1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CÁC câu hỏi đáp về địa lí đại CƯƠNG

43 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 82,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC CÂU HỎI ĐÁP VỀ ĐỊA LÍ ĐẠI CƯƠNG HỎI: Thế nào là địa cực? Địa cực có những đặc điểm gì? ĐÁP: Trái Đất tự quay xung quanh một trục tưởng tượng gọi là địa trục. Địa trục tiếp xúc với bề mặt Trái Đất ở hai điểm. Đó chính là hai địa cực: cực Bắc và cựcNamĐịa cực có một số đặc điểm sau: Địa cực là nơi gặp nhau của các chí tuyến. Địa cực là nơi vĩ tuyến chỉ còn là một điểm (900). Hai cực đối xứng nhau qua tâm Trái Đất. Ở địa cực có ngày 6 tháng và đêm cũng dài 6 tháng. Địa cực có khoảng cách ngắn nhất đến tâm Trái Đất. Khi trái đất tự quay, địa cực không di chuyển vị trí. HỎI: Thế nào là xích đạo? xích đạo có những đặc điểm gì? ĐÁP: Mặt phẳng tưởng tượng chứa tâm Trái Đất và vuông góc với địa trục cắt bề mặt Trái Đất thành một đường tròn lớn. Đó chính là đường xích đạo. Đường xích đạo có một số đặc điểm sau: Đường xích đạo là vĩ tuyến lớn nhất trên trái đất. Chiều dài của nó bằng: 40.000 km. Mặt phẳng xích đạo chia Trái Đất ra hai nửa cầu bằng nhau: nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam Bất cứ địa điểm nào nằm trên đường xích đạo quanh năm cũng có hiện tượng ngày và đêm bằng nhau. Bất cứ địa điểm nào nằm trên đường xích đạo cũng thất mặt trời ở thẳng đỉnh đầu 2 lần trong năm vào các ngày xuân phân (213) và thu phân (239

Trang 1

CÁC CÂU HỎI ĐÁP VỀ ĐỊA LÍ ĐẠI CƯƠNG

HỎI: Thế nào là địa cực? Địa cực có những đặc điểm gì?

ĐÁP: Trái Đất tự quay xung quanh một trục tưởng tượng gọi là địa trục Địatrục tiếp xúc với bề mặt Trái Đất ở hai điểm Đó chính là hai địa cực: cực Bắc

và cựcNamĐịa cực có một số đặc điểm sau:

- Địa cực là nơi gặp nhau của các chí tuyến

- Địa cực là nơi vĩ tuyến chỉ còn là một điểm (900)

- Hai cực đối xứng nhau qua tâm Trái Đất

- Ở địa cực có ngày 6 tháng và đêm cũng dài 6 tháng

- Địa cực có khoảng cách ngắn nhất đến tâm Trái Đất

- Khi trái đất tự quay, địa cực không di chuyển vị trí

HỎI: Thế nào là xích đạo? xích đạo có những đặc điểm gì?

ĐÁP: Mặt phẳng tưởng tượng chứa tâm Trái Đất và vuông góc với địa trục cắt

bề mặt Trái Đất thành một đường tròn lớn Đó chính là đường xích đạo

Đường xích đạo có một số đặc điểm sau:

- Đường xích đạo là vĩ tuyến lớn nhất trên trái đất Chiều dài của nó bằng:

- Mặt phẳng xích đạo chia Trái Đất ra hai nửa cầu bằng nhau: nửa cầu Bắc và

- Bất cứ địa điểm nào nằm trên đường xích đạo quanh năm cũng có hiện tượng

- Bất cứ địa điểm nào nằm trên đường xích đạo cũng thất mặt trời ở thẳng đỉnhđầu 2 lần trong năm vào các ngày xuân phân (21-3) và thu phân (23-9)

HỎI: Cuộc hành trình vòng quanh trái đất của Magienlan vào ngày 20 tháng 9

năm 1519 đã xuất phát từ Tây Ban Nha và luôn luôn đi về hướng tây Sau gần 3năm, đoàn thám hiểm đã trở về nơi xuất phát vào ngày 7 tháng 9 năm 152.Nhưng nhật kí của đoàn tàu lại ghi ngày đó là 6 tháng 9 năm 1522, nghĩa làchậm so với lịch ở Tây Ban Nha một ngày Tại sao như vậy và do đâu có sựnhầm lẫn này?

ĐÁP: Ở đây không có sự nhầm lẫn nào cả Lịch ở Tây Ban Nha cũng đúng, mà

nhật kí của đoàn thám hiểm Magienlan cũng đúng Sở dĩ có sự chênh lệch mộtngày là vì lúc đó đoàn thám hiểm Magienlan đã không nắm được qui tắc phảichuyển ngày khi thực hiện những cuộc đi vòng quanh Trái Đất

Hiện nay, theo quy ước, người ta đã lấy kinh tuyến 1800 ở giữa Thái BìnhDương làm đường chuyển ngày quốc tế Bất cứ tàu nào khi đi qua kinh tuyếnnày đều phải chuyển nhanh hoặc chậm lại một ngày tùy theo tàu đi về hướngĐông hay hướng Tây

Giả sử vào ngày mồng 7 tháng 9, khi đồng hồ ở múi giờ gốc (múi giờ có kinhtuyến 00 đi qua chính giữa) chỉ đúng 12 giờ, thì ở múi giờ đối diện (có kinhtuyến 1800 đi qua chính giữa), đồng hồ đã chỉ 24 giờ (tức 12 giờ đêm), ngày 7tháng 9 (nếu tính giờ tăng dần theo các múi giờ phía Đông) nhưng nếu tính giờlùi dần theo các múi giờ phía Tây thì ở đây lại là 24 giờ ngày 6 tháng 9

Trang 2

Vì vậy, nếu một chiếc tàu vượt qua kinh tuyến 1800 từ hướng Đông sang hướngTây thì lịch phải lùi lại một ngày Đây chính là trường hợp đoàn tàucủaMagienlan khi vượt qua Thái Bình Dương từ châu Mĩ sang châu Á.

HỎI: Đêm trắng là gì? Tại sao ở các vùng vĩ độ cao lại có hiện tượng đêm

trắng

ĐÁP: Đêm trắng là thuật ngữ dùng để chỉ hiện tượng ban đêm trời không tối

hẳn như bình thường mà có tình trạng tranh tối, tranh sang như lúc hoàng hôn Hiện tượng này chỉ xảy ra ở các vùng vĩ độ cao về mùa hạ, khi ngày dài hơnđêm rõ rệt Ví dụ: thành phố Xanh Pêtecbua (Liên bang Nga) nằm ở vĩ độ 600B

Ở đây, về mùa hạ có ngày rất dài Vào ngày 22 tháng 6 hàng năm Mặt trời chỉlặn lúc 21 giờ 14 phút và lại mọc lên ở chân trời lúc 2 giờ 46 phút

Trong gần 5 giờ đồng hồ gọi là đêm ấy, thực ra hoàng hôn chỉ mới vừa tắt, thìbình minh đã ló rạng Vì vậy người ta gọi là đêm trắng

Ở vùng vĩ độ cao trên vòng cực (từ vĩ độ 66033’ đến cực) có ngày Mặt trờichưa kịp lặn xuống chân trời, đã lại mọc lên ngay, nghĩa là hoàn toàn không cóđêm Ở các vùng này mùa hạ có đêm ngắn bao nhiêu, thì mùa đông lại có đêmdài bấy nhiêu

Tình hình này cũng xảy ra ở nửa cầu Namnhưng ngược lại với nửa cầu Bắc:đêm dài về mùa hạ và ngày dài về mùa đông

Nguyên nhân của tất cả các hiện tượng này là do độ nghiêng của trục Trái Đấttrên mặt phẳng quỹ đạo trong quá trình vận động của Trái Đất quanh Mặt Trờisinh ra

HỎI: Nếu một chiếc trực thăng khi lên cao cứ đứng yên tại chỗ, khi hạ xuống

mặt đất có đến được môt nơi khác nhờ vận động tự quay quanh trục của Trái Đấtkhông?

ĐÁP: Trái Đất là một khối vật chất rất lớn, do đó nó cũng có lực hấp dẫn (sức

hút đối với các vật thể khác hướng vào tâm Trái Đất) rất lớn Lực này làm chotất cả các vật thể ở trên mặt đất và ở xung quanh Trái Đất, kể cả lớp khí quyển,đều chuyển động theo vận động tự quay quanh trục của nó từ Tây sang Đông

Vì vậy, chiếc trực thăng dù bay lên cao, cách xa bề mặt Trái Đất, nhưng vẫnnằm trong lớp khí quyển thì nó vẫn di chuyển theo vận động tự quay quanh trụccủa Trái Đất Khi hạ xuống mặt đất, nó vẫn trở về đúng vị trí lúc xuất phát, màkhông đáp xuống được một nơi nào khác

HỎI: Nếu trục Trái Đất không nghiêng trên mặt phẳng quỹ đạo một góc bằng

66,50 mà đứng thẳng thành một góc vuông 900 hoặc trùng hợp với mặt phẳngxích đạo thành một góc 00, thì khi Trái Đất vẫn tự quay quanh mình và quayxung quanh Mặt Trời như hiện nay, hiện tượng các mùa sẽ ra sao?

ĐÁP: 1 Nếu trục Trái Đất đứng thẳng thành một góc vuông với mặt phẳng quỹ

đạo, thì khi Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời, ánh sáng Mặt Trời bao giờcũng chiếu thẳng vào xích đạo thành một góc vuông với mặt đất Lúc đó hiệntượng các mùa sẽ không có ở bất cứ nơi nào trên Trái Đất Nhiệt độ lúc nàocũng cao nhất ở xích đạo và giảm dần về phía hai cực

Trang 3

2 Nếu trục Trái Đất trùng hợp với mặt phẳng quỹ đạo (nằm trong mặtphẳng quỹ đạo), thì khi Trái Đất chuyển động tịnh tiến quanh Mặt Trời, trên bềmặt trái đất sẽ có hiện tượng các mùa ở khắp mọi nơi, nhưng sự thay đổi nhiệt

độ giữa các mùa sẽ rất khốc liệt Trong một năm, ánh sắng mặt trời sẽ lần lượtchiếu thẳng góc từ xích đạo lên cả hai địa cực Lúc đó sẽ không còn các kháiniệm đường chí tuyến, vùng nội chí tuyến v.v

HỎI: Nếu Trái Đất vẫn chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời nhưng

không chuyển động quanh trục thì sẽ có hiện tượng gì xảy ra trên Trái Đất?

