Cassava residue samples were taken from cassava residue stocks in Duonglieu village to determine chemical composition, HCN and aflatoxin contents. In laboratory cassava residue was ensiled with salt and molasses. There were 2 treatments: cassava residue ensiled with 0.5% of salt and cassava residue ensiled with 0.5% of salt plus 3% molasses (on a fresh basis). Measurements taken were fermentation characteristics of silage at 30 days of ensiling. The study showed that cassava residue was very poor in CP and minerals. Sun drying was difficult because fresh cassava residue contained very high moisture levels (>80%). The HCN content was very high in fresh cassava residue (160.4 mg/kg), but decreased rapidly with storing time (8.84 mg/kg after 10 days of storage). The aflatoxin content of sun drying cassava residue was small (33.5μg/kg). Cassava residue ensilled with 0.5% of salt had a white color and that ensiled with 0.5% of salt plus 3% molasses had a light yellow color with a pleasant smell. The pH value of 2 treatments was 3.9, the lactic acid contents were relatively high (0.89 and 1.14%, respectively). Utilization of ensiled cassava residue with 0.5 % salt instead of cassava meal in dairy cow’s ration as an energy source guaranteed high milk production (17.2 kg milk/head/day), decreased feed cost/kg milk (1,549 vs 1,805 VND/kg milk).
Trang 1chế biến bã sắn làm thức ăn dự trữ cho bò sữa
Processing of cassava residue as feed for dairy cattle
Mai Thị Thơm1, Bùi Quang Tuấn1
Summary
Cassava residue samples were taken from cassava residue stocks in Duonglieu village to determine chemical composition, HCN and aflatoxin contents In laboratory cassava residue was ensiled with salt and molasses There were 2 treatments: cassava residue ensiled with 0.5% of salt and cassava residue ensiled with 0.5% of salt plus 3% molasses (on a fresh basis) Measurements taken were fermentation characteristics of silage at 30 days of ensiling The study showed that cassava residue was very poor in CP and minerals Sun drying was difficult because fresh cassava residue contained very high moisture levels (>80%) The HCN content was very high in fresh cassava residue (160.4 mg/kg), but decreased rapidly with storing time (8.84 mg/kg after 10 days
of storage) The aflatoxin content of sun drying cassava residue was small (33.5àg/kg) Cassava residue ensilled with 0.5% of salt had a white color and that ensiled with 0.5% of salt plus 3% molasses had a light yellow color with a pleasant smell The pH value of 2 treatments was 3.9, the lactic acid contents were relatively high (0.89 and 1.14%, respectively) Utilization of ensiled cassava residue with 0.5 % salt instead of cassava meal in dairy cow’s ration as an energy source guaranteed high milk production (17.2 kg milk/head/day), decreased feed cost/kg milk (1,549 vs 1,805 VND/kg milk)
