Lorca trên cả hai tư cách: Tư cách con người công dân và tư cách nghệ sĩ Với tư cách công dân, Lorca là biểu tượng của chính nghĩa, đấu tranh chống lại nền độc tài phát xít Frang-co (Kiểu con người này luôn là nguồn cảm hứng của thơ Thanh Thảo) Với tư cách nghệ sĩ, Lorca là một tài năng thơ ca, luôn khát khao cách tân nghệ thuật Ở điểm này Thanh Thảo tìm được nơi gửi gắm tiếng nói tri âm của một nhà thơ Việt Nam trong những năm đổi

mới Với tư cách con người, Lorca là một thân phận gặp nhiều bi kịch, một hệ quả tất yếu của những nhân cách trên Ở phương diện này, Thanh Thảo không chỉ thấy Lorca là biểu tượng của

cái đẹp mà còn là một hiện thân bi xót cho cái đẹp đơn độc bị chà đạp giữa cuộc đời Song cũng

Trang 17

rõ Nắm được hệ thống thi ảnh, kết cấu và mạch vận động, giáo viên có thể thiết kế một hệ thống câu hỏi khá logic giúp học sinh khai phá được mạch thơ, nhập cảm được với hình tượng

Ví như ở phần đầu bài thơ có thể đặt những câu hỏi: Mở đầu bài thơ là hình ảnh nào ? Có đặc

điểm gì ? Nó được gợi tả trong sự tương phản với hình ảnh nào ? Sự liên kết những hình ảnh

“tiếng đàn”, “áo choàng đỏ”, âm thanh “li la”- loài hoa li la có sức gợi như thế nào ?

Ở phần đầu bài thơ, chỉ bằng vài nét chấm phá nhà thơ đã gợi lên hình tượng Lorca cô đơn mà kiêu hãnh trên cái nền đặc trưng của văn hoá Tây Ban Nha

Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nhà áo choàng đỏ gắt li-la li- la li-la

Để tạo dựng một không gian văn hóa Tây Ban Nha, Thanh Thảo chọn những hình ảnh tiêu

biểu nhất, giàu sức gợi Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh miêu tả âm thanh: “những tiếng

đàn bọt nước” “Tiếng đàn”- âm thanh vô hình, được miêu tả gắn liền với hình ảnh “bọt

nước” - cái hữu hình mà mong manh Đây là cách cảm nhận của bút pháp tương giao vừa bằng thính giác vừa bằng thị giác có tác dụng gợi tả tiếng đàn ghi ta bồng bềnh ngân vang

trong không gian, tạo âm đệm cho sự xuất hiện của người nghệ sĩ hát lên bằng thơ ngợi ca sức

sống mãnh liệt của dân tộc mình đồng thời cũng mở ra một không gian văn hóa Tây Ban Nha, quê hương của đàn ghi ta Không chỉ thế "tiếng đàn” gắn liền với “bọt nước" còn biểu trưng cho cái đẹp phù du, mong manh, dễ vỡ và cô đơn biết bao trước không gian, tạo ấn tượng sơ khai về đối tượng cảm xúc Lorca – người nghệ sĩ có số phận oan khuất

Tương phản với chi tiết “tiếng đàn bọt nước” là hình ảnh “Tây Ban Nha áo choàng đỏ

gắt.” Đây là một mã văn hóa gợi đến khung cảnh của một đấu trường giữa võ sĩ và bò tót,

một hoạt động văn hóa độc đáo của của đất nước Tây Ban Nha Nhưng hơn thế, nó gợi liên

Trang 18

tưởng đến một đấu trường đỏ máu giữa khát vọng dân chủ, niềm thiết tha được cách tân nghệ thuật của người công dân - nghệ sĩ Lor-ca với nền chính trị độc tài và một nền nghệ thuật già nua của đất nướcTây Ban Nha Dòng thơ thứ ba mô phỏng một chuỗi âm thanh ngân vang như

một điệp khúc “li la li la li la” gây ấn tượng sâu sắc, đem đến cho người đọc một hình dung

về người nghệ sĩ hát rong những bản đàn đã từng vang lên say đắm lòng người “Li-la” cũng

là tên loài hoa tím huyền ảo thường thấy trong tác phẩm nghệ thuật châu Âu Sự liên kết của

ba hình ảnh tưởng chừng như không logic: “tiếng đàn”, “áo choàng đỏ gắt”, âm thanh hay loài hoa “li la”đã mở ra một không gian văn hóa đậm chất Tây Ban Nha, nơi nuôi dưỡng tâm hồn Lorca

Trên nền cảnh ấy, nhìn theo góc độ nào cũng vẫn chỉ thấy một con người tự do, một nhà cách tân nghệ thuật thật mong manh và đơn độc:

Đây là những dòng thơ kí họa hình tượng Lorca bằng ấn tượng Thanh Thảo đã khắc

chạm sự cô đơn của Lor-ca thật hữu hình, cụ thể Những từ láy gợi cảm “chếnh choáng”,

“lang thang”, “mỏi mòn” xuất hiện như nét vẽ liên tục phác họa chân dung và cảm xúc của

Lorca Lorca hiện ra như một kẻ du ca, điển hình cho hình ảnh người nghệ sĩ chân chính theo quan niệm phương Tây: “đơn độc” và vô hại Hai chữ “đơn độc” diễn tả nỗi cô đơn khắc khoải của người nghệ sĩ chỉ có “vầng trăng”, dấu chân “yên ngựa” kia làm bạn trên khắp nẻo đường Tây Ban Nha Đơn độc là thế ! Nó vang lên thành âm thanh lạc điệu của tiếng đàn giữa không gian ngột ngạt Tây Ban Nha Nó in dấu trên yên ngựa “mỏi mòn”, “lang thang” Nó đồng hành

cùng với “vầng trăng chếnh choáng” cô thương Dĩ nhiên, đó không phải là nỗi cô đơn nhỏ bé

của cá nhân giữa cuộc đời mà là nỗi cô đơn cao cả của một con người nghệ sĩ chân chính đi tìm cái đẹp trong thế giới bạo tàn, một mình đi trên con đường đấu tranh chính nghĩa mà không phải ai cũng hiểu và cảm thông Cùng với các từ láy tạo hình và gợi cảm xúc cao, hình ảnh