ĐÁP: Nếu Trái Đất vẫn chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời nhưng

không chuyển động quanh trục thì thì lúc đó trên trái đất vẫn có ngày đêm,nhưng một năm chỉ có một ngày đêm Ngày sẽ dài 6 tháng và đêm cũng dài 6tháng đối với tất cả mọi nơi trên Trái Đất

Ban ngày (dài 6 tháng), mặt đất sẽ tích một lượng nhiệt nhiệt rất lớn và nónglên dữ dội Trong khi đó ban đêm (dài 6 tháng) mặt đất lại tỏa ra một lượngnhiệt rất lớn, làm cho nhiệt độ hạ xuống hết sự thấp Trong điều kiện nhiệt độchênh lệch như vậy, sự sống trên bề mặt Trái Đất như hiện nay không thể tồn tạiđược

Ngoài ra, sự chênh lệch về nhiệt độ cũng gây ra một sự chenh lệch rất lớn vềkhí áp giữa hai nửa cầu ngày và đêm, dẫn tới việc hình thành những luồng giómạnh không sao tưởng tượng nổi trên bề mặt Trái Đất

HỎI: Vì sao ở Việt <st1:country-region

w:st="on">Nam</st1:country-region> về mùa đông (ví dụ: tháng giêng) vào lúc giữa trưa Mặt Trời khôngđứng bóng mà nằn chếch về phương <st1:country-regionw:st="on">Nam</st1:country-region> Chỉ về mùa hạ mới có hiện tượng MặtTrời đứng bóng hai lần?

ĐÁP: Khi Mặt Trời đứng bóng là lúc các tia sáng Mặt Trời chiếu thành góc

vuông với mặt đất vào lúc giữa trưa Trên bề mặt Trái Đất, hiện tượng mặt trờiđứng bóng chỉ xảy ra ở vùng giữa hai chí tuyến (cũng gọi là nội chí tuyến) Trong một năm, Mặt Trời chiếu thẳng góc hai lần ở xích đạo vào ngày 21tháng 3 và 23 tháng 9 Vào ngày 22 tháng 6 và 22 tháng 12, Mặt Trời chiếuthẳng góc ở chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam

Nước ta nằm ở vùng giữa xích đạo và chí tuyến Bắc từ vĩ độ 8030’ Bắc (mũi

Cà Mau) đến vĩ độ 23022’B (cao nguyên Đồng Văn), vì vậy ở bất cứ nơi nàotrên đất nước ta trong một năm cũng thấy Mặt Trời đứng bóng hai lần vào mùa

hạ từ ngày 23 – 24 tháng tư đến 20 - 21 tháng 8 Đó là thời kì Mặt Trời di độngbiểu kiến từ mũi Cà Mau lên chí tuyến Bắc Từ 20 – 21 tháng 8 đến 23 – 24tháng 4 là thời kì mặt trời di động biểu kiến từ mũi Cà Mau đến chí tuyến Nam.Vào thời kì này, ở bất kì nơi nào trên đất nước ta cũng thấy mặt trời chếch vềNamlúc giữa trưa Mặt trời càng di động biểu kiến xuống gần chí tuyến Namthì

độ chếch đó càng lớn

HỎI: Trong khi quay quanh Mặt Trời, đầu Bắc của trục Trái Đất luôn luôn

hướng thẳng về phía ngôi sao Bắc Cực Có phải bao giờ cũng như vậy không?

Trang 4

ĐÁP: Không phải bao giờ cũng như vậy Hiên nay, trong khi chuyển động

quanh Mặt Trời, đầu Bắc của trục Trái Đất luôn luôn hướng về phía sao BắcCực Đó là sự chuyển động tịnh tiến Tuy nhiên, hướng của trục Trái Đất khôngphải hoàn toàn không có sự dịch chuyển

Trái đất trong khi chuyển động cũng tương tự như một con quay, vừa quayvừa lắc lư trên trục làm cho hướng của trục không cố định trong không gian, mà

vẽ thành một vòng tròn Mỗi năm, trục dịch chuyển sai với hướng cũ khoảng50’’ trên vòng tròn (bằng 1/26000 vòng tròn) Vậy trong 26000 năm (chính xáclà: 25765 năm), hướng của trục sẽ chao đảo, dịch chuyển trọn một vòng

Như vậy thì sao Bắc Cực không phải là ngôi sao vĩnh viễn nằm trên đườngthẳng kéo dài của đầu Bắc trục Trái Đất Theo dự tính thì đến năm 10000 trụctrái đất sẽ hướng thẳng vào ngôi sao Anpha của chòm Thiên Nga và đến năm

13600 sẽ hướng thẳng vào sao Vêga của chòm sao Thiên Cầm v.v

HỎI: Trên bề mặt Trái Đất có những khối khí nào? Đặc điểm của các khối khí

này ra sao?

ĐÁP: Bề mặt Trái Đất do chịu ảnh hưởng của sự phân bố bức xạ Mặt Trời, nên

đã phân ra một số vành đai nhiệt Mỗi vành đai nhiệt lại có những đạc tính khácnhau về mặt vật lí như: nhiệt độ, khí áp, độ ẩm v.v…

Chính vì vậy nên lớp không khí bao phủ trên bề mặt Trái Đất chịu ảnh hưởngcủa các đặc tính vật lí của mặt đất cũng không đồng nhất, mà phân ra nhiều bộphận khác nhau Mỗi bộ phận không khí đó bao phủ một vùng đất đai rộng lớnhàng triệu km2, tương đối đồng nhất trong nội bộ về các đặc tính vật lí đó gọi làcác khối khí

Như vậy, là mỗi khối khí đều mang dấu ấn của miền đất sinh ra nó như: nónghay lạnh, khô hay ẩm, có khí áp cao hay thấp v.v…

Các khối khí trên bề mặt Trái Đất có thể phân ra:

1 Khối khí băng dương bao phủ các vùng cực giá lạnh quanh năm, kí hiệu làA

2 Khối khí cực địa bao phủ các vùng vĩ tuyến cao ôn đới gần cực, kí hiệu là P.Khối khí này lại phân ra: khối khí cực lục địa Pc bao phủ các vùng đất đai lớntrên lục địa có băng tuyết dày về mùa đông như vùng Xibia của LB Nga và khốikhí cực đới đại dương bao phủ trên các đại dương ở vĩ tuyến cao

3 Khối khí nhiệt đới bao phủ các vùng chí tuyến, kí hiệu là T Khối khí nàycũng phân ra: khối khí nhiệt đới lục địa Tc bao phủ các vùng bình nguyên vàhoang mạc khô khan của nhiệt đới và khối khí nhiệt đới đại dương Tm, bao phủcác vùng biển nóng của nhiệt đới

4 Khối khí xích đạo bao phủ các vùng rừng rậm ẩm ướt và các đại dương củamiền xích đạo, kí hiệu là E

Các khối khí này có tính năng động rất lớn Chúng không ở yên một chỗ, màthường di chuyển Mỗi khi di chuyển đến đâu thì lại làm cho thời tiết ở nơi đó

và ở những nơi chúng đi qua có sự thay đổi đáng kể

Trong quá trình di chuyển, do tiếp xúc với những vùng đất đai mới có các đặctính vật lí khác hẳn với vùng đất đai xuất phát, nên các khối khí cũng dần dầnthay đổi tính chất, trở thành các khối khí biến tính

Trang 5

Khối khí càng cách xa vùng xuất phát, càng kéo dài thời gian di chuyển thì độbiến tính của nó càng lớn Cuối cùng, khối khí sẽ bị đồng hoá và trở thành khốikhí địa phương.

Ví dụ: Khi khối khí cực lục địa Bắc Á di chuyển xuống nước ta, nó đã phải điqua một chặng đường rất dài do nó bị biến tính, yếu dần Khi vào miền bắc nước

ta, nó chỉ còn đủ sức gây ra thời tiết tương đối lạnh lẽo trong vài ngày, sau đó bịđồng hoá với khối khí địa phương Trong dự báo thời tiết, ta thường nói là: “Đợtgió Đông Bắc lạnh đã yếu dần rồi tan”

HỎI: Để nghiên cứu thời tiết, cần phải quan sát những yếu tố nào?