Key words: cassava residue, dairy cattle
1 Đặt vấn đề
Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực được trồng hàng năm ở Việt Nam cũng như
nhiều nước khác thuộc vùng nhiệt đới trên thế giới Những năm gần đây, sản xuất lúa gạo ở nước
ta phát triển, sản lượng lúa gạo sản xuất ra ngày một nhiều hơn nên vai trò lương thực của sắn giảm dần Sắn trở thành loại cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và bã sắn là nguồn phụ phẩm có khối lượng tương đối lớn từ ngành sản xuất này Trong bã sắn chứa khoảng 8% tinh bột, 15 – 20% xơ thô, do đó có thể tận dụng nguồn bã sắn làm thức ăn cho gia súc nhai lại Tuy nhiên, độ ẩm trong bã sắn cao, bã sắn rất dễ bị mốc nếu không được chế biến kịp thời Ngoài ra, trong bẵ sắn còn có độc tố cyanogen Độc tố này có thể gây ngộ độc cho gia súc Do vậy việc nghiên cứu chế biến bảo quản và sử dụng an toàn nguồn bã sắn cho đàn gia súc rất có ý nghĩa thực tiễn
2 phương pháp nghiên cứu
Nguồn bã sắn được xác định bằng cách khảo sát thực tế các cơ sở chế biến tinh bột sắn thủ công tại địa bàn và từ số liệu thống kê của UBND xã Dương Liễu, Cát Quế, Liên Hiệp – nơi có nghề sản xuất tinh bột sắn
Bã sắn được đem phân tích thành phần hóa học tại Phòng phân tích thức ăn của khoa CNTY,
ĐHNN I theo phương pháp phân tích của AOAC (1995) Hàm lượng độc tố HCN và hàm lượng axit hữu cơ trong thức ăn ủ chua được phân tích tại Phòng phân tích Viện Chăn nuôi Hàm lượng
độc tố aflatoxin B được phân tích tại Phòng thí nghiệm bộ môn Vệ sinh gia súc, Viện Thú y
Trang 2Trong điều kiện phòng thí nghiệm bã sắn được ủ chua trong các bô can nhựa, còn trong điều kiện sản xuất ở các nông hộ bã sắn được ủ chua trong các bao tải dứa có lớp nylon phía trong theo hai công thức sau:
Công thức 1: bã sắn ủ với 0,5% muối ăn (theo vật chất tươi)
Công thức2: bã sắn ủ với 0,5% muối ăn + 3% rỉ mật (theo vật chất tươi)
Sản phẩm ủ chua được đánh giá sau khi ủ mẫu 30 ngày Các chỉ tiêu để đánh giá là màu sắc, mùi vị, pH, axit hữu cơ Mẫu được chuẩn bị để đo pH theo hướng dẫn của Hartley và Jones (1978): cân 5 g mẫu cho vào cốc thuỷ tinh rồi cho thêm 100 ml nước cất, lắc nhẹ và để 15 phút trước khi đo
Thí nghiệm trên bò sữa được tiến hành trong các nông hộ chăn nuôi bò sữa tại Đồng Tháp,
Đan Phượng, Hà Tây từ tháng 1/2005 đến tháng 4/2005 Trong thí nghiệm này bã sắn ủ chua được dùng như là nguồn cung cấp năng lượng thay cho bột sắn trong thức ăn tinh hỗn hợp (phối trộn theo hướng dẫn của hãng Guymarch) Bò sữa thí nghiệm được nuôi trong 4 hộ gia đình, mỗi hộ 2 con Nhu cầu về các chất dinh dưỡng của bò sữa được đáp ứng theo tiêu chuẩn ăn của NRC (2001) Thời gian chuẩn bị thí nghiệm 15 ngày, thời gian thu thập số liệu 2 tháng
Bảng 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm và khẩu phần ăn của bò sữa