“vầng trăng chếnh choáng” trên “yên ngựa” là hình ảnh đẹp, hấp dẫn vừa tiếp tục gợi tả Lorca như một nghệ sĩ lãng du vừa diễn tả một trạng thái xúc cảm say mê, hưng phấn của người nghệ

sĩ và còn mang tính biểu trưng cho cái đẹp mà người sĩ đang kiếm tìm Khép lại đoạn thơ, từ

Trang 19

láy “mỏi mòn” đưa người đọc đến một kênh cảm xúc khác của người nghệ sĩ Lorca Hóa ra trên hành trình cô thương đi tìm và đấu tranh vì cái đẹp đâu chỉ có nỗi cô đơn, có những giây phút bay bổng, chếnh choáng của cảm xúc mà còn có bao mỏi mệt Và dường như đó là sự trả giá

mà người nghệ sĩ phải nếm trải trên con đường đến với nghệ thuật Giọng thơ theo từ ngữ này

mà trĩu xuống, dự báo chuyển mạch cảm xúc tất yếu ở đoạn thơ thứ hai nói về cái chết của Lorca, sự trả giá đắt nhất của một con người đơn độc trên hành trình đấu tranh cho chính nghĩa

và sáng tạo nghệ thuật

Giây phút bi phẫn nhất trong cuộc đời Lorca được nhà thơ Thanh Thảo tái hiện lại ngắn gọn và đặc sắc như thế Có một sự thật đơn giản mà tàn nhẫn được hé mở trong câu thơ Chính tiếng “hát nghêu ngao”, tiếng hát vô tư ngợi ca tự do, dân chủ đâu ngờ lại là nguyên cớ đưa người nghệ sĩ Lorca đến cái chết tàn khốc, kinh hoàng: “Áo choàng bê bết đỏ” Lại một lần nữa, hình ảnh áo choàng đỏ xuất hiện, nhưng không gợi cảm giác chói lọi ngột ngạt hư vinh của một đấu trường chính trị mà nó là hoán dụ độc đáo cho một cảnh tượng bi tráng về

cái chết đầy oan khuất, bất ngờ của Lorca Nghe trong ý thơ như có niềm đồng cảm sâu kín

của Thanh Thảo về nỗi đau thơ Việt trong những năm đổi mới đã phải trải qua những trả giá xót xa Điều thú vị là khi diễn tả khoảnh khắc bi phẫn này nhà thơ sử dụng lối kết hợp từ cô

đúc và phóng khoáng mở ra một biên độ liên tưởng rộng rãi cho người đọc Cụm từ “Tây Ban

Nha” trong câu thơ “Tây Ban Nha bỗng kinh hoàng” không có định ngữ xác định cụ thể nên cho phép người đọc liên tưởng theo nhiều chiều Có thể đó là một "Tây Ban Nha áo choàng đỏ

gắt" ở đoạn thơ trên, diễn tả hình ảnh một dân tộc đang chìm trong cuộc nội chiến đẫm máu

Nhưng theo mạch cảm xúc có lẽ nên hiểu đây là hình ảnh hoán dụ cho thân phận Lorca, gợi

ấn tượng về cái chết kinh hoàng, oan khốc Thế mới thấy sức gợi của hình ảnh thật phóng túng, bất ngờ nhưng tất cả cùng hòa cảm diễn tả thật bi xót giây phút ra đi đau đớn, đầy bi phẫn của một tinh anh

Trang 20

Trong khoảnh khắc bi phẫn này, chân dung Lorca hiện lên cũng bi thương Dường như con người thường xuyên bị ám ảnh về cái chết ấy cũng kinh hoàng, cũng không ngờ được rằng cái chết đến với mình sớm đến vậy Âm điệu thơ rung lên trong những đau đớn, căm uất

Lor-ca bị điệu về bãi bắn

Những câu thơ giản dị như lời kể hé mở một hiện thực phi lí, không thể chấp nhận nổi ngay kể cả với bản thân Lorca Lorca sống đơn côi và chết cũng đơn côi, lặng thầm Sự thật là cái chết của chàng đã từng mãi nằm trong màn bóng tối

Cùng với việc tái hiện khoảnh khắc bi phẫn nhất của cuộc đời của Lor-ca, nhà thơ

Thanh Thảo bất ngờ chuyển mạch liên tưởng, một liên tưởng giống như một giấc mơ về tiếng

đàn - sinh mệnh nghệ thuật của cuộc đời Lor-ca:

tiếng ghi ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi ta lá xanh biết mấy tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

Ở đoạn thơ này Thanh Thảo cũng đang nỗ lực làm một cuộc kiếm tìm nhịp điệu hài hoà giữa những giấc mơ về âm nhạc và ngôn từ Tiếng đàn là linh hồn, là định mệnh của Lorca Sinh thời Lorca từng viết về cây đàn

Ghi ta bật khóc như nước chảy theo mương như gió trườn trên tuyết Không thể nào

dập tắt Ghi ta khóc không ngừng những chuyện đời xa lắc

Ôi ghi ta trái tim ngươi tử thương dưới năm đầu kiếm sắc

(Cây đàn Ghi ta)

Trang 21

Tuy nhiên ở Thanh Thảo suy tưởng về tiếng đàn thật phóng túng không nhằm mục đích

mô phỏng, minh hoạ cái trong cái đục của âm thanh như câu thơ của Nguyễn Du “Trong như

tiếng hạc bay qua/ Đục như nước suối mới sa nửa vời” Ngược lại, nhà thơ diễn tả nhạc điệu

tiếng đàn bằng nhịp điệu của ngôn ngữ dồn dập :“tròn bọt nước”, “vỡ tan”, “ròng ròng”,