ĐÁP: Thời tiết là biểu hiện của trạng thái khí quyển một địa phương trong một

thời điểm nhất định Những biểu hiện đó có thể cảm nhận được bằng các giácquan như: nhiệt độ, gió, mây, mưa, độ ẩm, bầu trời chói chang hay u ám v.v…Muốn biết cụ thể những biểu hiện này phải quan sát và đo bằng các dụng cụ,máy móc chính xác Để tiện cho việc theo dõi và dự báo thời tiết, tổ chức khítượng thế giới đã thống nhất những yếu tố cần quan sát, cách đo, giờ đo và cácđơn vị để đo tính

Các yếu tố cơ bản cần quan sát và đo ở một trạm khí tượng gồm có:

1 Đo nhiệt độ không khí trong bóng râm ở cách mặt đất 2m Nhiệt độ không

khí được đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân hoặc nhiệt kế rưọu Đơn vị đo là 0C Dùngnhiệt kế để đo thì chỉ biết được nhiệt độ tức thời mà thôi Muốn biết diễn biếnnhiệt độ trong một ngày, người ta phải dùng nhiệt kí (máy ghi nhiệt độ) Máynày vẽ lại được đồ thị nhiệt độ trên băng giấy liên tục suốt 24 giờ

Ngoài ra, nếu muốn biết nhiệt độ tối cao và tối thấp trong ngày, người ta phảidùng một loại nhiệt kế riêng

2 Đo nhiệt độ đất ở trên mặt và ở các độ sâu khác nhau Dụng cụ đo cũng là

nhiệt kế thông thường nhưng để ở các độ sâu khác nhau

3 Đo khí áp Khí áp được đo bằng khí áp kế thuỷ ngân hoặc khí áp kí (máy tự

ghi khí áp) Với khí áp kế thuỷ ngân có để đo được khí áp tức thời, còn khí áp kí

có thể ghi được sự thay đổi khí áp trong một ngày, giống như nhiệt kí Đơn vị đothường dùng là milimet thủy ngân hay miliba (1mm thủy ngân bằng 1,33 milibahay 1 mb = 0,75 mm thuỷ ngân) Hiện nay, người ta còn dùng một đơn vị quốc

tế là hectoPaxcan (1mb = 1hPa)

4 Đo tốc gió Tốc độ gió được đo bằng máy đo gió Đơn vị là m/s Thông

thường, tốc độ gió được phân ra 13 cấp, từ cấp 0 (lặng gió) đến cấp 12 (bão tốlớn) Thang đo gió này do đô đốc Hải quân Bôpho đề ra vào đầu thế kỉ XIX, nênđược gọi là thang Bôpho Mỗi cấp tương ứng với một khoảng tốc độ gió địnhtrước Ví dụ: cấp 1: từ 0,5 đến 1,7m/s, cấp 2: từ 1,8 đến 3,3m/s v.v…Khi biếtgió ở cấp nào thì cũng có thể suy ra được tốc độ gió là bao nhiêu

5 Đo hướng gió Người ta đo hướng gió bằng con quay gió Đó là một dụng cụ

bằng sắt mỏng có hình dạng một mũi tên chuyển động được trên một trục Khigió thổi, bao giờ mũi tên cũng có vị trí song song với hướng gió Gió thổi từphương nào tới thì gọi tên gió theo hướng đó Ví dụ: gió từ Đông Bắc thổi tới thìgọi là gió Đông Bắc

Trang 6

6 Đo độ ẩm của không khí Dụng cụ để đo độ ẩm của không khí là ẩm kế Đơn

giản nhất là ẩm kế tóc Nguyên tắc hoạt động của ẩm kế là dựa vào độ đàn hồicủa một sợi tóc làm chuyển động một chiếc kim trên khung chia độ trong điềukiện khô hoặc ẩm của không khí

Độ ẩm đo thông thường là độ ẩm tương đối, tính bằng phần trăm (%) so với độ

ẩm bão hoà

7 Đo lượng mưa Lượng mưa của địa phương được đo bằng vũ kế hay thùng

đo mưa Lượng mưa được tính bằng độ cao (mm) của cột nước rơi trên một đơn

vị diện tích trong một thời gian nhất định (ngày, tháng, năm…)

8 Đo số giờ nắng trong ngày Số giờ nắng có trong ngày cũng được ghi lại

bằng một dụng cụ gọi là nhật quang kế Đó là một quả cầu thuỷ tinh được sửdụng như một lăng kính hội tụ ánh sáng Mặt Trời vào một điểm để đốt thủngmột băng giấy cho chia sẵn số giờ phù hợp với thời gian Mặt Trời xuất hiện trênbầu trời ban ngày Dựa vào đặc điểm dài, ngắn liên tục hay đứt đoạn của vếtcháy trên băng giấy, người ta có thể biết được số giờ có nắng trong ngày

Ngoài ra, người quan trắc viên ở các trạm khí tượng còn phải quan sát bằngmắt thường những biểu hiện của thời tiết như: độ phủ mây trên bầu trời, các loạimây theo bảng phân loại trong khí tượng, tầm nhìn xa v.v…để ghi vào sổ nhật

kí Tất cả các biểu hiện khí tượng đó đều có liên quan chặt chẽ với nhau, nhờ đó

mà các nhà khí tượng có thể suy đoán và dự báo được thời tiết và triển vọngdiễn biến của nó trong từng thời gian

HỎI: Trên thế giới có các loại khí hậu nào? Đặc điểm của các loại khí hậu đó ra

sao?

ĐÁP: Trên thế giới có bao nhiêu loại khí hậu? Đó là một vấn đề có liên quan

đến cách phân loại và những tiêu chuẩn phân loại do các nhà khí hậu học đề ra.Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau, tuy nhiên cách phân loại đơn giản

và thường dùng trong các sách giáo khoa ở phổ thông hiện nay là cách phân loạicủa nhà khí hậu học Nga B.P.Alixôp Cách phân loại này dựa chủ yếu trên quanđiểm phát sinh Alixôp đã chú ý đến 3 quá trình cơ bản trong khí quyển là: sự dichuyển của các khối khí trên bề mặt Trái Đất, quá trình biến tính của chúng vàcuối cùng là quá trình hoạt động của các phrông, tức là các mặt tiếp xúc của cáckhối khí

Căn cứ vào sự phân bố của các khối khí, Alixôp chia ra 4 đới khí hậu chính và

3 đới phụ:

1 Đới khí hâụ xích đạo (đới chính) là nơi hoạt động chủ yếu của khí khí xích

đạo, hình thành do sự biến tính của khối khí nhiệt đới di chuyển đến dưới dạngTín phong Trong quá trình biến tính, khối khí nhiệt đới trở nên ẩm, độ ẩmtương đối trung bình tháng không bao giờ dưới 70% Thảm thực vật trong đớinày chủ yếu là rừng, nhiệt đới ẩm

2 Đới khí hâụ cận xích đạo (đới phụ) hay đới gió mùa cận xích đạo Đới khí

hậu này nằm ở giữa các vị trí của phrông nhiệt đới về mùa hạ và mùa đông ở cảhai nửa cầu Đới khí hậu này chịu ảnh hưởng chủ yếu của khối khí xích đạo vềmùa hạ và khối khí nhiệt đới về mùa đông Đặc điểm của loại khí hậu này là cómưa nhiều về mùa hạ, khô hanh về mùa đông Lượng mưa trung bình năm từ

Trang 7

1000 – 1500mm ở đồng bằng, từ 6000 – đến 10.000mm ở những sườn núi đóngió Nhiệt độ trung bình cũng từ 200C đến 300C Tuỳ theo lượng mưa, thảm thựcvật chủ yếu ở đây là rừng nhiệt đới, xavan và đồng cỏ.

3 Đới khí hâụ nhiệt đới (đới chính) gồm có 4 loại sau đây: khí hậu nhiệt đới

lục địa, khí hậu nhiệt đới đại dương, khí hậu nhiệt đới ở bờ tây các lục địa và khíhậu nhiệt đới ở bờ đông các lục địa

Loại khí hậu nhiệt đới lục địa được đặc trưng bởi hoạt động của khối khí nhiệtđới lục địa trong suốt năm Khối khí này rất nóng và khô Nhiệt độ trung bìnhtháng nóng nhất lên tới 30 – 390C, tháng lạnh nhất không dưới 100C, cảnh quanđặc trưng của loại khí hậu này là hoang mạc và thảo nguyên khô

Loại khí hậu nhiệt đới hải dương gần giống loại khí hậu xích đạo, nóng, ẩm và

có biên độ nhiệt trong năm nhỏ Loại khí hậu này thường có bão

Loại khí hậu nhiệt đới ở bờ tây lục địa thường có nhiệt độ và độ ẩm thấp hơn vì

có dòng hải lưu lạnh chảy qua, nhưng cũng không bị khối khí lạnh cực địa tràntới

Loại khí hậu nhiệt đới ở bờ đông lục địa có đặc điểm nhiều mưa vì quanh năm

có khối khí nhiệt đới đại dương tràn tới dưới dạng Tín phong Lượng mưa phongphú nhất là ở những nơi có địa hình đón gió Thảm thực vật chủ yếu là rừngnhiệt đới ẩm, xavan và đồng cỏ

4 Đới khí hâụ cận nhiệt đới (đới phụ) nằm ở giữa các đới khí hậu nhiệt đới và

ôn đới Về mùa hạ có khối khí nhiệt đới chiếm ưu thế, còn về mùa đông là khốikhí cực địa, vì vậy đặc điểm của loại khí hậu này là mùa hạ nóng, mùa đôngmát Đới khí hậu này cũng phân ra loại:

- Khí hậu cận nhiệt đới lục địa hay cận nhiệt đới khô hình thành trong cáchoang mạc và thảo nguyên khô cận nhiệt đới Trong mùa hạ có khối khí nhiệtđới lục địa hoạt động, bởi vậy khí hậu ở đây nóng, khô khan, ít mưa Nhiệt độtrung bình tháng nóng nhất từ 280 đến 300C

Trong mùa đông, khối khí cực địa chiếm ưu thế Mưa rơi chủ yếu vào thời kìđông – xuân, lượng mưa từ 300mm đến 500mm Nhiều nơi còn ít hơn

- Khí hậu cận nhiệt đới đại dương có đặc điểm là hay có giông bão về mùađông và khô hạn về mùa hạ Điều đó có liên quan đến hoạt động của các xoáykhí thuận trên phrông cực hay các xoáy khí nghịch ở khu vực cận nhiệt Lượngmưa trong năm có thể tới 1000mm thực vật ở miền này chủ yếu là rừng cậnnhiệt đới ẩm

- Khí hậu cận nhiệt đới ở bờ tây lục địa hay khí hậu Địa Trung Hải có đặc điểm

là khô, ít mây về mùa hạ, nhiều mưa và ẩm về mùa đông Loại khí hậu này đượchình thành do sự hoạt động của các cao áp cận nhiệt về mùa hạ và các hạ áp vềmùa đông khi phrông cực di chuyển về các vĩ độ thấp

- Khí hậu cận nhiệt đới ở bờ đông lục địa có tính chất gió mùa Đặc điểm của

nó là nóng, ẩm về mùa hạ, và lạnh khô về mùa đông Gió mùa đông chính là sựhoạt động tràn tới của khối khí nhiệt đới đại dương Loại khí hậu này rất thíchhợp với sự phát triển của các rừng cận nhiệt đới ẩm

5 Đới khí hâụ ôn đới được hình thành chủ yếu do sự hoạt động của khối khí

cực địa Tuy nhiên, đây cũng là nơi có các khối khí băng dương ở phía bắc vànhiệt đới ở phía nam tràn tới Đới này cũng phân ra 4 loại khí hậu:

Trang 8

- Khí hậu ôn đới lục địa có mùa đông lạnh, mùa hạ nóng Lượng mưa trongnăm từ 400 đến 600mm Mưa nhiều nhất vào mùa hạ Cảnh quan chủ yếu trongvùng là rừng cây ôn đới, thảo nguyên và hoang mạc.

