1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

1 số đề so sánh bài việt bắc

26 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 44,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau trong cảm hứng về quê hương đất nước của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 được thể hiện qua hai bài thơ "Đất Nước" trong trường

Trang 1

Phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau trong cảm hứng về quê hương đất nước của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 được thể hiện qua hai bài thơ "Đất Nước" (trong trường ca "Mặt đường khát vọng") của Nguyễn Khoa Điềm và "Việt Bắc" của Tố Hữu.

"Việt Nam ơi! Ta mến yêu Người" Đó không chỉ là lời của một bài ca,

mà còn là tiếng hát của hàng triệu trái tim con người Việt Nam yêu nước Với tìnhcảm yêu nước thiết tha, thiêng liêng, sâu nặng ấy, bằng bút pháp, phong cách nghệthuật khác nhau, các thi sĩ - chiến sĩ đã tạo dựng lên được những nét chung vànhững sắc màu khác nhau thật đa dạng và hấp dẫn về hình tượng Tổ Quốc Qua bài

thơ "Đất nước" (Một chương trong "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm)

và "Việt Bắc" của Tố Hữu, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.

Trước hết là cảm hứng về tư thế Độc lập - tự do của một nước Việt Nam mới, tư thế của người dân tự hào được làm chủ đất nước mình.

- Ở giữa chiến khu kháng chiến, nhìn khí thế của cả dân tộc ra trận, giọngthơ Tố Hữu cất lên đầy phấn chấn, tự hào:

" Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung"

- Và giữa những ngày khí thể đánh Mỹ và thắng Mỹ hào hùng, NguyễnKhoa Điềm cũng đã tiếp tục khẳng định ý thơ đó bằng những cảm xúc phơi phớiniềm tin:

"Đất nước này là đất nước nhân dân Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại"

Cảm hứng về Đất nước của nhân dân, nhân dân làm nên Đất nước cũng là một

cảm hứng nổi bật được thể hiện ở hai bài thơ này nói riêng, của thơ ca hiện đại nói

chung

- Với Tố Hữu đó là những "Em gái hái măng" những " người đan nón chuốt từng sợi giang " là "những bà mẹ nắng cháy lưng, địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô", rộng hơn nữa là những "dân công đỏ đuốc từng đoàn", những binh đoàn bộ đội "Quân đi điệp trùng trùng" tiếp bước ra trận để quyết làm nên " Một Điện Biên lừng lẫy địa cầu"

- Với Nguyễn Khoa Điềm, đó là những con người bình dị vô danh "Có biết bao người con gái, con trai; Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi; Họ sống

và chết; giản dị và bình tâm; Không ai nhớ mặt đặt tên " Chính những con người

ấy là nhân dân vô tận đã tạo dựng và gìn giữ đất nước trải qua mọi thời đại Họkhông chỉ đánh giặc ngoại xâm, mà còn là người sáng tạo và truyền lại mọi giá trịvật chất và tinh thần cho các thế hệ nối tiếp nhau:

" Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ gánh tên làng tên xã trong mỗi chuyến di dân"

Trang 2

Cuộc ra trận của cả dân tộc ta ngày nay đã huy động được triệt để sức mạnh của

quá khứ: "40 thế kỷ cũng ra trận".Cho nên khuynh hướng suy ngẫm về quá khứ, tự hào về truyền thống bất khuất, anh hùng cũng là một cảm hứng được thể hiện khá

đậm nét ở hai bài thơ này

- Trên đường "Ta đi tới" bước tiếp con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và thống

nhất nước nhà, Tố Hữu đã cùng đồng bào Việt Bắc nhắc nhở nhau bằng những lờitha thiết"

"Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà"

" Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn"

Còn Nguyễn Khoa Điềm trong chương "Đất nước" cũng đã viết:

"Hàng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ"