“máu chảy”.Nhưng đẹp nhất vẫn là cách diễn tả âm thanh bằng màu sắc (nâu, xanh), bằng

hình ảnh liên tưởng (“bầu trời cô gái ấy”, “ tròn bọt nước”).Tiếng đàn vì thế hiện lên trong

hoài cảm của nhà thơ như một bản tình ca yêu cuộc sống, biểu trưng cho cái Đẹp Đó là tiếng

đàn “ghi ta nâu” Nâu là mầu vỏ quen thuộc của chiếc ghi ta, cũng là sắc mầu của đất đai, gợi buồn thương da diết Đó là tiếng đàn “ghi ta lá xanh” , xanh sắc mầu của bầu trời, cây lá, của

sự sống mênh mang, của hy vọng, lung linh vẻ đẹp tình yêu cuộc đời và con người Đó là tiếng

đàn ghi ta “tròn bọt nước”, vóc hình của âm thanh trong veo, tròn trịa Mỗi so sánh là mỗi

lần nữa làm nổi bật hơn tình yêu, cái đẹp trong tư tưởng, khát vọng tình cảm của Lor- ca

Song trong cảm thức của Thanh Thảo, giây phút bi phẫn của cuộc đời Lorca thì tiếng đàn của chàng cũng đã hóa thành thân phận, trở thành một linh hồn mang nỗi đau

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi ta ròng ròng

máu chảy

Bản tình ca da diết về tình yêu sự sống chợt đứt đoạn Hai chữ "vỡ tan" đánh dấu thời

điểm đổ vỡ ấy Ôi ! Lor- ca, con người đã sống đơn thương trên con đường đấu tranh, Lor-ca con người đã từng hát những điệu đàn đấy sức mạnh quả cảm, tự do trong cuộc đời đã chết rồi

! Có thể đọc trong âm điệu thơ những nghẹn ngào tiếc xót trong lòng Thanh Thảo về số phận

bi kịch của một người nghĩa khí, những căm giận bức bối đối với tội ác của bọn phát xít Tiếng

đàn nâu, xanh, mầu sự sống đất trời mênh mang, mầu của buồn vui tha thiết cũng biến sắc thành màu của cái chết: “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy” Nó là tiếng van vỉ than khóc của trái tim bị một tử thương “Ghi ta ròng ròng máu chảy” là một hình ảnh nhân hóa nhức nhối

về sắc màu, đau đớn về cả cảm giác, gợi suy tưởng về cái chết đau thương của người nghệ sĩ Lor-ca bị hành quyết, tiếng đàn – bản tình ca yêu sự sống của chàng cũng bị hành quyết Giờ đây, nỗi đau nghệ thuật đã hòa cùng nỗi đau thân xác Câu thơ gợi nhắc những ý thơ quen

thuộc trong một số sáng tác của Nguyễn Du:

- “ Bốn dây như khóc như than…”

Trang 22

vô tư và hiện thực phũ phàng đến kinh hoàng (áo choàng bê bết máu), giữa tình yêu, cái đẹp với hành động tàn ác, dã man Trên nền đối lập ấy Lor ca đi về trong suy tư của tác giả bi thương nhưng là sự bi thương bất tử

Ở phần thơ thứ 3 dòng cảm xúc đi từ xót thương chuyển hóa thành niềm tin về sự bất tử của Lorca , của những bài ca đẹp mà chàng đã dâng tặng cho cuộc đời

không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang

Những câu thơ nhắc tới lời thơ như lời tuyệt mệnh, dự báo cái chết bi kịch ngay khi

Tuy nhiên, ý thơ Thanh Thảo không chỉ nhằm mục đích tái hiện tình yêu say đắm của

Lorca với nghệ thuật, với đất nước Tây Ban Nha hay chạm khắc lại bằng ngôn ngữ cái tư tưởng sâu sắc, có tính tiến bộ của Lorca: cần phải biết chôn nghệ thuật của ông để thi ca đó

Trang 23

không trở thành vật án ngữ cản trở sự sáng tạo nghệ thuật, giúp nghệ thuật đi tới, vươn cao hơn Vượt lên ý nghĩa này, Thanh Thảo muốn khẳng định sự vĩnh hằng của Lor-ca bằng hình ảnh so sánh quen thuộc mà độc đáo có khả năng khơi gợi nhiều liên tưởng và cảm xúc: “tiếng đàn như cỏ mọc hoang” Cỏ là một biểu tượng quen thuộc trong thế giới nghệ thuật, tượng trưng cho sự đơn sơ khiêm nhường dân dã, sức sống mãnh liệt, trường tồn bất diệt Vì thế, so sánh này trước hết nhằm bất tử hóa tiếng đàn của Lorca, tài năng sáng tạo nghệ thuật của Lorca, và khẳng định một chân lí: Có thể giết chết một con người nhưng không thể tiêu diệt được khát vọng sống và khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ Đàn có thể bị đập vỡ nhưng tiếng đàn - Cái Đẹp không thể bị hủy diệt, nó sẽ được truyền tụng mãi mãi Song cũng có thể hiểu so sánh này còn mang ý nghĩa bày tỏ nỗi xót xa tiếc nuối trước sự ra đi đột ngột của Lorca Lorca ra đi đã để lại sự nghiệp dở dang, những khát vọng cách tân còn bỏ ngỏ, từ đây nền nghệ thuật Tây Ban Nha sẽ không còn ai dẫn đường - như cỏ hoang

Đồng hành với những suy tư về tiếng đàn sinh mệnh nghệ thuật của Lorca, Thanh Thảo cũng suy tư về cái chết của Lorca: “Giọt nước mắt vầng trăng - long lanh trong đáy giếng”