- Khí hậu ôn đới đại dương có biên độ nhiệt trong năm nhỏ, độ phủ mây lớn và

độ ẩm cao Vì các trung tâm hạ áp thường xảy ra quanh năm, nên lượng mưacũng được phân bố đều đặn trong năm

- Khí hậu ôn đới ở bờ tây lục địa chịu ảnh hưởng của hoạt động thường xuyêncủa khối khí cực địa địa dương Mùa ủ mây và độ ẩm lớn Lượng mưa phân phốiđều đặn trong năm nhiều nhất từ 2000mm đến 3000mm Cảnh quan chủ yếu làrừng cây lá rộng

- Khí hậu ôn đới ở bờ đông lục địa có tính chất gió mùa Trong mùa đông khốikhí cực địa lục địa tràn tới tạo thành những đợt gió mùa lạnh, khô Còn trongmùa hạ, khối khí cực đới đại dương lại tràn vào, tạo thành gió mùa ẩm ướt mùa

hạ Cảnh quan chủ yếu là rừng cây ôn đới

6 Đới khí hậu cận cực có khối khí cực địa bao phủ về mùa hạ và khối khí băng

dương bao phủ về mùa đông Đới này có 2 loại khí hậu:

- Khí hậu cận cực lục địa, chịu ảnh hưởng của khối khí băng dương về mùađông và khối khí cực lục địa về mùa hạ Mùa đông có thời tiết u ám và lạnh giá.Mùa hạ ngắn và ấm Biên độ nhiệt trong năm lớn Lượng mưa không đáng kể.Cảnh quan chủ yếu là rừng taiga và đài nguyên

- Khí hậu cận cực đại dương chịu ảnh hưởng chủ yếu của khối khí băng dươngđại dương về mùa đông và khối khí cực địa đại dương về mùa hạ Khí hậu mùađông tương đối dịu, mùa hạ mát Biên độ nhiệt trong năm không quá 200C Cảnhquan chủ yếu là đài nguyên

7 Đới khí hậu cực địa có đặc điểm là quanh năm có sự hoạt động của khối khí

băng dương Nhiệt độ trung bình tháng xấp xỉ 00C

HỎI: Người ta thường nói trên địa cầu có: vùng “vĩ độ ngựa”, vậy vùng “vĩ độ

ngựa” nằm ở đâu và vì sao lại gọi như thế?

ĐÁP: Từ xa xưa, các thương nhân châu Âu đã biết lợi dụng Tín phong thổi đều

đặn quanh năm để trương buồm vượt biển đi buôn bán với Ấn Độ theo đườngvòng qua cực <st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region> châuPhi Vì vậy, Tín phong còn có tên gọi là gió Mậu dịch Cuối thế kỉ XV, đoànthuyền của Crixtôp Côlôm (Tây Ban Nha) cũng nhờ gió đó mà đi về phía Tây

mà tìm ra châu Mĩ Lúc đó, họ vẫn tưởng quần đảo Trung Mĩ là miền Đông Ấn

Độ Các thuỷ thủ trên thuyền rất ngạc nhiên khi thấy gió luôn luôn đưa họ đi vềphía Tây Đến cả những cây cối trên các đảo họ đi qua cũng ngã cành về phíaTây như chỉ đường cho họ Đó chính là hướng của Tín phong

Tín phong tuy thổi từ dải cao áp chí tuyến về hạ áp xích đạo, nhưng bản thândải cao áp (vùng vĩ độ 30 – 350 ở mỗi nửa cầu) lại thường xuyên lặng gió, trờiluôn luôn trong xanh, không một gợn mây

Những thứ hang mang trên các thuyền buồm của châu Âu có cả ngựa Mỗi khi

đi qua vùng lặng gió, thuyền thường phải chờ hàng tuần may ra mới có một đợtgió thổi qua để dong thuyền đi tiếp được Nhiều lần vì phải đợi gió quá lâu nên

Trang 9

ngựa hết cỏ ăn, đã bị chết đói và khát Các thuỷ thủ đánh vứt ngựa xuống biển.Xác ngựa nổi lềnh bềnh trên mặt nước Vì vậy, sau này vùng lặng gió đó đượcmang cái tên kì quặc là vùng “vĩ độ ngựa”.

Trên địa cầu, ngoài hai vành đai lặng gió ở các vùng chí tuyến ra còn có mộtvùng nữa cũng được gọi là vùng lặng gió Đó là vùng hạ áp xích đạo Tuy nhiên,vùng xích đạo không hoàn toàn lặng gió, mà vẫn thường có gió nhẹ, hay đổichiều Trời cũng luôn luôn có mây, buổi chiều và tối thường có mưa going, nênvùng này cũng khác hẳn với vùng “vĩ độ ngựa”

HỎI: Một chiếc máy bay nếu xuất phát từ thủ đô Hà Nội, bay thẳng theo hướng

Bắc 1000 km, rồi rẽ sang hướng Đông 1000 km sau đó đi về hướng Nam cũng

1000 km, cuối cùng lại bay về hướng Tây, cũng1000 km Hỏi máy bay đó có vềđúng nơi xuất phát là thủ đô Hà Nội không?

ĐÁP: Muốn xác định hướng Bắc – <st1:country-region

w:st="on">Nam</st1:country-region> của một địa điểm phải dựa vào các kinhtuyến, còn muốn xác định hướng Đông – Tây lại phải dựa vào hướng các vĩtuyến Do các kinh tuyến trên Trái Đất đầu chụm đầu ở cực, cho nên mạng lướikinh, vĩ tuyến trên Trái Đất không phải là một mạng luới ô vuông, mà là mộtmạng lưới các hình than cân, đáy nhỏ hướng về phía cực Độ dài của cung

10 trên các vĩ tuyến ngắn dần từ xích đạo đến cực Ví dụ: cung 10 trên xích đạodài 111,324 km, còn cung 10 trên vĩ tuyến 800 chỉ còn 19,395 km

Nếu từ một điểm xuất phát gần xích đạo, máy bay bay lên phái Bắc là bay theohướng kinh tuyến về phía cực Bắc Khi bay xuống phía Nam cũng là bay theohướng kinh tuyến Hai đoạn đường này là hai cạnh bên của một hình thang cân Khi bay về phía Đông và phía Tây (tức theo hướng vĩ tuyến) thì hai đoạnđường này là hai cạnh dáy lớn và nhỏ của hình thang cân Nếu mỗi đoạn đườngđều dài bằng 1000 km, thì máy bay không thể về được đúng nơi xuất phát banđầu

HỎI: Sao băng là gì? Tại sao có hiện tượng sao băng?

ĐÁP: Trong khoảng không gian giữa các hành tinh có vô vàn các khối vật chất

nhỏ bé, có kích thước khác nhau, gọi là bụi vũ trụ Trong quá trình chuyển động,các hạt bụi vũ trụ có thể đi vào lớp khí quyển do bị sực hút của Trái Đất Khi masát với không khí, các khối vật chất này phát nhiệt, tạo nên các vệt sáng chóitrên bầu trời ban đêm, bì vậy có tên là sao băng hay sao đổi ngôi

Thực ra, đây không phải là hiện tượng di chuyển vị trí của các ngôi sao, mà sự

là sự bốc cháy của các khối vật chất trong khí quyển

Sao băng rất ít khi rơi xuống mặt đất, mặt dầu mỗi năm có hàng triệu khối lớnnhỏ, đi vào lớp khí quyển Phần lớn chúng bị bốc hơi trước khi rơi xuống bề mặtTrái Đất Phần còn lại, đa số rơi xuống các đại dương, chỉ có một số rất nhỏ rơixuống đất liền, trở thành các thiên thạch

Mỗi khi va chạm với mặt đất, các thiên thạch đều phát ra những tiếng nổ lớn.Cho đến nay, người ta đã ghi nhận được một số vụ nổ lớn do thiên thạch gây ra,như vụ nổ ngày 30 tháng 6 năm 1908 ở Tunguxca (Xibia – LB Nga) Tiếng nổ

Trang 10

của nó làm rung chuyển mặt đất và lan truyền đến tận Trung Âu Sức ép của hơi

nổ đã làm cho cây cối trên hàng nghìn km2 rừng bị đổ rạp

Những khối thiên thạch lớn khi rơi xuống mặt đất thường vỡ tan thành các

mảnh vụn Dựa vào sự phân tích vật chất cấu tạo của những mảnh vụn đó, người

ta phân ra hai loại thiên thạch: thiên thạch đá có thành phần chủ yếu là các loạisilicat và thiên thạch sắt có thành phần chủ yếu là các kim loại sắt, niken, đồng,côban v.v…

HỎI: Tại sao có sự tuần hoàn của nước trên Trái Đất? Trong quá trình thực hiện

các vòng quay, lượng nước có bị hao hụt đi không?