Thông qua trái tim nồng thắm yêu thương và chói đỏ tự hào của các nhà thơ cách

mạng, bức tranh đất nước hiện ra trong nắng vàng tươi của lịch sử với vẻ đẹp vừa hùng vĩ, khoáng đạt, vừa tráng lệ in đậm dấu ấn của một dân tộc từng có một nền

văn hiến 4.000 năm lịch sử

Với Tố Hữu đó là: "Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi" , "Ngày xuân mơ nở trắng rừng", "Ve kêu rừng phách đổ vàng", "Rừng thu trăng rơi hoà bình" còn trang thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó là "Núi Vọng Phu", "Hòn Trống Mái", "Núi bút Non Nghiêm" là

phong cảnh Hạ Long, Cửu Long, Đất Tổ Hùng Vương

Cảm hứng lãng mạn, hướng tới chiến thắng và tương lai tươi sáng cũng là một cảm hứng nổi bật được thể hiện khá rõ nét ở cả hai bài thơ.

Trong giây phút chia tay "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi", Tố Hữu

đã lắng nghe được những bước đi của Đất nước hướng về ngày mai tươi sáng vớikhông khí rộn rã :

" Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

- Ngày mai rộn rã sơn khê Ngược xuôi tàu chạy bốn bề lưới giăng"

Còn Nguyễn Khoa Điềm trong chương "Đất nước" cũng đã viết những vần

thơ đầy cảm hứng lãng mạn, bay bổng:

"Ngày mai con ta lớn lên Con sẽ mang Đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng"

Do sự khác nhau về phong cách, cá tính sáng tạo, các nhà thơ đã có những tìm tòi khám phá riêng của mình tạo nên những vẻ đẹp đa dạng cho đất nước thật

là sinh động và hấp dẫn.

Trang 3

"Việt Bắc" của Tố Hữu được hoàn thành vào tháng 10 - 1954, khi trung ương Đảng và Chính phủ rời "Thủ đô gió ngàn" về với "Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình" Bài thơ đã trở thành một hoài niệm thiết tha về một thời cách mạng gian khổ mà rất đỗi vui tươi hào hùng Bằng những vần thơ lục bát ngọt ngào, thông qua cuộc

đối đáp có tính chất tưởng tượng giữa kẻ ở và người đi như thể người yêu đưa tiễnngười yêu đầy lưu luyến vấn vương, bằng lối xưng hô Mình - Ta mang đậm tính

chất truyền thống và đậm đà tình nghĩa, bài thơ "Việt Bắc" đã tái hiện được một cách chân thực và sinh động hình ảnh Tổ quốc những ngày kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc với những con người bình dị mà anh hùng cùng khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ thắm tươi đã cùng con người viết nên bản giao hưởng "Điện Biên lừng lẫy địa cầu" Giọng điệu chính của bài thơ là giọng tâm tình thiết tha sâu lắng ngọt ngào đậm đà màu sắc dân tộc và rất giàu tính nhạc Thông qua đó mà cảnh

và người kháng chiến hiện lên lấp lánh sắc mầu và rất đổi thương yêu:

"Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung"

"Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm là một chương (chương V) trong bản

Trường ca "Mặt đường khát vọng"(9 chương) sôi sục nhiệt huyết của tuổi trẻ, sinh

viên trước vận mệnh hiểm nghèo của Tổ quốc, ra đời vào năm 1971, in lần đầu tiênnăm 1974 là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ ca Việt

Nam hiện đại Bằng chất liệu văn hoá dân gian đậm đà chất thơ cùng với những hình ảnh gần gũi thân thuộc hàng ngày như " miếng trầu", "hạt gạo", "hòn than", "cái kèo, cái cột" , kết hợp với lối tư duy bình luận hiện đại giàu chất trí tuệ, Nguyễn Khoa Điềm đã làm nỗi bật một tư tưởng mới mẻ: "Đất nước của Nhân dân của ca dao thần thoại" Bằng cái nhìn ấy, tác giả đã trình bày hình tượng Tổ quốc qua các phương diện không gian địa lý, chiều dài lịch sử và tâm hồn cốt cách dân tộc Vì thế Đất nước hiện lên qua những cái thân thuộc bình dị, đơn sơ hàng ngày: "gừng cay muối mặn", "nơi em tắm", "nơi ta hò hẹn",đến những cái kì vĩ vĩnh hằng: rừng biển mênh mông "Đất là nơi Chim về", "Nước là nơi Rồng ở" Để từ đó khám phá ra những