Hình ảnh này gợi nhắc lại cái chết oan khuất của Lorca Chàng bị bọn phát xít giết, xác của

chàng cũng bị ném xuống giếng sâu để phi tang Nhưng cảm xúc đậm đặc gợi lên từ câu thơ vẫn là một vẻ đẹp cao khiết, rạng ngời Ở đây, nhà thơ đã sử dụng phép tỉnh lược ngôn ngữ, xóa bỏ liên từ một cách tối đa tạo ra những lớp ý nghĩa mới “Giọt nước mắt” của ai ? Của Lorca ? Của vầng trăng ? Hay của nhân dân Tây Ban Nha ? Vầng trăng nơi đáy giếng hay vầng trăng soi xuống đáy giếng ? Dù hiểu theo cách nào, hình ảnh vẫn chơi vơi giữa hai miền cảm xúc: thương cảm và ngợi ca, nỗi đau và cái đẹp Nó long lanh soi tỏ và khóc thương một

con người đã chết cho quê hương, cho sự hồi sinh của nền dân chủ Và dường như nó còn là

hoá thân của huyền thoại Lorca Nếu tiếng đàn chàng nghệ sĩ Lorca đã hoá thân thành cỏ dại bất diệt, thì phải chăng thân xác chàng đã hoá thành giọt nước mắt - vầng trăng, biểu tượng của nỗi đau oan khuất, của cái đẹp bất diệt có khả năng tái sinh tình yêu, và giải oan cho thân phận Lorca

Suy tư về sự bất tử của Lorca, nhà thơ cũng dựng lên một huyền thoại về cuộc giã từ của Lorca với cuộc đời

đường chỉ tay đã đứt

Trang 24

dòng sông rộng vô cùng Lor-ca bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc

Đây là hai hình ảnh có tính chất liên kết giữa thực và hư Hình ảnh “đường chỉ tay đã đứt” tượng trưng cho định mệnh nghiệt ngã, dự báo cái chết Thật vậy, sinh thời Lorca hay nói

về cái chết Còn hình ảnh “dòng sông rộng vô cùng” mang màu sắc huyền thoại, là dòng sông

thời gian, tượng trưng cho đường biên ngăn cách hai thế giới: thế giới của người sống và thế giới của người chết, thế giới của thực tại ngắn ngủi và thế giới của huyền thoại bất tử Trong cảm nhận của Thanh Thảo, Lorca nắm được định mệnh của mình, nên chàng đã về với thế giới vĩnh hằng trong dáng vẻ nghệ sĩ, bình thản, chủ động: “Lorca bơi sang ngang” Dòng thơ toàn

thanh bằng, giọng điệu mênh mang, phiêu diêu diễn tả tư thế của cuộc giã từ thật tráng lệ

Chính “chiếc ghi ta màu bạc”, sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của ông đã là con thuyền thơ tuyệt đẹp trở người nghệ sĩ ấy phù du về cõi bất tử Trong giây phút giã từ như một giấc mơ

này, hình ảnh chiếc ghi ta cũng chuyển màu từ những sắc màu đậm nét của sự sống: “nâu”,

“xanh”, của nỗi đau “ròng ròng máu chảy” chuyển thành “màu bạc”, màu của huyền thoại, cao khiết, sang trọng

Nhưng để bước qua thế giới ấy, Lor-ca cũng phải từ bỏ tất cả những gì đã từng gắn bó thiết tha:

chàng ném lá bùa cô gái Di -gan vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt li- la li -la li -la

Giã từ thế nào đây khi sau lưng là tất cả những gì thân thương ? Một loạt những hình ảnh đầy tính siêu thực xuất hiện đoạn thơ "Lá bùa cô gái Di-gan", lá bùa định mệnh biểu tượng của niềm tin vào sự cứu rỗi, "trái tim" biểu tượng của sự sống, tình yêu, "xoáy nước", hiện thân của những sóng gió, những vang động bất thường Lor-ca cũng phải “ném” tất cả những gì mà cuộc đời mình đã từng đa mang để đi vào huyền thoại Động từ "ném" diễn tả một hành động mạnh mẽ dứt khoát từ bỏ dù dằn lòng đau đớn Bởi lá bùa cứu rỗi kia nó không còn chức năng cứu rỗi nổi con người Định mệnh đã sắp đặt trên lòng bàn tay Bởi trái

Trang 25

tim kia đã lặng im bất chợt trước nhịp sống “Xoáy nước” hãy cuốn đi, lặng im để cho nhịp thời gian chảy mãi: li-la li-la , để cho sự sống ở lại vẫn tiếp tục hành trình vô tận của nó, sự sáng tạo nghệ thuật mãi tiếp diễn hồi sinh Sứ mệnh của Lor-ca đã hoàn thành

Chợt thấy thấp thoáng dư âm của một khúc tống biệt hành “Mẹ thà coi như chiếc lá bay…” Bi tráng biết bao! Nhưng giọng thơ còn khắc khoải một tâm sự đồng cảm của chính Thanh Thảo về một khát khao đổi mới thơ Việt Để bước đến một thế giới mới, một thời đại mới của sáng tạo đôi khi con người nghệ sĩ phải dám từ bỏ cả chính mình, tình yêu một thời, niềm tin một thời, sự sống một thời – một khi tình yêu ấy, niềm tin ấy, sự sống ấy đã “lặng

im” Đó là cách mở đường cho những âm vang mới li- la li-la

Bài thơ kết thúc bằng việc láy lại chuỗi âm thanh của tiếng đàn trong khúc dạo đầu của

bài thơ: “li-la li-la li-la” Một lần nữa điệp khúc này vang lên vừa gợi liên tưởng về sự bung

nở bát ngát mênh mang của sắc tím hoa li-la huyền ảo, vừa khiến cho bài thơ vừa có hình thức

vĩ thanh của bản nhạc giao hưởng bè trầm bi tráng, mang dáng dấp của một khúc ca tưởng niệm về một con người có nhân cách thanh cao Đó chẳng phải là cách bày tỏ chân thành và cảm động nhất sự tri âm và lòng kính trọng của Thanh Thảo đối với người nhạc sĩ, nhà thơ Tây Ban Nha Phê-đê-ri-cô Ga-xi-a Lor-ca hay sao ?