ĐÁP: Lớp nước trên bề mặt Trái Đất tồn tại ở cả 3 thể: rắn, lỏng và khí Nước ở

thể lỏng tập trung nhiều nhất trong các đại dương Dưới ảnh hưởng của nănglượng nhiệt Mặt Trời, nước dễ dàng bay hơi

Hơi nước từ đại dương bốc lên, một phần lớn lại rơi xuống đại dương, còn mộtphần nhỏ tạo thành mây, được các luồng gió đưa vào đất liền Khi gặp điều kiệnthích hợp, mây lại tạo thành mưa, tuyết…rơi xuống mặt đất v.v…Trên mặt đất,một phần nước lại ngắn xuống sâu tạo thành nước ngầm, rồi trở thành các nguồncung cấp nước cho các sông, suối, giếng v.v…Một phần lớn đọng lại trên mặtđất thành các hồ, ao, hoặc trên các núi cao, trên các vùng lạnh gần cực tạo thànhlớp phủ băng, tuyết Chỉ có một phần nhỏ chảy thành dòng trên mặt đất Đó làcác suối, sông v.v…Nước ngầm, nước băng tuyết tan, nước sông…sau một thờigian lại đổ ra biển và đại dương, lại bốc thành hơi, quay về lục địa v.v…Nhưvậy, là tất cả các loại nước trên bề mặt Trái Đất đều vận động, tạo thành mộtvòng tuần hoàn bất tận Sự tuần hoàn này có ảnh hưởng rất lớn đến sự hìnhthành khí hậu, cụ thể là điều hoà chế độ ẩm và nhiệt giữa đại dương và lục địa.Theo sự tính toán của các nhà thuỷ văn học, thì khi thực hiện các vòng quay trênTrái Đất, nước chỉ thay đổi trạng thái mà không bị hao hụt, mất đi đâu cả

HỎI: Nước sông không mặn, nhưng tại sao nước biển và đại dương lại mặn.

Độmặn của biển và đại dương cũng rất khác nhau Vì sao?

ĐÁP: Nước biển và đại dương mặn vì nó chứa một lượng muối hoà tan đáng kể.

Trung bình trong 1000 gam nước biển có 35 gam muối, gồm các muối clorua,sunphát, cacbônát, brômua v.v…Vị mặn của nước biển chủ yếu là do lượngmuối clorua natri (NaCl) khá lớn (khoảng 78%) sinh ra Nước sông cũng có mộtlượng muối hoà tan, nhưng nồng độ rất thấp: 1 gam trong 1000 gam nước Loạimuối chiếm tỉ lệ cao nhất là muối cacbônat (khoảng 60%) Muối NaCl chỉ chiếmkhoảng 5% Chính vì vậy, nước sông nhạt, dễ uống, dân gian quen gọi là nướcngọt

Hiện nay, theo sự tính toán của các nhà khoa học, thì lượng muối chứa trongtoàn bộ các biển và đại dương trên thế giới lên tới 48.106 tỉ tấn Nguồn gốc củakhối lượng muối khổng lồ này, có lẽ là kết quả tích luỹ lâu dài, từ lượng muối ít

ỏi do các song ngòi tải ra biển trong suốt quá trình hình thành bề mặt Trái Đất Tuy nồng độ muối trung bình trong các biển và đại dương trên thế giới là35%0,nhưng nồng độ đó có khác nhau ở từng nơi Vùng biển và đại dương nàonhận được một lượng nước ngọt lớn do mưa cung cấp hoặc do nước sông chảy

Trang 11

ra thì nồng độ muối ở đó giảm đi Độ mặn của nước Hắc Hải ở gần các cửa sônglớn có có 10%0 Độ mặn của nước Biển Đông ở ven bờ nước ta cũng chỉ có 3%0.Tuy nhiên, vùng biển và đại dương nào nằm ở khu vực khí hậu nóng, có độ bốchơi cao, lại hiếm nước sông chảy vào thi nồng độ muối tăng lên, như độ mặn củamuối Hồng Hải lên tới 42%0.

HỎI: Thủy triều là gì? Nguyên nhân nào đã sinh ra thủy triều và tạo sao thủy

triều lại có quan hệ với tuần trăng?

ĐÁP: Thuỷ triều là hiện tượng mực nước biển và đại dương thay đổi độ cao

hàng ngày, quan sát được ở những vùng bờ biển Khi thuỷ triều lên, nước biểndâng cao, lấn sâu vào bãi cát ven bờ, còn khi thuỷ triều xuống, nước biển hạthấp, rút ra xa bờ làm cho diện tích bãi biển rộng thêm

Hiện tượng thuỷ triều đã được giải thích bằng định luật vạn vật hấp dẫn TráiĐất và các thiên thể ở xung quanh nó đều có sức hút lẫn nhau Đáng chú ý nhất

là sức hút của hai thiên thể gần trái đất nhất: Mặt Trăng và Mặt Trời

Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất Tuy có khối lượng nhỏ hơn Trái Đất trên 80lần, nhưng vì ở gần Trái Đất nhất (khoảng 384.000 km) nên Mặt Trăng có sứchút rất lớn đối với Trái Đất

Mặt Trời, tuy lớn hơn Mặt Trăng rất nhiều, song vì ở xa Trái Đất (khoảng 150triệu km), nên sức hút của nó nhỏ hơn sức hút của Mặt Trăng 2,17 lần

Sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời đều là nguyên nhân làm cho nước biển vàđại dương dâng cao, sinh ra thuỷ triều Nhưng do sức hút của Mặt Trăng có ảnhhưởng rất lớn đến lớp nước trên bề mặt Trái Đất, nên thuỷ triều có quan hệ chặtchẽ và hết sức rõ rệt với tuần trăng

HỎI: Tại sao thủy triều lại có 2 lần lên và 2 lần xuống trong ngày? Chu kì đó

cũng không đúng giờ mà mỗi ngày chậm đi khoảng 50 phút

ĐÁP: Muốn giải thích hiện tượng thuỷ triều lên xuống 2 lần trong một ngày,

cần phải phân tích các lực tác động vào lớp nước trên bề mặt Trái Đất

- Lực hút lớn nhất là sức hút của Mặt Trăng Nếu chỉ có sức hút của mặt trăngkhông thôi, thì lớp nước trên bề mặt Trái Đất chỉ dâng cao về một phía và trongmột ngày thuỷ triều chỉ lên xuống có 1 lần

- Tuy nhiên, lớp nước trên bề mặt Trái Đất còn chịu tác động của một sức nữa

Đó là sức li tâm do sự chuyển động của cặp thiên thể: Trái Đất - Mặt Trăng sinh

ra khi quay quanh một trục chung nằm ở 0,73 R (R: bán kính Trái Đất) Sức hútnày ngược chiều với sức hút của Mặt Trăng nếu ở tâm Trái Đất sức hút của MặtTrăng và sức li tâm bằng nhau, thì ở điểm A sức hút của Mặt Trăng lớn hơn sức

li tâm, còn ở điểm B sức li tâm lại lớn hơn sức hút của Mặt Trăng Kết quả làtrong cùng một lúc, lớp nước dâng cao ở cả 2 điểm A và B Như vây là trongmột ngày, do vận động tự quay của Trái Đất nên ở cả hai điểm A và B đều cóthuỷ triều lên xuống hai lần

Trái Đất tự quay một vòng mất đúng 23 giờ 56 phút (tính tròn số) Trong thờigian đó, nó đã di chuyển trên quỹ đạo được một đoạn đường, vì vậy để điểm Athấy lại được Mặt Trời trên đỉnh đầu, Trái Đất phải quay thêm 4 phút nữa, tứctròn 24 giờ Cũng tương tự như vậy, khi Trái Đất quay được một vòng thì Mặt

Trang 12

Trăng cũng đã di chuyển trên quỹ đạo của nó (quanh Trái Đất) một đoạn đường.

Để thấy lại Mặt Trăng ở vị trí lúc xuất phát, trái đất cũng phải quay thêm 50phút nữa (tức thời gian thấy mặt trăng 2 lần ở cùng một vị trí là 24 giờ 50 phút)

Vì lí do đó, nên mỗi ngày thuỷ triều lên xuống chậm đi 50 phút

HỎI: Dòng biển là gì và nguyên nhân nào đã sinh ra các dòng biển?

ĐÁP: Khối nước trong các biển và đại dương luôn luôn chuyển động Một trong

các dạng chuyển động đó là hiện tượng chảy thành dòng giống như các dòngsông trên lục địa Các dòng chảy đó gọi chung là các dòng biển hay hải lưu Đốivới các dòng chảy lớn trong các đại dương, người ta gọi là các dương lưu Ví dụ:dương lưu Bắc Đại Tây Dương Các dương lưu lớn thường có chiều rộng từ 80đến 400 km và vận chuyển được hàng trăm nghìn tỉ tấn nước đi hàng nghìn kmvới tốc độ có khi đến 36 km/h

Về nguyên nhân sinh ra các dòng biển, các nhà khoa học đã khẳng định rằng:

hệ thống gió thường xuyên của hoàn lưu khí quyển (như Tín phong, gió Tây ônđới, gió Đông vùng cực, gió mùa) là động lực chủ yếu gây ra các dòng chảytrong biển và đại dương Các nhân tố khác như: sự khác biệt giữa nhiệt độ nướcbiển ở các vĩ độ khác nhau, nồng độ muối hoà tan v.v…tuy cũng có ảnh hưởng,nhưng không đáng kể Hướng chảy của các dòng biển rất phù hợp với hướngcủa các loại gió nói trên

HỎI: Vào ngày hạ chí (22 tháng 6), ánh sáng Mặt Trời chiếu vuông góc ở chí

tuyến Bắc, tại sao ngày đó lại chưa phải là ngày nóng nhất trong năm ở nửa cầuBắc?

Cũng như vậy, vào ngày xuân phân (21 tháng 3) và thu phân (23 tháng 9), khiánh sáng Mặt Trời chiếu vuông góc ở xích đạo, tại sao ngày xuân phân lại tươngđối lạnh, còn ngày thu phân lại tương đối nóng?

ĐÁP: Ánh sang Mặt Trời khi chiếu xuống mặt đất phải đi qua lớp khí quyển.