ý tưởng độc đáo sâu sắc:

"Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha "

Và "Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta "

Những nét chung và riêng như ta đã phân tích ở trên làm cho Đất nước trongthơ trở nên phong phú đa dạng lấp lánh sắc màu hơn Và như thế là hai tác giả đãgóp hai bông hoa tươi thắm mãi trong vườn thơ dân tộc Giờ đây được thưởng thứchai bông hoa ấy, chúng ta không chỉ tự hào với quá khứ hào hùng của Đất nước,

mà còn thêm yêu mến Đất nước này để góp một chút công sức nhỏ bé của mình

nhằm làm cho Đất nước ta mãi mãi là: "Đất Nước của Nhân dân của ca dao thần thoại".

Trang 4

Đề 31 Đề bài: Cảm hứng về quê hương đất nước được nói lên thiết tha và sầu lắng trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp.

Anh (chị) hãy:

1 Nêu lên những cảm nhận của mình về gương mặt quê hương đất nước trong bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm và đoạn trích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

2 Nhận xét về nét chung và đặc điểm riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong hai bài thơ

Tình yêu quê hương đất nước là một nguồn thơ không bao giờ vợi cạn trong văn học nước ta Đó là cảm hứng chủ đạo của thơ kháng chiến chống Pháp Cảm hứng

ấy dược nói lên thiết tha và sâu lắng trong nhiều bài thơ mà tiêu biểu là Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm và Việt Bắc của Tố Hữu – hai bài thơ của hai vùng quê đất nước: quê hương Kinh Bắc và quê hương Cách mạng

Bài thơ được Hoàng cầm viết ra trong một đêm "thức trắng" khi anh nghe tin giặc Pháp chiếm đóng và tàn phá quê hương Kinh Bắc thân yêu của mình Đó là nỗi lòng của đứa con yêu gửi về quê mẹ với niềm xót xa căm giận và niềm tự hào yêu thương một vùng quê cổ kính đẹp giàu mà anh đã từng gắn bó suốt tuổi thơ

Gương mặt quê hương hiện lên trong bài thơ vừa đau thương, đẹp giàu, lại anh hùng – tình nghĩa; cảnh sắc và con người hòa quyện với nhau thành những ấn tượng đặc sắc khó quên

Quê hương bị giặc tàn phá hiện lên qua những vần thơ xót xa căm giận, với một nỗi đau thật cụ thể, như là có thể cảm giác được:

Đó là những "ngày khủng khiếp" nhất: ruộng khô, nhà cháy, quán đổ, chợ tan… là

mẹ già "bước cao thấp bên bờ tre hun hút" chạy trốn lũ giặc: là em bé trong mơ cũng "thon thót giật mình" bởi "bóng giặc giày vò những nét môi xinh"!… Nỗi đau

ấy day dứt suốt bài thơ trong cái điệp khúc "Bây giờ tan tác về đâu" để rồi đúc lại trong lời nguyền phẫn nộ:

Đã có đất này chép tội

Chúng ta không biết nguôi hờn

Quê hương ấy là vùng đất Kinh Bắc đẹp giàu và có truyền thống văn hóa lâu đời Bằng niềm tự hào mãnh liệt về vùng quê nổi tiếng của mình Hoàng cầm đã dựng lên gương mặt quê hương thật đẹp và đáng yêu Quê hương ấy có dòng sông