Trang 26

1945, nó bao gồm nội dung về những cách tân, tư tưởng và hình thức nghệ thuật góp phần tạo nên sự chiến thắng hoàn toàn của thơ mới trước thơ cũ Vậy thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám có những đổi mới gì về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật? Trong phạm vi chuyên đề này, tôi chỉ trình bày một số vấn đề có tính nổi bật, tiêu biểu

về một số nét đặc sắc đổi mới về nội dung và nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước cách

mạng tháng tám với hy vọng để phục vụ tốt hơn cho việc dạy, học tác phẩn của Xuân

Diệu trong chương trình THPT và giúp nâng cao kiến thức cho các em học sinh lớp 11 chuyên văn và đội tuyển HSG môn Ngữ văn của trường

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ

1 Cơ sở lý luận:

Trang 27

Nghiên cứu Xuân Diệu, có nghĩa là nghiên cứu một hiện tượng nghệ thuật điển hình, một vận mệnh thơ ca tiêu biểu cho cả thế hệ thi nhân tiền chiến 1932- 1945 ở hai thời kì sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám

Ở giai đoạn đầu, với hai tập thơ “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945), Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca lãng mạn, là nhà thơ

“ mới nhất” trong các nhà thơ mới

Về nội dung, ông đã đem đến cho thi đàn Việt Nam những năm ba mươi một

nguồn cảm hứng yêu đời dạt dào, một luồng rung động ào ạt, mới mẻ trước tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôi giàu bản sắc

Về hình thức, ông là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho thơ Việt Nam

và làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo và những nét nhạc điệu tân kỳ có thể nói rằng, sự cộng hưởng giữa khát vọng sống và khát vọng đổi mới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo ra sự cảm hoá đặc biệt của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Vì khát vọng mãnh liệt ấy, ông đã nhìn cuộc đời qua lăng kính ái ân, ông đã biến đời sống trần gian để thành thiên đường yêu để khát khao thụ hưởng, để đắm đuối tình yêu.Với nửa thế kỷ hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại trong kho tàng văn học dân tộc một di sản lớn

Ai đem phân chất một mùi hương

Hay bản cầm ca tôi chỉ thương

Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc

Trang 28

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương

Nếu để yêu, để thích thơ Xuân Diệu thì chỉ cần một trái tim non vừa biết đến yêu thương và hò hẹn Nhưng để tìm hiểu, nghiên cứu thơ Xuân Diệu lại phải có trí tuệ, thời gian, khả năng phân tích khoa học Các nhà nghiên cứu tìm hiểu thơ ông càng thấy như

đi vào một khu vườn đẹp nhiều trăng gió “ Vườn cười bằng bướm hót bằng chim”,

“ Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã”, “ Lòng tôi đó một vườn hoa cháy nắng” và bông hoa, ngọn cỏ, tia sáng, bóng tối đều chứa đựng bao điều huyền bí, hấp dẫn song không dễ ai cũng có thể cảm nhận được một cách đầy đủ về thơ ông

Trải qua những bước thăng trầm của đời sống văn học, ngày nay thơ mới nói chung và thơ Xuân Diệu nói riêng đã được trao trả lại những giá trị đích thực của nó

Bằng sự kết hợp nhiều phương pháp, từ nhiều góc độ tìm hiểu khác nhau, tôi hy vọng chuyên đề này sẽ đóng góp thêm một cách nhìn và tiếp cận về thơ Xuân Diệu - một nhà thơ cá tính sáng tạo độc đáo vào bậc nhất của thơ lãng mạn Việt Nam Chuyên

đề này mới chỉ là những tìm hiểu bước đầu về chặng đường đầu của một nhà thơ nổi tiếng của trào lưu thơ ca lãng mạn Việt Nam- người đã tái tạo nguồn sinh lực cho thơ mới vào thời cực thịnh

II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

1 Cái tôi cá nhân mới mẻ

Trong văn học trung đại, xuất phát từ ý thức hệ tư tưởng phong kiến xem con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ Thiên- Địa- Nhân, thì tình cảm suy nghĩ của con người nảy sinh tương ứng với những biểu hiện muôn hình muôn vẻ của trời đất, vũ trụ tuần hoàn sinh hoá vĩnh cửu và các thi nhân cổ thường thoả mãn trong sự hoà tan của chủ thể vào khách thể Bởi vì, “các nhà thơ cổ điển chưa có ý thức đối lập tách bạch chủ thể và khách thể để nhìn từ một trong hai phía” ( GS Trần Đình Sử ) Theo đó, “cái tôi” cá nhân bị kìm hãm, nó ẩn nấp vào cái cộng đồng, đây là đặc điểm “cái tôi” trữ tình trong thơ truyền thống Sang thế kỷ XX, “cái tôi” xuất hiện rõ nét hơn trong thơ Tản

Đà Ông là người có công khẳng định “cái tôi” trong say và mộng Đó là “cái tôi” chưa

Trang 29

phải là tự ý thức mà “cái tôi” được khẳng định ở cõi trời, cõi hư vô Ví dụ: Tản Đà quan niệm sống là hưởng thụ:

“ Tớ muốn chơi cho thật mãn đời

Đời chưa thoả mãn tớ chưa thôi”

Trốn vào cõi mộng cõi tiên:

“ Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi

Trần thế em nay chán cả rồi”

( Muốn làm thằng Cuội)

Đến giai đoạn 1930- 1945, các nhà thơ lãng mạn ý thức về mình như một thế giới phức tạp, phong phú Thơ mới ra đời là sự khẳng định “cái tôi” cá nhân được giải phóng Có thể nói, Thơ là một dàn hợp xướng của “cái tôi” cá nhân, trong đó, “cái tôi” Xuân Diệu được thể hiện nổi bật và chói lọi nhất Ở đây, “cái tôi” Xuân Diệu không phải là “cái tôi” cảm tính mà là “cái tôi” tự ý thức, “cái tôi” nâng lên thành triết lý sống của mình:

“ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm ”

( Giục giã)

Với Xuân Diệu, cái tôi còn được khẳng định mang màu sắc triết học, điều đó khẳng định sự tồn tại của con người trước cuộc đời Nếu Đề-Các ( 1596-1650) quan niệm “ Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại” thì Xuân Diệu khẳng định chắc chắn “Tôi yêu thì tôi tồn tại”

Làm sao sông được mà không yêu

Không nhớ, không thương một kẻ nào

Và cái tôi đó không chịu hoà tan vào cộng đồng:

Ta là một là riêng là thứ nhất Không có ai bè bạn nổi cùng ta (Hi mã lạp sơn)

Trang 30

Có thể thấy, Xuân Diệu có một cái tôi nồng nàn, hồn nhiên trẻ trung, luôn khát khao giao cảm với cuộc đời, biểu hiện ở thái độ vồ vập, cuống quýt, là sự ham hố tột bậc trước cuộc đời

Khát vọng giao cảm của Xuân Diệu không chỉ dừng lại trong tâm tưởng mà ông muốn biểu hiện trực tiếp bằng hành động :

- ‘‘Ta muốn ôm

cả sự sống… ’’

( Vội vàng)

- ‘Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời,

Kẻ đựng trái tim trìu máu đất Hai tay chín móng bám vào đời »

( Hư vô)

Mọi biểu hiện đó, dường như không thể diễn tả bằng cảm xúc, suy nghĩ mà bằng hành động cuồng si :

Trời ơi, ta muốn uống hồn em ! ( Vô biên)

Nhưng với ông, bao giờ cũng chưa đủ, bao giờ cũng phải «thêm nữa», bởi ông muốn « thâu » vào trong lòng bàn tay mình tất cả vũ trụ, cả sự sống :

Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi

( Vội vàng)

Như vậy, hình tượng cái tôi là nhân vật trung tâm trong thế giới nghệ thuật Xuân Diệu, nó khẳng định tâm trạng yêu đời, thiết tha với cuộc sống ; đồng thời, cũng bộc lộ một quan niệm nhân sinh mới mẻ Có thể nói « lầu thơ của Xuân Diệu được xây trên đất của trần gian ông muốn đốt cháy cảnh bồng lai và lùa ai nấy về hạ giới » và quả thực cái tôi Xuân Diệu như con ngựa trẻ không cương, chân nổi gió cứ mặt trời thẳng tiến

Trang 31

2 Xuân Diệu đem đến cho Thơ mới một cách nhìn trẻ, lòng yêu tuổi trẻ

Trong thơ trung đại thường quan niệm thời gian tuần hoàn biến dịch theo hai chiều Đạo Phật cho rằng, con người ta có kiếp luân hồi (sống kiếp này nhưng lại đầu thai vào kiếp sau) Các nhà thơ cổ điển quan niệm thời xoay chuyển theo quy luật của vũ trụ :

Chớ có bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai ( Cáo tật thị chúng- Mãn Giác)

Và mùa xuân là tuần hoàn :

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại

( Hồ Xuân Hương)

Còn trong thơ ca hiện đại, đặc biệt là thơ Xuân Diệu sự ý thức cá nhân, sự trỗi dậy của đời là thời gian tuyến tính và nó trôi đi không bao giờ trở lại Vì vậy, thơ Xuân Diệu cháy bỏng một tình yêu tuổi trẻ được nâng lên như một thứ tôn giáo Thi sĩ đã chỉ

ra những khoảnh khắc của tuổi trẻ :

- Em 16 tuổi chỉ một lần

hoặc : - Em không có hai lần tuổi 20

- Em chẳng bao giờ có lại tuổi 18

Cho nên nhà thơ lúc nào cũng hối hả, vội vã Tất cả như cố đoạt lấy, tận hưởng nhưng khoảnh khắc ngắn ngủi của thời gian đời người :

Mau với chứ thời gian không đứng đợi

…Gấp đi em anh rất sợ ngày mai

( Giục giã)

Nhà thơ không chỉ khắc phục thời gian bằng tốc độ ‘ vội vàng’,‘mau’, ‘gấp’ mà còn khắc phục thời gian bằng sự dồn nén của cường độ sống tao nên niềm say mê mãnh liệt trong mỗi câu thơ Chẳng hạn khi ông viết : « Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi »

Trang 32

Với tấm lòng yêu tuổi trẻ, Xuân Diệu luôn thể hiện một cách nhìn trẻ trung, tươi mới Đọc thơ Xuân Diệu, ta thấy trong thơ ông có nhiều mùa xuân, thậm chí « xuân không mùa , « xuân vĩnh cửu » :

Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ Chim trên cành há mỏ hát ra thơ Xuân là lúc gió về không định trước

( Xuân không mùa)

Trong cuốn thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh- Hoài Chân đã nhận định: “ Thơ Xuân Diệu vốn là một nguồn sống dạt dào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết”

3 Tình yêu trong thơ Xuân Diệu:

Là khu vườn đủ mọi hương sắc, là bản nhạc của đủ mọi âm thanh: từ tình yêu ngây thơ e ấp đến đằm thắm dịu ngọt; từ nồng nàn say đắm đến si mê điên dại Trong thi ca truyền thống, do tư tưởng lễ giáo phong kiến chi phối nên tình yêu chỉ đề cập đến

sự gần gũi về tâm hồn Nhưng đến thơ mới, tình yêu được thể hiện ở nhiều cung bậc, ở

đó không chỉ là ”sự hôn nhân” mà “trăm hình muôn trạng” đặc biệt với Xuân Diệu, tình yêu là trạng thái biểu hiện lòng yêu đời sôi nổi nhất, kỳ diệu nhất Ông đã đốt lòng ham sống thành ngọn lửa tình yêu không bao giờ tắt