Chỉ tiêu Đối chứng Thí nghiệm
Khối lượng bò(kg/con) 515 ± 8 518 ± 11
Năng suất sữa trước thí nghiệm 20,7 ± 0,3 21,0 ± 0,4
Cỏ tự nhiên (hoặc cỏ voi, cây ngô ) ăn tự do ăn tự do
Bã sắn ủ chua với 0,5% muối ăn (kg/kg sữa) 0 1
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Xác định nguồn bã sắn, thành phần hoá học của bã sắn
Nguồn bã sắn tại địa bàn nghiên cứu
Tại các xã Dương Liễu, Cát Quế, huyện Hoài Đức và Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ của tỉnh Hà Tây, nghề chế biến nông sản phát triển mạnh Khoảng 2/3 số hộ trên địa bàn có nghề chế biến nông sản, khoảng 3450 số hộ chế biến tinh bột sắn và tinh bột dong, hàng năm sản xuất một lượng rất lớn tinh bột sắn và tinh bột dong (bảng 2)
Bảng 2 Tình hình chế biến nông sản và lượng bã sắn ước tính của địa bàn
Chỉ tiêu Xã Dương Liễu Xã Cát Quế Xã Liên Hiệp
Số hộ sản xuất, chế biến nông sản (hộ) 1.800 1500 1200
Số hộ sản xuất tinh bột sắn, dong (hộ) 1.400 1200 850
Lượng tinh bột sắn sản xuất (tấn/năm) 60.000 45.000 35.000
Lượng tinh bột dong sản xuất (tấn/năm) 20.000 10.000 5.000
Lượng bã sắn (tấn CK/năm) 57.600 40.500 33.600
(Nguồn UBNN xã Dương Liều, Cát Quế, Liên Hiệp, 2004)
Tinh bột sắn được chế biến theo qui trình: củ sắn tươi được rửa sạch, nghiền nhỏ, lọc qua một số bể để loại bỏ bã và thu tinh bột Lượng bã sắn thu được từ chế biến tinh bột sắn tương đối lớn Theo Lê Viết Ly và cộng sự (2004), từ 1000 kg sắn củ tươi thu được 200 kg tinh bột sắn và
Trang 3180 kg bã sắn khô Kết quả khảo sát lượng bã sắn từ 60 cơ sở sản xuất cũng cho thấy từ 1000 kg
sắn củ tươi thu được 192,1± 1,13 kg tinh bột sắn và 185,3 ± 2,92 kg bã sắn khô
Thành phần hóa học của củ sắn và bã sắn
ẩm độ của bã sắn tươi rất cao (trên 80%) nên rất dễ bị hỏng, phơi khô mất nhiều thời gian,
nấm mốc dễ phát triển trong quá trình phơi khô Mùa vụ chế biến tinh bột sắn lại đúng vào thời
gian mùa đông, đôi khi mưa phùn kéo dài Do vậy việc nghiên cứu tìm biện pháp bảo quản được
nguồn bã sắn an toàn, phù hợp với điều kiện của người dân là rất cần thiết
Phân tích cho thấy điểm nổi bật về thành phần hoá học của củ sắn và bã sắn là rất nghèo
protein thô do vậy khi sử dụng các sản phẩm này với tỷ lệ đáng kể trong khẩu phần cần chú ý bổ
sung thêm nguồn thức ăn giàu protein Tỷ lệ xơ thô trong bã sắn thấp, kết hợp với việc bã sắn lại
được nghiền nhỏ (giảm sự nhai lại của trâu bò) nên phải có biện pháp nuôi dưỡng thích hợp để pH
dạ cỏ không hạ xuống quá thấp Củ sắn và các sản phẩm từ sắn cũng rất nghèo các chất khoáng
nên cũng cần lưu ý bổ sung premix khoáng để đáp ứng nhu cầu khoáng của gia súc (bảng 3)
Bảng 3 Thành phần hoá học của củ sắn và bã sắn (% CK)
Nguyên liệu
CK (%)
Protein thô
Lipit thô
Sắn tươi cả vỏ 40,45 3,70 0,90 3,51 5,79 3,60 0,11 0,11
Sắn lát khô 88,20 3,10 0,94 2,30 3,69 2,01 0,20 0,06