Đuống lấp lánh chảy giữa đôi bờ "ngô khoai biêng biếc", "dâu mía xanh xanh", có mùi lứa nếp thơm nồng dậy khắp làng quê, có "tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi

Trang 5

trong – màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" Đó còn là vùng quê của hội hè đìnhđám quanh năm, của những nghề thủ công nổi tiếng – là một trong ba cái nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Quê hương đẹp giàu ấy lại là nơi sinh ra những con người anh hùng mà tình nghĩa Hình ảnh những người du kích đánh giặc hiện lên sáng đẹp cả câu thơ:

Dao lóe giữa chợ

Gậy lùa cuối thôn

Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn

đã làm cho chúng "phát điên, quay cuồng như xéo trên đống lửa" Và những bà mẹ chiến sĩ đón con bộ đội về trong đêm, ấm áp tình quân dân kháng chiến:

Đêm buông xuống dòng sông Đuống

… Những chuyện muôn đời không nói năng

Bằng tình yêu quê hương tha thiết và lòng căm thù giặc sâu sắc Hoàng Cầm đã dựng lên gương mặt vùng quê Kinh Bắc của mình thật đúng và cũng thật đẹp, và từtrong đau thương, quê hương giàu đẹp ấy đã đứng dậy đánh giặc để chờ ngày giải phóng, đoàn tụ trong những mùa lễ hội mới

Gắn bó với Việt Bắc trong "mười lăm năm thiết tha mặn nồng", tháng 10-1954, khi

đã về Hà Nội giải phóng, qua nỗi nhớ sâu nặng của mình Tố Hữu đã dựng lên gương mặt quê hương cách mạng anh hùng – tình nghĩa bằng khúc hát giao duyên ngọt ngào Được lọc qua nỗi nhớ ân tình, quê hương cách mạng hiện lên lung linh rực rỡ, lại đằm thắm trữ tình và ngời sáng khí phách anh hùng của căn cứ địa cách mạng thần thánh

Việt Bắc không nói đến những nỗi đau như Bên kia sông Đuống, bởi vì bài thơ vừa

là một khúc ca ân tình lại là một bài ca chiến thắng của một thời kì lịch sử Quê hương cách mạng trong những ngày "trứng nước" gian nan hiện lên ngậm ngùi qua

"miếng cơm chấm muối", qua những "mái nhà hắt hiu lau xám”, và nhất là qua hình ảnh "người mẹ nắng cháy lưng – dịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô"…

Trang 6

Nhưng đó lại là vùng đất đẹp và đáng yêu đối với những ai đã từng gắn bó Tố Hữu

đã viết nên những câu thơ ca ngợi quê hương cách mạng bằng tình cảm mến yêu tha thiết của mình Việt Bắc hiện lên với nhiều vẻ đẹp phong phú, gợi cảm Có những cảnh thơ mộng trữ tình:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

những cảnh hùng vĩ:

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Nhưng đẹp nhất là "bức tranh tứ bình" của Việt Bắc qua bốn mùa, chan hòa màu sắc, ánh sáng, âm thanh, đẹp như trong cảnh thần tiên:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Việt Bắc không phải chỉ đẹp về cảnh mà cồn đẹp về người Đó là những con ngườianh hùng mà tràn đầy tình nghĩa quê hương cách mạng Anh hùng biết bao, cảnh

"Việt Bắc ra quân" hùng tráng như đã cầm chắc chiến thắng trong tay:

Những đường Việt Bắc của ta

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Và tình nghĩa xiết bao, tấm lòng người dân Việt Bắc đối với cách mạng – vật chất đơn sơ nhưng tình thì thật sâu nặng:

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

Tình nghĩa đó là của những người lao động nghèo trên quê hương cách mạng – những con người dã đi vào nỗi nhớ của nhà thơ và hiện lên rất đẹp, rất đáng yêu tròng bài thơ: bà mẹ nắng cháy lưng, người đan nón chuốt từng sợi giang, cô em gái hái măng một mình… Tình nghĩa ấy được đúc lại trong đạo lí Việt Nam: "Nhìncây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn",