Ngay từ khi biết làm thơ, viết những trang thơ đầu tiên, Xuân Diệu đã viết về tình

yêu và coi tình yêu là lẽ sống “ Bài thơ tuổi nhỏ” (1933) khi nhà thơ 17 tuổi đã chứng

Trang 33

- Kẻ uống tình yêu dập cả môi

- Trời ơi ta muốn uống hồn em

Tình yêu trong thơ Xuân Diệu vừa có cái cao khiết của tâm hồn, vừa có cái cường tráng của nhục thể Đó là tình yêu của con người với con người sống giữa cuộc đời chứ không phải tình yêu trong sách vở Bởi Xuân Diệu quan niệm tình yêu phải luôn mãnh liệt, sôi nổi rất trần thế mà không trần tục:

Tôi là một kẻ điên cuồng Yêu những ái tình ngây dại

Để rồi yêu như thế “ vẫn còn chưa đủ”, thi sĩ “ tham lam” đòi hỏi hơn thế nhiều:

Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân Đem chim bướm thả trong vườn tình ái

( Phải nói)

Trang 34

Và ngay cả khi xế chiều, thơ Xuân Diệu vẫn dào dạt tuổi 20:

Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt

( Biển)

Có thể khẳng định, “ thơ tình Xuân Diệu là bài ca sự sống” ( Huy Cận) Thơ ông bắt nguồn từ sự sống của một con người rất mực say mê, rất mực yêu đời, từ sự sống của một con người đến sự sống của muôn người

4 Những cách tân về nghệ thuật:

a) Trước hết, đó là sự đổi mới về phương thức trữ tình

Nếu thơ thơ trung đại chủ yếu là phương thức trữ tình điệu ngâm, chủ thể trữ tình không xuất hiện mà hoà tan vào vũ trụ, vào “ cái ta” chung của cộng đồng thì đến Xuân Diệu, thơ trữ tình của ông là điệu nói Chủ thể chữ tình là “cái tôi”, vang lên một cách

rõ rệt như những điệp khúc Chủ thể trữ tình dù xưng danh hay “nhập vai” bao giờ cũng bộc lộ rõ:

- Tôi là một kẻ thơ

- Tôi là một kẻ điên cuồng

- Tôi là con nai

- Tôi chỉ là một cây kim

- Tôi chỉ là con chim bơ vơ

- Tôi muốn ôm

Tính chất “nói” trong những bài thơ trữ tình của Xuân Diệu gần lối với định nghĩa có đại từ nhân xưng “ Tôi”: “tôi là ”; “tôi biết lắm ”; “ tôi chỉ”; “tôi vẫn biết ” Với phương thức diễn đạt này, “ cái tôi” nhà thơ được khẳng định, vai trò chủ thể trữ tình trong việc cảm nhận hiện thực được thể hiện trực tiếp Mặt khác, phương thức này làm cho câu thơ gần với văn xuôi hơn, hiện đại hơn

Trang 35

b) Thơ Xuân Diệu mang đến cách cảm nhận mới về thế giới

Trong thơ cổ, thế giới chủ yếu được được cảm nhận bằng thị giác, thính giác và ý tình được biểu hiện qua cảm xúc Cho nên các nhà thơ thường cấu tứ theo kiểu nghe – nhìn

và xúc cảm “vọng”, “đăng”, “thượng”, “cảm”, “hoài” Đến Xuân Diệu, thế giới được cảm nhận bằng mọi giác quan với cả xúc giác, vị giác, khứu giác và nhất là ấn tượng mang đậm dấu ấn của thuyết tương giao ảnh hưởng từ thơ Pháp

Nhà thơ cảm nhận được mùi, màu của nhạc:

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

Hãy tự buông cho khúc nhạc hường

( Huyền diệu)

Vị ngọt ngào của gió:

Hương hiu hiu gió cũng ngọt ngào Hồn nho nhỏ mà đầu hoa nặng trĩu

- Những luồng run rẩy rung rinh lá (Đây mùa thu tới)

- Cành biếc run run chân ý nhi (Ý thu)

- Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân ( Thơ duyên)

c) Lời thơ Xuân Diệu có những cách tân mới lạ trong cách diễn đạt Đọc thơ

Xuân Diệu, ta thấy gần với đời sống với hiện thực nhất là với những câu thơ hết sức hiện thực, hết sức sinh động Đơn vị câu thơ phần lớn không trùng khít, câu tràn sang nhiều dòng; ngược lại, một dòng chứa nhiều câu;

Trang 36

- Tôi là con chim đến từ miền núi lạ

Ngứa cổ hót chơi

( Lời thơ vào tập “ Gửi hương cho gió”)

- Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa

( Vội vàng)

- Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh,

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!

( Tương tư chiều)

Khác với cấu trúc đăng đối hài hoà của các câu thơ cổ, cấu trúc thơ Xuân Diệu cũng làm thay đổi hẳn các tổ chức lời thơ Câu thơ của ông tràn từ câu trên xuống câu dưới, thậm chí “ vắt dòng” kiểu như văn xuôi:

Hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy

(Với bàn tay ấy)

Là một trí thức tây học, ông học tập được ở Pháp những biểu hiện mới và vận dụng thành thục trên hai phương diện câú trúc: ngữ âm và thanh điệu Đó là cách sử dụng phụ

âm đứng gần nhau trong câu thơ tạo hiệu quả diễn đạt đặc sắc:

Phụ âm “ b”: - Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

Phụ âm “ r”: - Những luồng run rẩy rung rinh lá

Phụ âm “ l” và “ ung”: - Linh lung bóng sáng bỗng rung mình

Đặc biệt, ở bài “ Nhị hồ”, nhà thơ sử dụng toàn vần bằng với các âm tiết nối vần liên tiếp khi viết hai câu thơ để thể hiện nỗi buồn hiu hiu đầy ấn tượng:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