Bã sắn tươi 14,35 2,02 0,55 10,52 18,60 1,88 0,27 0,06
Bã sắn khô 85,30 2,29 1,17 9,37 15,94 2,07 0,37 0,07
Hàm lượng độc tố trong củ sắn và bã sắn
Bã sắn là phụ phẩm rất dễ lên men, chỉ sau 7 ngày bảo quản pH đã hạ xuống 4,6 và sau 10
ngày là 4,4 Trong điều kiện này bã sắn sẽ không bị mốc, hàm lượng độc tố HCN giảm rõ rệt, giá
trị dinh dưỡng của bã sắn sẽ được bảo tồn
Bảng 4 Hàm lượng độc tố trong củ sắn và bã sắn
Nguyên liệu
n pH HCN
(mg/kg) aflatoxin B(àg/kg) 1
Bã sắn lớp trong đống sau 3 ngày bảo quản 3 5,2 110,40 âm tính
Bã sắn lớp trong đống sau 7 ngày bảo quản 3 4,6 10,60 âm tính
Bã sắn lớp trong đống sau 10 ngày bảo quản 3 4,4 8,84 âm tính
Bã sắn lớp trong đống sau 60 ngày bảo quản 3 4,0 6,28 âm tính
Bã sắn lớp ngoài đống sau 10 ngày bảo quản 3 4,7 - âm tính
Bã sắn lớp ngoài đống sau 60 ngày bảo quản 3 4,5 - âm tính
Bã sắn ủ chua với 0,5% muối + 3% rỉ mật 3 3,9 5,20 -
Bảng 4 cho biết hàm lượng độc tố HCN trong củ sắn tương đối cao (200,35 mg/kg), và
như vậy chỉ cần 4-8 kg củ sắn cũng đủ gây độc cho trâu bò Ninh Thị Len (2001) cho rằng hàm
lượng độc tố HCN trong bã sắn tươi do hoà tan trong nước khi chế biến tinh bột sắn sẽ thấp hơn
nhiều so với sắn cả củ, chỉ khoảng 185 mg/kg chất khô Kết quả phân tích trình bày trong bảng 4
cho thấy hàm lượng độc tố HCN trong bã sắn tươi cao (162,40 mg/kg), thấp hơn trong sắn cả củ
Độc tố HCN trong củ sắn chủ yếu tập trung trong phần vỏ và phần lõi củ mà 2 phần này còn lại
trong bã sắn nên mặc dù có sự hoà tan trong nước khi chế biến nhưng độc tố HCN vẫn cao trong
bã sắn tươi
Trang 4Từ kết quả trên, giải thích hiện tượng trâu bò ăn bã sắn bị chết có thể do trâu bò ăn phải bã sắn tươi có HCN Liều HCN gây chết đối với trâu bò là 2 - 4 mg/kg khối lượng cơ thể(Makkar và CS, 1991) Như vậy chỉ cần 5-10 kg bã sắn tươi đủ để làm cho trâu bò chết Nếu cho trâu bò ăn bã sắn
đã qua một thời gian bảo quản, hoặc bã sắn ủ chua thì sẽ không có nguy cơ ngộ độc HCN Kết quả nuôi thí nghiệm bò sữa tại Đồng Tháp (Đan Phượng) và Dương Liễu (Hoài Đức) với 25 kg bã sắn ủ chua/con/ngày đã không có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cũng như năng suất sữa của bò sữa Hoặc do sử dụng bã sắn nhiều trong khẩu phần ăn cho trâu bò không có thức ăn thô trong mùa khô (nhiều cơ sở chăn nuôi bò sữa rất thiếu thức ăn thô trong mùa khô) thì chắc chắn sẽ dẫn đến axit dạ cỏ làm cho trâu bò bị chết Điều này có thể được khắc phục nếu cho trâu bò ăn một lượng nhất định thức ăn thô có cấu trúc (như rơm khô, thân cây ngô sau thu bắp ) để làm tăng sự nhai lại, tăng tiết nước bọt, giúp trung hoà axit trong dạ cỏ
Bã sắn phơi khô trong điều kiện thời tiết tốt, có hàm lượng aflatoxin B1 là 33,5 àg/kg, nằm trong phạm vi cho phép (hàm lượng độc tố aflatoxin B1 tối đa đối với sắn khô là 50 àg/kg) Do bay hơi khi phơi khô nên hàm lượng độc tố HCN chỉ còn 78 mg/kg, không nguy hiểm khi sử dụng làm thức ăn gia súc