Trang 7

Cuối cùng, Việt Bắc còn là vùng đất lịch sử, là quê hương cách mạng, căn cứ địa thần thánh của cách mạng Nó là một vùng đất thiêng, vùng đất kỉ niệm của toàn dân tộc Ở đó có những địa danh đã đi vào lịch sử "Mái đình Hồng Thái, cây da Tân Trào", có những chiến thắng vang dội núi sóng, có cuộc họp trang nghiêm dưới lá cờ Tổ Quốc:

Ai về ai có nhớ không?

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Và thiêng liêng, ấm áp, đầy niềm tin vì ở đó có Bác Hồ Sáu câu thơ cuối đoạn trích đã nâng Việt Bắc lên một tầm cao mới: Việt Bắc đã đi vào lòng dân và đi vào lịch sử dân tộc:

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa

Dưới ngòi bút của nhà thơ cách mạng Tố Hữu, quê hương cách mạng Việt Bắc hiện lên đẹp, đáng yếu và gắn bó với mọi người chúng ta Nó đã trở thành quê chung của mỗi một người Việt Nam yêu nước

Hoàn cảnh sáng tác và đối tượng miêu tả có thể khác nhau, nhưng đều là cảm hứng về quê hương đất nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp, nên hai bài thơ

có những nét chung dễ nhận thấy:

Cảm hứng về quê hương đốt nước đau thương và căm thù trong chiến tranh (mang

âm hưởng xót xa căm giận) Cảm hứng về quê hương đất nước giàu đẹp (mang âm hưởng ca ngợi tự hào) Cảm hứng về nhân dân anh hùng – tình nghĩa (mang âm hưởng ca ngợi tự hào)

Tụy đậm nhạt có thể khác nhau do mục đích sáng tác và tính chất của từng bài thơ,nhưng ba cảm hứng trên đây đều có trong hai bài thơ như đã phân tích ở mục 1 Những cảm hứng đó đều bắt nguồn từ lòng yêu quê hương đất nước tha thiết, niềm

Trang 8

tự hào mãnh liệt về đất nước giàu đẹp, nhân dân anh hùng – tình nghĩa, và lòng căm thù giặc sâu sắc của các nhà thơ Nó trở thành những cảm hứng truyền thống trong thơ ca kháng chiến.

Thơ là tiếng nói của từng cá nhân – thi sĩ, nó không thể không mang cảm hứng riêng của từng nhà thơ Huống chi hoàn cảnh sáng tác và tính chất của các bài thơ lại không giống nhau Vì vậy, trong cảm hứng chung lại có những nét riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong từng bài thơ Và cảm hứng riêng đó đã dựng lên những gương mặt đất nước không giống nhau qua mỗi bài thơ:

Bên kia sông Đuống: Đất nước là quê hương Kinh Bắc cổ,kính, một vùng quê văn hóa lâu đời với tranh Đông Hồ đậm màu sắc dân tộc, với tiếng chuông chùa ngân nga văng vẳng, với lễ hội tưng bừng rộn rã quanh năm, với những con người khôngthể nào lẫn được: "những cô hàng xén răng đen – cười như mùa thu tỏa nắng … Vàhình ảnh cô gái Kinh Bắc duyên dáng trữ tình ây cứ thấp thoáng an hiện trong suốt bài thơ… Là người con của quê hương quan, họ, cảm hứng của Hoàng cầm mang đậm chất Kinh Bắc: thiết tha, day dứt, sâu lắng, ngọt ngào