Không khí chỉ hấp thu được một lượng nhiệt rất nhỏ, không đáng kể Chỉ sau khimặt đất hấp thu phần lớn lượng nhiệt của ánh sáng Mặt Trời thì không khí mớinóng lên nhờ lượng nhiệt từ mặt đất phát tán ra, gọi là bức xạ mặt đất (bức xạsóng dài) Như vậy, là không khí nóng lên không phải do trực tiếp thu nhậnnhiệt từ ánh sáng Mặt Trời (bức xạ sóng ngắn) mà gián tiếp qua bức xạ mặt đất Nếu mặt đất có tích được một lượng nhiệt lớn của Mặt Trời thì nó mới nónglên và sau đó mới có khả năng bức xạ một lượng nhiệt lớn ra không trung

Trong một ngày, Mặt Trời cao nhất vào lúc giữa trưa Góc chiếu trên mặt đấtlớn nhất Lúc đó mặt đất cũng hấp thu được một lượng nhiệt lớn nhất

Nhưng nhiệt độ không khí chưa cao nhất, vì mặt đất phải tích được một lượngnhiệt lớn nhất thì sau đó mới có lượng nhiệt bức xạ cao nhất Vì vậy, phải vàokhoảng từ 13 giờ trở đi thì nhiệt độ không khí mới đạt đến mức cao nhất Banđêm, mặt đất chỉ có tác dụng phóng nhiệt mà không thu nhiệt

Đến gần sang thì lượng nhiệt của mặt đất tích được còn ít nhất Lúc đó cũng làlúc nhiệt độ không khí trong ngày thấp nhất

Trang 13

Chính vì lí do đó, mà trong một ngày nhiệt độ không khí cao nhất không phải

là lúc giữa trưa, mà là vào khoảng từ 13 đến 15 giờ Lúc nhiệt độ không khí thấpnhất cũng không phải là lúc giữa đêm, mà là vào lúc gần sáng

Cũng giống như vậy, trong một năm nhiệt độ không khí thay đổi tuỳ theolượng nhiệt của mặt đất tích luỹ được nhiều hay ít Sau ngày hạ chí, ở nửa cầuBắc mặt đất sau khi tích luỹ được nhiều nhiệt, mới có bức xạ lớn, làm cho nhiệt

độ không khí tăng cao Thời kì nóng nhất trong năm như vậy phải vào vài tuầnsau ngày hạ chí Thông thường trên lục địa, tháng nóng nhất trong năm là tháng

Tuy nhiên, sự thay đổi nhiệt độ không khí nói trên nhiều hay ít, còn phụ thuộcvào nhiều nhân tố ở địa phương như: vĩ độ, sự phân bố lục địa - biển, địa hình vàcác hiện tượng thời tiết ở các nơi khác nhau…

HỎI: Hải lưu Gơnxtrim và dương lưu Bắc Đại Tây Dương là hai dòng khác

nhau trong Đại Tây Dương hay chỉ là một dòng duy nhất nhưng có hai tên khácnhau?

Nếu là hai dòng thì đặc điểm của chúng ra sao?

ĐÁP: Hải lưu Gơnxtrim theo tiếng Anh có nghĩa là “dòng chảy trong vịnh”.

Đây là vịnh Mêhicô, vì vậy dòng Gơnxtrim cũng còn gọi là dòng hải lưuMêhicô

1 Hải lưu Mêhicô là dòng hải lưu lớn nhất thế giới Sở dĩ dòng này lớn vì gốccủa nó gồm toàn bộ dòng hải lưu nóng Bắc xích đạo và phần lớn dòng hải lưunóng <st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region> xích đạo trongĐại Tây Dương

Hai dòng hải lưu này xuất phát từ bờ biển phái tây châu Phi, chảy về hướng tâysang lục địa Nam Mĩ Do vận động tự quay của Trái Đất nên toàn bộ dòng hảilưu nóng Bắc xích đạo khi đến bờ biển Trung Mĩ, chuyển hướng sang bên phảichảy lên phía bắc, còn dòng hải lưu nóng Nam xích đạo, đáng lẽ phải chuyểnhướng toàn bộ sang bên trái, chảy xuống phía nam thì lại tách ra 2 nhánh khigặp mũi đất thuộc lãnh thổ Braxin, ở khoảng vĩ độ 80N, nhánh lớn quặt sangphải men theo bờ biển Guyana, chảy lên phía bắc hào với dòng hải lưu nóng Bắcxích đạo trở thành hải lưu nóng Guyana Hải lưu này có chiều rộng tới 500 km.Khi chảy đến phía nam quần đảo Ăngti nhỏ, hải lưu <st1:country-regionw:st="on">Guyana</st1:country-region> lại tách ra hai nhánh: một nhánh chảy

ở phía đông quần đảo theo hướng tây bắc, một nhánh chảy vào biển Caribê, vàovịnh Mêhicô Khi ở vịnh Mêhicô chảy ra qua bán đao3Phloriđa, dòng này ventheo bờ biển Bắc Mĩ đến mũi Hattêrat (350B, 750T) thì hợp lại với nhánh ở bờđông quần đảo Ăngti nhỏ hình thành nên dòng dương lưu Bắc Đại Tây Dương

Từ đây dòng Bắc Đại Tây Dương chảy về phía đông bắc, phân ra 4 nhánh:

Trang 14

- Một nhánh chảy vòng về phía nam bán đảo Tây Ban Nha, ven bờ tây châu Phitrở thành hải lưu mát Canari rồi nhập vào hải lưu Bắc xích đạo, hoàn thành mộthoàn lưu lớn trong Bắc Đại Tây Dương.

- Nhánh thứ hai chảy vào eo biển Măng sơ và Bắc Hải

- Nhánh thứ ba chảy vào biển Ailen (ở giữa đảo Ailen và đảo Anh)

- Nhánh thứ tư chảy dọc bờ tây đảo Ailen lên hướng đông bắc

Ba nhánh sau này đều là các hải lưu nóng

Cả ba nhánh gặp lại nhau ở phía bắc quần đảo Anh, rồi tiếp tục chảy vào bờbiển Na Uy đến tận mỏm bắc của bán đảo Xcanđinavi để vào biển Baren

Nhờ dòng dương lưu này mà hải cảng Muốcman của Nga (ở khoảng vĩ độ

690B) quanh năm không bị đóng băng

Như vậy, có thể nói hải lưu Gơnxtrim và hải lưu Mêhicô là những tên gọi khácnhau của cùng một dòng hải lưu Còn hải lưu Mêhicô có thể coi là “tiền thân”hoặc đoạn đầu của dương lưu Bắc Đại Tây Dương

2 Các dòng hải lưu nói trên có những đặc điểm sau:

- Dòng hải lưu Mêhicô khi chảy trong biển Caribê có tốc độ khá lớn: từ 15 đến

20 km/h, nhưng khi ra khỏi vịnh Mêhicô thì chỉ còn 8 km/h Nhiệt độ nước củahải lưu này rất cao, có khi trên 370C

- Dòng hải lưu có chiều rộng nhỏ (khoảng 80 km) và độ sâu dòng nước khá lớn(khoảng 400 m)

- Khi đến gần mũi Hattêrat, hải lưu Mêhicô hoà nước với hải lưu Đông Ăngtinhỏ để trở thành dương lưu Bắc Đại Tây Dương thì chiều rộng của nó tăng lênđến 200 km, tốc độ giảm còn 5 km/h độ sâu của dòng nước không tới 200m.Như vậy là ở đây, khi chiều rộng tăng lên thì tốc độ và độ sâu dòng nước đềugiảm Nhiệt độ cũng chỉ còn 30,50C Ở độ sâu 10 m, nhiệt độ khoảng 27,50C.Khi vượt qua Đại Tây Dương, nhiệt độ của nó bao giờ cũng chênh với nhiệt độnước xung quanh từ 8 đến 100C

- Tính trung bình, dương lưu này mỗi giờ tải được một lượng nước nóng nặngtới 90 triệu tấn Chính vì vậy mà nó có tác dụng điều hoà khí hậu rất rõ rệt đốivới khu vực Tây và Bắc Âu

HỎI: Biển Xácgat nằm ở đâu trong Đại Tây Dương và vì sao có tên đó?

ĐÁP: Biển Xácgat là một khu vực rộng lớn nằm ở Bắc Đại Tây Dương giữa các

vĩ tuyến 200 – 400B và các kinh tuyến 300 – 700T Khu vực này rộng khoảng 8,5triệu km2 (1) là môi trường sinh sống của một loại tảo nâu Theo số liệu tínhtoán thì sinh khối thực vật ở đây đạt từ 15 đến 20 triệu tấn

Tảo nâu ở đây là một loại tạo riêng không giống bất cứ loại tảo nào ở vùng bờbiển các nước châu Mĩ Giống tảo này sống nổi trên mặt nước biển, không sâuquá 2m Nó được các thuỷ thủ trong đoàn thuyền của Côlômbô phát hiện ratrong chuyến vượt Đại Tây Dương lần thứ nhất vào năm 1492 Lúc đầu, khi nhìnthấy loại thực vật này còn tươi tốt, họ tưởng đây là một loại “cỏ” trôi từ đất liền

ra, báo trước điều lành là thuyền sắp đến đích Nhưng càng đi, họ càng thấy biển

“cỏ” có nhiều bong bóng nhỏ giống như loại nho Xácgat ở Bồ Đào Nha, nên họđặt tên cho loại “cỏ” này là Xácgat

Trang 15

Biển Xácgat là một vùng nước tương đối yên tĩnh ở giữa Bắc Đại Tây Dương.Xung quanh biển, bốn phía có các dòng hải lưu và dương lưu chảy vòng quanh:phía tây có hải lưu Mêhicô, phía đông có hải lưu Canari, phía nam có hải lưuBắc Xích đạo và phía bắc có dương lưu Bắc Đại Tây Dương.

HỎI: Tầng ôdôn là gì? Tại sao gần đây người ta lại nói nhiều đến sự nguy hiểm

do tầng ôdôn bị thủng?