3.2 Đánh giá chất lượng bã sắn ủ chua
Bã sắn ủ chua với 0,5% muối có màu trắng như bã ban đầu, mùi chua dễ chịu, còn bã sắn
ủ với 0,5% muối + 3% rỉ mật có màu hơi vàng - màu của rỉ mật, mùi chua dễ chịu Đây là những dấu hiệu thể hiện phẩm chất thức ăn ủ chua tốt Cả 2 công thức ủ chua trên đều cho chất lượng thức ăn ủ chua tốt (bảng 5) Tuy nhiên việc thêm 3% rỉ mật sẽ làm cho chất lượng thức ăn ủ chua tốt hơn
Bảng 5 Giá trị pH và thành phần axit hữu cơ của bã sắn ủ chua
Công thức ủ chua
pH A lactic
(%)
A axetic (%)
A butyric (%)
Bã sắn ủ với 0,5% muối+3% rỉ mật 3,9 1,14 0,13 -
3.3 Sử dụng bã sắn nuôi bò sữa
Bã sắn ủ chua với 0,5% muối ăn có mùi chua dễ chịu, bò rất thích ăn Cho bò ăn thức ăn này với khối lượng 1 kg/kg sữa, bò ăn hết Kết quả thí nghiệm cho thấy việc thay thế nguồn cung cấp năng lượng bột sắn bằng bã sắn ủ chua không có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cũng như chất lượng sữa của bò thí nghiệm Do bã sắn ủ chua có giá thành rất thấp (70 đ/kg) nên tiền chi phí thức ăn/kg sữa ở lô thí nghiệm thấp hơn so với lô đối chứng (bảng 6)
Bảng 6 Năng suất, chất lượng và giá thành của sữa bò ở 2 lô thí nghiệm
Năng suất sữa (kg/ ngày) 17,5 ± 0,4 17,3 ± 0,4
Chi phí thức ăn/kg sữa (VN đồng) 1805 1549
Trang 54 Kết luận
Lượng bã sắn trong quá trình sản xuất tinh bột sắn là khá lớn, trung bình khoảng 45% so với khối lượng sắn nguyên củ
Hàm lượng độc tố HCN trong bã sắn tươi cao (162,40 mg/kg), rất nguy hiểm nếu sử dụng cho trâu bò ăn ngay bã sắn tươi Bã sắn ủ chua với 0,5% muối (hoặc 0,5% muối+3% rỉ mật) cho chất lượng tốt, rất an toàn khi sử dụng làm thức ăn cho gia súc (hàm lượng độc tố HCN chỉ còn 5,2 mg/kg)
Nấm mốc chỉ phát triển trong quá trình phơi khô bã sắn, hàm lượng độc tố aflatoxin B1 nhỏ trong bã sắn phơi khô ở điều kiện thời tiết tốt (33,5 àg/kg)
Sử dụng bã sắn ủ chua nuôi bò sữa rất tốt, an toàn, giảm chi phí thức ăn cho sản xuất sữa (1.549 vs 1.805 đồng/kg sữa)
Tài liệu tham khảo
Báo cáo tổng kết tình hình sản xuất của xã Dương Liễu năm 2004
Hartley, R D and E C Jones (1978) Effect of aqueous ammonia and other alkalis on the in-vitro
digestibility of barley straw J Sci Food Agric 29, 92 - 98
Lê Viết Ly, Lê Văn Liễn, Bùi Văn Chính, Nguyễn Hữu Tào (2004) Phát triển chăn nuôi bền vững trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp NXB NN Tr 100 - 103
Makkar H.P.S (1991) Antinutritional factors in animal feedstufs – mode of actions Int J Anim Sci 6 88 – 94
Ninh Thi Len (2001) Evaluation of chicken manure and cassava residue as feed for fattenig F1 pigs under village conditions in north Vietnam M.Sc thesis
NRC (1989) Nutrient requirements of domestic animals No.3 Nutrient requirements of dairy cattle, 6th rev ed., National Academy press, Washington D.C