Việt Bắc: Đất nước được hội tụ và kết tinh lại trong hình ảnh quê hương cách mạng anh hùng tình nghĩa Bài thơ là khúc hát ân tình của con người kháng chiến với quê hương cách mạng, là nghĩa tình thủy chung sâu nặng giữa người về xuôi vàngười ở lại trong giờ phút chia tay lịch sử Cảm hứng của Tố Hữu đối với quê hương cách mạng là cảm hứng của người trong cuộc đã từng sống, hiểu và yêu quêhương cách mạng thiết tha mặn nồng Đó là tình cảm chính trị nhưng lại được nói lên một cách tự nhiên bằng giọng điệu tâm tình dịu ngọt như lời người yêu trong khúc hát đối đáp giao duyên

Hai bài thơ là hai gương mặt đẹp về quê hương đất nước: một vùng đất Kinh Bắc dân gian – cổ kính, một quê hương cách mạng tình nghĩa – anh hùng Nó sẽ là những hành trang tinh thần theo ta đi suốt cuộc đời trên những nẻo đường dựng xây đất nước

37 So sánh hình ảnh Đất Nước trong Việt Bắc (Tố Hữu) và trích đoạn Đât Nước (trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Đất nước là đề tài quen thuộc trong thơ văn Nhưng không vì thế mà nó trở nên đơn điệu nhàm chán Mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi hoàn cảnh khác nhau, cũng như mỗi phong cách của một tác giả lại có cách thể hiện gương mặt Đất Nước khác nhau

Trang 9

Góp phần làm phong phú cho mảng đề tài này ta phải kể đến Việt Bắc của Tố Hữu)

và trích đoạn Đât Nước (trường ca Mặt đường khát vọng ) của Nguyễn Khoa Điềm

Mở đâu cho chương thơ của mình, Nguyễn khoa Điềm đã viết “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi” Vâng ! Nhà thơ và cả chúng ta nữa, đều không biết đất nước có từbao giờ, nhưng qua văn chương cổ, ta bắt gặp gương mặt đất nước từ một cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp:

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ (ca dao)

Hay một chợ quê yên bình

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dẳng dỏi cầm ve lầu tịch dương (Nguyễn Trãi)

Nhưng khi có giặc ngoại xâm, thì đất nước không chỉ oằn mình trong đau thương

Mà đất nước ấy còn rực lửa căm hờn : “Ngẫm thù lớn há đội trời chung, căm giặc nước thề không cùng sống” Để rồi lòng căm hờn ấy biến thành những trận đánh vang trời :

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật

Miền Trà Lân trúc chẻ cho bay (Nguyễn Trãi)

Để mãi mãi đất nước là niềm tự hào của con cháu người Việt

Từ Triệu Dinh Lý Trần bao đời gây nền Dộc lập

Cùng Hán, Đường, Tống Nguyên xưng Đé một phương

Tuy mạnh yếu tưng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có (Nguyễn Trãi)

Hòa trong nguồn mạch chung của văn học dân tộc, Tố Hữu và Nguyễn Khoa Điểmcũng thấy Đất Nước mình hiện lên thật tươi đẹp Trải qua những cơn binh lửa Đất Nước thật đau thương nhưng cũng thật anh hùng mà tình nghĩa

Nếu Tố Hữu cảm nhận đất nước qua cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc :

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Trang 10

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Thiên nhiên Việt Bắc như một sinh thể đang biến đổi trong từng khoảnh khắc ( Đông xuân hạ thu, sáng, hoa mơ nở trắng rừng, trưa ánh nắng vàng rực rỡ và khi đêm về, trăng dọi bàng bạc khắp nơi Và trong thiên nhiên ấy con người là đoá hoađẹp nhất có hương thơm ngọt ngào nhất Họ là những con người Việt Bắc bình dị làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời Chính họ đã thắp sáng thiên nhiên làm cho thiên nhiên thêm rực rỡ

Thì Nguyễn Khoa Điềm cũng cảm nhận Đất Nước là núi sông rừng bể bao la:Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hon núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi.”