ĐÁP: Ôdôn là một chất khí có công thức hoá học 03 Trong khí quyển, ôdôn tập

trung nhiều nhất trong tầng không khí ở độ cao từ 25 đến 40km So với khôngkhí ở trên mặt đất thì lượng ôdôn ở đây cao gấp 2 – 3 trăm lần, vì vậy người tacũng quen gọi tầng không khí này là tầng ôdôn Thực ra, khối lượng ôdôn trongkhí quyển rất nhỏ Nếu tập trung toàn bộ ôdôn trong khí quyển rồi đặt trong điềukiện bình thường của không khí trên mặt đất thì nó chỉ còn là một tầng mỏngkhoảng 3mm

Tuy lượng khí ôdôn không nhiều, nhưng có có tác dụng như một màn chắn,ngăn cản phần lớn các tia tử ngoại có bước sóng ngắn đi qua khí quyển xuốngmặt đất Các tia này rất nguy hiểm đối với sự sống của các sinh vật, kể cả conngười Chính vì vậy mà hiện nay báo chí trên toàn thế giới đều nói tới vấn đềcần thiết phải bảo vệ tầng ôdôn Trong những năm gần đây người ta đã nhậnthấy sự suy giảm của tầng ôdôn, đặc biệt là đã quan sát được những lỗ thủng ởtầng này trên Nam Cực và Bắc Cực

Những nghiên cứu của các nhà khoa học gần đây đã đi đến kết luận là nguyênnhân chủ yếu gây ra những lỗ thủng ở tầng ôdôn là do trong khí quyển có chứamột lượng khá lớn hoá chất Clorofluorocacbon (CFC) dùng trong nhiều ngànhcông nghiệp, đặc biệt là trong ngành công nghiệp làm lạnh

HỎI: Làm thế nào để tính được lượng chảy trung bình của một con song ở một

bến nhất định?

ĐÁP: Lượng chảy của một dòng sông ở một bến nhất định có thể tính theo công

thức:

Q(m3/s) = S(m2) x Vtb (m/s)

Trong đó: Q là lượng chảy, tính bằng mét khối/ giây (m3/gy)

S là diện tích mặt cắt lòng sông có nước, tính bằng mét vuông (m2)

Vtb là tốc độ trung bình của nước chảy trong lòng sông, tính bằng mét/giây (m/gy)

Để tính được S, người ta đo chiều ngang của lòng sông có nước rồi chia ra một

số đoạn bằng nhau Ví dụ: các đoạn AB, BC, CD…theo hình vẽ

Ở các điểm B, C, D…người ta đo độ sâu của lòng sông Như vậy là mặt cắt củalòng sông có nước đã được chia thành một số hình thang và hai hình tam giác.Tổng diện tích của tất cả các hình này là diện tích của mặt cắt lòng sông cónước

Để tính Vtb, người ta đo tốc độ nước chảy ở giữa sông, ở hai bên bờ và ở đáy.Tốc độ nước chảy ở hai bên bờ và đáy sông bao giờ cũng nhỏ hơn tốc độ nướcchảy ở giữa sông Để có tốc độ nước chảy trung bình, người ta có lượng chảy

Trang 16

tức thời của sông ở một địa điểm hay bến nhất định Để có lượng chảy trungbình của con sông trong một ngày người ta đo lượng chảy của sông 4 lần trongmột ngày (cách nhau 6 giờ) cộng lại rồi lấy trung bình Để có lượng chảy trungbình của sông trong 1 tháng, người ta cộng lượng chảy trung bình các ngàytrong tháng rồi chia cho số ngày trong tháng.

HỎI: Để biết lượng phù sa của một con sông, người ta đã tiến hành đo tính như

thế nào?

ĐÁP: Sông nào khi vận chuyển nước cũng đều xói mòn lòng sông (xâm thực

dọc) và hai bên bờ (xâm thực ngang) Đặc biệt trong mùa mưa lũ, nước sôngchảy xiết, cuốn theo một lượng lớn các hạt đất, cát, sỏi, cuội…Vì vậy vào mùa

lũ, nước sông đục ngầu Các vật liệu rắn được dòng nước mang theo, có kíchthước, trọng lượng khác nhau Các hạt có kích thước nhỏ (từ 0,05mm trở xuống)

lơ lửng trong nước, được gọi là phù sa Càng xuống hạ lưu, do tốc độ của dòngsông giảm dần, tốc độ nước chảy chậm lại, cáchạt phù sa càng mịn

Để tính lượng phù sa trong nước sông, ở các trạm thuỷ văn, người ta phải lấymẫu nước ở giữa dòng chảy (thường là 1 lít) Mẫu nước này được lọc qua giấythấm Các hạt phù sa sẽ đọng lại trên giấy Sau khi sấy khô, người ta cân và biếtđược lượng phù sa trong 1 lít nước Ví dụ: vào mùa lũ, ở trạm Sơn Tây trên sôngHồng lượng phù sa đo được là 1172,6g/m3, còn ở trạm Phù Ninh trên sông Lôthì chỉ có 350g/m3 Về mùa cạn, cũng ở trạm Sơn Tây lượng phù sa chỉ có255g/m3, còn ở trạm Phù Ninh là 72g/m3

Từ lượng phù sa trong 1 lít nước, người ta cũng tính ra được tổng lượng phù sa

do sông vận chuyển trong một thời gian nhất định qua một trạm (một địaphương) Ví dụ: trong một trận lũ, trong một ngày v.v…

Qua nhiều lần đo trong những khoảng thời gian nhất định, người ta cũng có thểtính ra được tổng lượng phù sa trung bình do một con sông vận chuyển qua mộtđịa phương trong cả 6 tháng mùa mưa, 6 tháng mùa khô hay cả năm v.v…(Đơn

vị dùng: tấn/năm)

HỎI: Sông mang nhiều phù sa thì sẽ có những ảnh hưởng tốt, xấu gì đến các

vấn đề thuỷ lợi và giao thong vận tải?

ĐÁP: Sông mang nhiều phù sa sẽ có tác dụng bồi đắp lớn ở hạ lưu, mở rộng

diện tích châu thổ ra phía biển Các châu thổ sông đều là những đồng bằng lớn,phì nhiêu, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Ví dụ: đồng bằng châu thổ sôngHồng ở Bắc Bộ, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ở Nam Bộ nước ta

Tuy nhiên, đối với các công trình thuỷ lợi (hồ chứa nước, mương, máng v.v…)

và các tuyến đường giao thông vận tải đường sông, thì lượng phù sa của sôngcàng lớn, càng gây nhiều trở ngại cho việc vận hành Các lòng hồ, lòng sông,mương, máng v.v…bị phù sa lắng đọng phải thường xuyên được nạo vét, khơisâu thì mới bảo đảm được mực nước và lượng nước cần thiết cho tàu thuyền qualại và cho công việc tưới tiêu

HỎI: Việc lựa chọn địa điểm để xây dựng các hồ chứa nước trên sông đòi hỏi

những điều kiện gì?

Trang 17

ĐÁP: Việc xây dựng các hồ chứa nước trên sông đòi hỏi một số điều kiện như

sau:

1 Trước hết, cần xác định mục đích chính của việc xây dựng hồ Nếu hồ dùng

để trữ nước thì địa điểm lựa chọn phải bảo đảm được diện tích chứa nước tối đa.Nếu xây dựng hồ với mục đích thuỷ lợi thì địa điểm xây dựng phải gần khu vựccần tưới tiêu, còn nếu xây hồ với mục đích làm thuỷ điện thì tốt nhất cần chọnđịa điểm gần khu vực sử dụng điện

2 Địa điểm xây dựng hồ phải lựa chọn sao cho khi mực nước dâng cao, khuvực bị ngập nước có thiệt hại ít nhất Như vậy là những khu vực có dân cư đôngđúc, ruộng đất phì nhiêu, khoáng sản phong phú thì không nên dùng để xâydựng hồ chứa nước

3 Địa điểm xây dựng hồ cần có khả năng chứa được một lượng nước lớn, vìvậy địa điểm xây dựng tốt nhất là phải chọn một khu vực lòng chảo tương đốirộng và bằng phẳng, có thung lũng sông hẹp Khu vực lòng chảo chứa đượcnhiều nước, còn thung lũng sông hẹp sẽ thuận lợi cho việc xây dựng đập chắn

Độ dốc lòng sông ở phía trên đập càng nhỏ càng tốt, vì như vậy thì đập chắnkhông cần xây cao Những địa điểm đạt yêu cầu này thường thấy ở khúc trunglưu của sông

4 Vị trí xây hồ cũng phải có điều kiện địa chất tốt, nghĩa là không nằm trongvùng có động đất lớn, có đứt gãy địa chất, nền nham thạch ở đáy hồ ít thấmnước v.v…

5 Cuối cùng, cũng cần quan tâm đến việc khảo sát môi trường địa phương.Cần tính đến mức độ xâm thực đất đai ở vùng thượng lưu, vì kẻ thù lớn nhất củacác hồ chứa nước là sự ứ tích phù sa; cần dự kiến được hết những hậu quả doviệc xây dựng hồ chứa nước gây ra đối với môi trường, cả về mặt tích cực vàtiêu cực Có như vậy thì việc xây dựng hồ chứa nước mới có tác dụng thực tế vàkhông lãng phí công, của của Nhà nước và nhân dân

HỎI: Vì nguyên nhân nào hồ Baican ở châu Á lại có độ sâu lớn nhất thế giới?

Giá trị của nó?