Những cách diễn đạt lạ trên đã làm cho thơ Xuân Diệu khác hẳn với thơ ca trước

đó và cũng “ lạ” ngay với cả thơ đương thời

Xuân Diệu là nhà thơ tài hoa, tiêu biểu cho một khát vọng đẹp đẽ, lớn lao của con người trong cuộc sống Trước cách mạng tháng 8- 1945, Xuân Diệu được mệnh danh là

Trang 37

Ông hoàng của thơ tình yêu, điều đó chứng tỏ được sự hấp dẫn đặc biệt của thơ ông

với biết bao trái tim người đọc qua nhiều thế hệ Xuân Diệu xứng đáng là “ người đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất” ( Vũ Ngọc Phan), là tác gia có những đóng góp lớn lao cho nền Văn học hiện đại

C / Kết luận

Thơ Xuân Diệu thực sự là những “ viên ngọc quý” trong nền văn học Việt Nam hiện đại, là sản phẩm tâm hồn, trí tuệ tuyệt vời của người nghệ sĩ khát sống, khát yêu Trải qua những thăng trầm của lịch sử qua bao thế hệ người thưởng thức Thơ Xuân Diệu (đặc biệt là trước Cách mạng tháng 8) đã tỏ rõ giá trị tư tưởng nội dung và nghệ thuật trong nền thi ca hiện đại cái hay, sự hấp dẫn của thơ Xuân Diệu chính là ở sự độc đáo về nghệ thuật, thi pháp ở sự thể hiện “cái tôi” trong quan hệ gắn bó với đời ở tư tưởng thẩm mĩ mới mẻ và quan niệm nhân sinh tích cực để giúp học sinh hiểu đúng, hiểu sâu sắc về tác gia Xuân Diệu và các tác phẩm của ông được giới thiệu trong chương trình Tôi nghĩ, nên tìm hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật thơ Xuân Diệu Trên cơ sở đó mà tìm tòi những biện pháp, phương pháp dạy học tích cực, nâng cao chất lượng giờ giảng, chất lượng môn học

Cao Bằng, Tháng 11 / 2009

Trang 38

A Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh

- Cảm nhận được tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của tác giả

- Thấy được nghệ thuật sử dụng từ ngữ đặc sắc, giàu sức gợi tả và ý thức của Nguyễn Trãi trong việc tìm tòi sáng tạo một thể thơ viết bằng Tiếng Việt

B.Phương tiện thực hiện

I KTBC: Đọc thuộc lòng phần dịch thơ bài “Cảm hoài”, Phân tích vẻ đẹp bi tráng của

tác giả trong bài thơ?

II Bài mới

Trên báo Văn nghệ tháng 8 năm 1957, nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận viết "Cảnh

vật trong thơ Nguyễn Trãi là cảnh vật đầy tư tưởng Cảnh vật có tư tưởng mà ra Nguyễn Trãi thở bằng phong cảnh, tỏ tình bằng phong cách, không bắt nó thành non bộ

Trang 39

của mình, tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này" Bài thơ Nôm "Cảnh ngày hè" của

Nguyễn Trãi là một biểu hiện cụ thể của tinh thần ấy

Hoạt động của giáo

viên

Hoạt động của học sinh Yêu cầu cần đạt

? Hãy giới thiệu ngắn

gọn về tập thơ Quốc âm

thi tập

HS giới thiệu tập thơ

I Tìm hiểu chung

1– Quốc âm thi tập

- Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi gồm 254 bài Đây là tập thơ Nôm cổ nhất còn lại, nhiều bài được đánh giá là hay nhất

- Gần 2/3 số bài trong tập được làm theo thể thất ngôn xen lục

ngôn Cảnh ngày hè là một trong

số bài đó

- Đây nguyên là bài số 43 trong

chùm Bảo kính cảnh giới (Gương

báu răn mình) và là bài thơ 170 trong tập

? Nêu những hiểu biết

- Thể thơ này giống thất ngôn

Trang 40

khác nhau giữa hai thể

thơ này có ý nghĩa như

thế nào?

từ đó rút ra nhận xét Đường luật 3 điểm:

+ Số câu: 4 hoặc 8 + Vần: gieo ở chữ cuối các câu

1, 2, 3, 4, 6, 8

+ Các cặp 3 – 4, 5 – 6 đối ngẫu

- Điểm khác nhau:

Thể thất ngôn Đường luật chỉ

có tiết tấu 4/3 trong khi thể thát ngôn xen lục ngôn có tiết tấu đa dạng (do câu 6 xen câu 7)

- Ý nghĩa: thơ thất ngôn xen lục ngôn đánh dấu bước sáng tạo đầu tiên của thơ ca tiếng Việt so với cội nguồn Trung Hoa

2 Cấu trúc

a Câu mở đầu

Ngày đăng: 19/07/2019, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Thanh Thảo, Mãi mãi là bí mậ,t Nxb Lao động, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãi mãi là bí mậ,t
Nhà XB: Nxb Lao động
3.Thanh Thảo, Trò chuyện với nhân vật của mình, Nxb Hội Nhà Văn, 2009 4.Thanh Thảo, Thời gian cô đặc trong thơ Văn Cao, TCVNQĐ, 2004 5.Thanh Thảo, Cỏ vẫn mọc, Nxb Hội Nhà Văn, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chuyện với nhân vật của mình," Nxb Hội Nhà Văn, 2009 4.Thanh Thảo, "Thời gian cô đặc trong thơ Văn Cao," TCVNQĐ, 2004 5.Thanh Thảo," Cỏ vẫn mọc
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
6.Anh Ngọc, Hãy đưa cho tôi một tư tưởng, VNQĐ, số12/1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đưa cho tôi một tư tưởng
7.Thanh Thảo, “Đêm trên cát”, Nxb Hội Nhà Văn, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đêm trên cát”
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
8.Chu Văn Sơn, ‘Thanh Thảo với trường ca”- in trong “Tuyển tập trường ca Thanh Thảo”, Nxb Hội Nhà Văn 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Thanh Thảo với trường ca”"- in trong "“Tuyển tập trường ca Thanh Thảo”
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w