Đất Nước là những danh lam thắng cảnh tươi đẹp kỳ thú như Núi Bút non Nghiên, hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, vịnh Hạ Long, sông Cửu Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… vượt lên lối liệt kê tầm thường, Ông không chỉ chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của thiên nhiên mà còn nhìn ra trong đó tình nghĩa thuỷ chung của những con người làm nên gương mặt đất nước

Và ở đâu trên khắp ruồng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình một ao ước ông cha

Ôi đất nước đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Nhưng khi giặc ngoại xâm tràn đến, Đất Nước đã phải trải qua những ngày tháng đau thương

Trong Việt Bắc, Tố Hữu không nói nhiều về nỗi đau mất mát Bởi bài thơ vừa là khúc ca ân tình vừa là bài ca chiến thắng của một thời lịch sử Nên quê hương cáchmạng những ngày “trứng nước” ấy hiện lên với bao nỗi gian nan vất vả : “Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”; “Thương nhau chia củ sắn lùi, Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”và qua cả hình ảnh “người mẹ nắng cháy lưng – Địu con lên rẫy

bẻ từng bắp ngô” …

Nguyễn khoa Điềm cũng cảm nhận nỗi đau thương ấy không phải ở một giai đoạn, một thời kỳ cụ thể mà là suốt 4000 năm :

Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

Con gái con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Trang 11

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Trong lịch sử dựng nước của mình, dân tộc Việt Nam có thời kỳ nào không phải chống ngoại xâm, có thế hệ nào không phải trải qua nỗi đau của chiến tranh : con mất cha, vợ mất chồng; những người vợ, người mẹ vò võ một mình nuôi con, mòn mỏi chờ người thân trở về

_ Trước núi đau thương chồng chất mà kẻ thù gây ra cho dân tộc, trước sự sống còn của vận mệnh Đất nước, Tố Hữu cảm nhận được cả đất trời cùng đồng lòng vùng lên đánh giặc

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Đất trời trời ta cả chiến khu một lòng

Biện pháp nhân cách hóa, kết hợp với các động từ mạnh, các từ chỉ không gian rộng lớn, Tố Hữu đã nêu bật được sức mạnh trời không dung đất không tha đối với

kẻ thù

_Nguyễn Khoa Điềm cũng cảm nhận lòng căm thù, sức mạnh vùng lên của dân tộcqua “bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuối”, “Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”,

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì cùng nhau đánh bại

Câu thơ giản dị như lời kể, nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã nêu bật được sức mạnh tất thắng của ta

_ Bằng cảm quan hiện thực ấy, Tố Hữu thấy sức mạnh của Đất nước qua những con đường ra trận:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan

Dâm công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sang như ngày mai lên

Trang 12

Một loạt từ láy kết hợp với biện pháp so sánh cường điệu, hình ảnh thơ vừa thực vừa lãng mạn, Tố Hữu không chỉ gợi ra gợi ra thật hay, thật hào hùng âm vang, sứcmạnh của cuộc kháng chiến mà còn làm cho hình ảnh đất nước trong khỏng chiến, bỗng trở nên rực sáng và hào hùng

_ Soi chiếu vào lịch sử, qua “bốn nghìn năm Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm cũng thấy sức mạnh của dân tộc ở “bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi”

Nói đến Đất Nước là nói nhân dân, những con người đã đem máu mồ hôi và nước mắt để sáng tạo lịch sử và đất nước

_ Trong mạch cảm hứng ấy, Tố Hữu cảm nhận được những người góp phần làm nên “Quê hương Cách mạng”, “dựng nên Cộng hòa”, đó là những người mẹ địu con lên rẫy, những người đan nón, những người đi rừng “đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”, và cả những cô em gái hái măng một mình Họ là nhưng con người nghèo khổ nhưng “đậm đà lòng son”, thủy chung tình nghĩa, đồng cam cộng khổ với kháng chiến và Cách mạng Họ chính là chủ nhân anh hùng của đất nước anh hùng Chính họ là những người ân nghĩa thủy chung hơn ai hết

_ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

_ Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng lên cộng hòa

_ Cùng chung cảm hứng như thế, Nguyễn Khoa Điềm thấy “Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân” Nhân dân có thể là anh, là em, là người vợ nhớ chồng, là người học trò nghèo, là Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm, là bốn nghìn lớp người “không ai nhớ mặt đặt tên Họ là tập thể những anh hùng vô danh và chính

họ làm nên Đất Nước muôn đời Và họ không chỉ dũng cảm trong chiến đấu mà cònnghĩa tình biết bao :

Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

Yêu quê hương đất nước, đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của nhân dân ta Nhưng tùy vào hoàn cảnh thời đại, tùy vào tình huống cụ thể, vào điểm nhìn của

Trang 13

mỗi cá nhân mà nội dung này có những biểu hiện khác nhau với những sắc thái khác nhau

Việt Bắcđược làm vào tháng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội Nên với Tố Hữu, Đất nước làquê hương cách mạng, là ân tình của những con người kháng chiến đối với quê hương Cách mạng, với nhân dân Đất nước còn là lòng kính yêu , niềm tự hào tin tưởng vào Bác Hồ vào Đảng :

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông Cụ mắt sang ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường…

Những tình cảm này đan dệt nhuần nhụy với nhau, mang đến cho bài thơ một sắc thái mới : Trữ tình chính trị Và cảm hứng này là nguồn thơ chủ yếu của Tố Hữu

Và nhà thơ đã thể hiện nó một cách tự nhiên bằng một giọng tâm tình ngọt ngào

Cả bài thơ được cấu tạo theo lối đối đáp giao duyên (mình – ta) của ca dao dân ca: Đối đáp giữa hai người yêu thương nhau, tình nghĩa mặn nồng nay phải chia tay nhau kẻ đi người ở Cả bài thơ tràn ngập nỗi nhớ Nỗi nhớ trong kẻ ở và người đi trong câu hỏi và trong cả lời đáp Nỗi nhớ cứ trở đi trở lại cồn cào da diết Toàn bộbài thơ là lời nhắc nhở ân tình : Xin đừng quên tấm lòng son đã hiến dâng tất cả cho Cách mạng; xin đừng quên những ngày gian khổ Hãy biết giữ vững truyền thống cách mạng trong bất kỳ hoàn cảnh nào : “Phố đông còn nhớ bản làng – Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng” ? Hơn cả lời nhắc nhở còn là tấm lòng thành kính biết ơn và tin tưởng vào Đảng, Bác và Cách mạng

Tố Hữu nhắc nhở mình cũng là nhắc nhở mọi người Và những tình cảm chính trị này đến với họ như những tiếng ru ngọt ngào sâu lắng Vì thế quê hương cách mạng Việt Bắc đã trở thành quê chung của mỗi người Việt Nam yêu nước

Còn đoạn trích Đất nước nằm ở phần đầu của chương V, chương trụ cột của trường

ca Mặt đường khát vọng, sáng tác năm 1971 là năm mà cuộc chiến tranh chống Mĩ

ở miền Nam đang vào thời kì ác liệt Tác giả viết trường ca này nhằm thức tỉnh thế

hệ trẻ thành thị miền Nam ở vùng tạm chiếm, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, ý thức được sứ mệnh của mình đối với dân tộc trongcuộc đấu tranh thiêng liêng bảo vệ đất nước Vì thế nhà thơ đã tìm cho mình một cách nói riêng trong thơ :

Để đất nước này là Đất Nước Nhân dân

Đất Nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại

Ông đã dùng một đất nước dân gian để nói lên tư tưởng lớn đó Bởi dân gian chính

là dân tộc, lại là cái phần tiêu biểu, đậm đà nhất dễ nhận ra nhất của dân tộc Hơn

Ngày đăng: 13/05/2019, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w