ĐÁP: Baican là một hồ lớn ở châu Á (vùng Xibia) thuộc lãnh thổ Liên Bang

Nga Hồ có nguồn gốc đoạn tầng Vào khoảng 1 triệu năm trước đây, trong kỉ

Đệ Tam thuộc đại Tân Sinh, Vỏ Trái Đất ở vùng trung Xibia có nhiều biếnđộng, tạo nên một đứt gãy lớn Bộ phận sụt lún rất sâu trở thành hồ Baican Hồđoạn tầng nói chung thường có đặc điểm là dài, hẹp và có độ sâu lớn Baican làmột ví dụ điển hình Hồ dài 636km, chiều ngang rộng trung bình từ 50 đến70km Chỗ rộng nhất đạt 79,4km, còn chỗ hẹp nhất chỉ có 25km Diện tích của

hồ rộng 31.500km2, là hồ có diện tích lớn thứ 2 ở châu Á sau hồ Aran(64.500km2) Nếu so với các hồ khác trên toàn thế giới, thì Baican đứng hàngthứ 8

Độ sâu của hồ phần lớn từ 600m trở lên Chỗ sâu nhất đạt 1741m, chiếm vị tríthứ nhất thế giới, vượt xa hồ Tanganica ở châu Phi (1470m) và hồ Caxpi ở châu

Âu (1025m)

Do hồ có độ sâu lớn, nên lượng nước chứa của nó lên tới 23.000km3, chỉ thua

có hồ Caxpi là hồ có diện tích lớn hơn nó 12 lần

Trang 18

Hồ Baican có ảnh hưởng rất lớn đến khí hậu của vùng đất xung quanh, đặc biệt

là về nhiệt độ Hàng năm vào tháng 12 khi hồ bắt đầu đóng băng, nước toả ramột lượng nhiệt rất lớn làm cho nhiệt độ vùng xung quanh hồ tăng thêm đến

100C Vào cuối xuân, đầu hạ, khi hồ tan băng thì nước lại hấp thu một lượngnhiệt lớn, làm cho nhiệt độ vùng xung quanh giảm xuống Vào tháng 6, khi nhiệt

độ ở thành phố Iêccut (cách hồ 66km) lên đến 250 – 300C, thì ở vùng ven hồBaican, nhiệt độ chưa vượt quá 150 – 180C, còn trên mặt nước hồ (cao trên mặtnước 1 m) ở cách xa bờ 1km thì nhiệt độ chỉ mới từ 60 – 70C

Hồ Baican nhận một lượng nước lớn, chủ yếu do hệ thống sông Xêlenga, từlãnh thổ Mông Cổ chảy vào Ngược lại, hồ cũng cung cấp một lượng nước lớncho phần thượng nguồn của sông Angara, làm cho nó trở thành một dòng nướcxiết, chảy qua nhiều thác ghềnh, nhưng ổn định quanh năm, tạo điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển thuỷ điện

HỎI: Cách đây hơn 3000 năm, Torixenli có nói: “Chúng ta đang sống dưới đáy

đại dương không khí” Vậy “đại dương không khí” với “đại dương nước” cógiống nhau không? Các hiện tượng xảy ra trong “đại dương không khí” có gìkhác với các hiện tượng xảy ra trong “đại dương nước”

ĐÁP: Loài người và các sinh vật sống trên bề mặt Trái Đất, trong lớp khí quyển

cũng giống như cá và các sinh vật sống trong biển cả bao la Nhưng “đại dươngkhông khí” có nhiều đặc điểm không giống “đại dương nước”

Có thể nêu lên một số khác biệt như sau:

1 Đại dương thế giới của chúng ta có độ sâu trung bình là 3800m Chỗ sâunhất đạt trên 11.000m (vực Marian ở Thái Bình Dương)

Chiều dày của “đại dương không khí” hiện nay chưa có con số chính xácnhưng chắc chắn là phải trên 10.000km, nghĩa là gấp 1000 lần chiều dày của lớpnước đại dương Đặc biệt là chiều dày của lớp không khí không đồng nhất trêntoàn bộ bề mặt Trái Đất Khi Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời, khôngkhí bị dạt về phía sau, cho nên khí quyển ở phía này có chiều dày lên tới khoảng20.000km

2 Lớp không khí đậm đặc nhất là lớp ở gần mặt đất Càng lên cao không khícàng loãng Những người leo núi, khi lên đến độ cao 6000m đã thấy rất khó thở

Từ độ cao 80km trở lên thì các phần tử khí đã không còn nguyên vẹn Một sốđiện tử tách ra khỏi phân tử, trở thành các điện tử tự do Vì vậy, từ độ cao nàytrở lên, người ta gọi chung là tầng iôn

Ở đại dương, nước đậm đặc nhất là ở tầng đáy Mật độ nước giảm dần theochiều cao, nhưng sự chênh lệch không quá lớn như trong khí quyển Trung bình

cứ xuống sâu 10m áp lực của cột nước lại tăng lên một atmôtphe

3 Không khí là môi trường trong suốt Các tia sáng Mặt Trời dọi tới mặt đấtmột cách dễ dàng và được mặt đất hấp thụ rồi toả nhiệt Lượng nhiệt này đã làmnóng lớp không khí sát mặt đất, rồi truyền dần lên cao

Nước đại dương cũng hấp thụ các tia sáng Mặt Trời, nóng lên, nhưng vì nước

là môi trường không trong suốt, nên các tia sáng Mặt Trời chỉ xuống tới một độsâu nhất định, (tối đa không quá 1700m), đặc biệt là các tia có nhiệt độ cao (đỏ,

Trang 19

hồng ngoại) thì không quá vài chục mét Bởi vậy, nhiệt độ nước đại dương giảmdần theo độ sâu.

4 Lớp không khí gần mặt đất, nhờ có bức xạ nhiệt của mặt đất nóng lên, nở ra,trở nên nhẹ và bốc lên cao Không khí trên cao lạnh, nặng hơn lại chuyển xuốnggần mặt đất, tạo thành hiện tượng đối lưu không khí Hiện tượng này chỉ xảy ra

ở tầng không khí từ mặt đất đến độ cao trung bình 8 – 10km, gọi là tầng đối lưu.Đây cũng là nơi sinh ra các hiện tượng khí tượng phức tạp như gió, mây, mưa,sấm sét v.v…

Ở đại dương, nước có tỉ trọng lớn nhất là 40C, vì vậy nơi nào nhiệt độ đạt đến

40C, thì nước ở đó nặng hơn nước ở xung quanh và chìm xuống dưới Nước ởdưới lại trồi lên thế chỗ Như vậy là hiện tượng đối lưu cũng xảy ra, nhưng đốilưu ở đại dương yếu ớt và có phạm vi nhỏ hẹp hơn nhiều so với đối lưu trongkhí quyển

Ngoài ra, nước trên mặt đại dương, do tiếp xúc trực tiếp với khí quyển, thườngxuyên chịu tác động của nhiệt độ, gió v.v…nên luôn luôn chuyển động tạo thànhsóng, các dòng biển Các vận động này cùng với thuỷ triều góp phần xáo trộnlớp nước trên mặt đại dương làm cho lớp nước này có nhiều sự khác biệt so vớilớp nước dưới sâu Từ độ sâu 500m cho tới đáy, nước đại dương tương đối đồngnhất và yên tĩnh

CÁC CÂU HỎI ĐÁP VỀ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN NAM

HỎI: Vị trí địa lí nước ta “nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu

Bắc, thiên về phía chí tuyến hơn là phía xích đạo”, lại ở bờ đông bán đảo ĐôngDương Điều đó có ý ngiã như thế nào đối với sự hình thành các đặc điểm địa lí

tự nhiên độc đóa của nước ta?

ĐÁP: Phần đất liền nước ta có toạ độ địa lí từ 8030’B đến 23022’B và từ 1020Đđến 1090Đ Do vị trí như vậy nên nước ta có những đặc điểm sau:

- Nước ta nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu Bắc, ở phíaĐông Nam của châu Á, trong vùng gió mùa nhiệt đới điển hình, nên có khí hậunóng, ẩm Một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

- Nước ta không bị hoang mạc và bán hoang mạc như một số nước có cùng vĩ

độ ở Tây Nam Á và châu Phi

- Nhờ nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, lượng mưa dồi dào nên thực vật phát triển xanhtốt quanh năm Đặc biệt vị trí đó lại là nơi hội tụ của các hệ thực vật Ấn – Miến

từ tây sang và Mã Lai – Inđônexia từ phía nam tới

- Bờ biển nước ta dài, có nhiều vũng, vịnh Ngoài biển lại có nhiều đảo và quầnđảo Thềm lục địa chứa nhiều tài nguyên (khoáng sản, hải sản) có giá trị Ảnhhưởng của biển vào sâu trong đất liền Tuy nhiên, hàng năm cũng có nhiều cơnbão gây tác hại cho sản xuất và sinh hoạt

Trang 20

HỎI: “Diện tích phần đất liền nước ta thuộc loại trung bình so với nhiều nước

khác trên thế giới, nhưng lãnh thổ toàn vẹn của nước ta thì rất rộng lớn” Nóinhư vậy có gì mâu thuẩn không? Tại sao?

ĐÁP: Nói như vậy không mâu thuẫn, bởi vì lãnh thổ toàn vẹn của nước ta bao

goầm cả phần đất liền, các đảo, quần đảo và vùng biển thuộc chủ quyền nước ta.Diện tích phần đất liền nước ta khoảng 330.363 km2 Nếu so với nhiều nướckhác trên thế giới thì không lớn quá, nhưng cũng không nhỏ quá Ngoài phần đấtliền, nước ta còn có một vùng biển rộng gấp nhiều lần so với phần đất liền, vớihang nghìn hòn đảo lớn nhỏ, nằm rải rác hoặc hợp thành những quần đảo trongBiển đông, như Hoàng Sa, Trường Sa v.v…Như vậy cả phần đất liền lẫn vùngbiển và các đảo, quần đảo của nước ta hợp lại thì lãnh thổ toàn vẹn của nướcCHXHCN Việt Nam không nhỏ

HỎI: Nước ta có bao nhiêu tỉnh và thành phố Miền Bắc, miền Trung và miền

Nam có những tỉnh và thành phố nào?

ĐÁP: Theo tài liệu chính thức năm 2009, nước ta có 58 tỉnh và 5 thành phố trực

thuộc Trung ương

- Miền Bắc có 23 tỉnh gồm: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, LaiChâu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang,Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nam, Quảng Ninh, Hải Dương,Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và 2 thành phố trực thuộc trungương là Hà Nội và Hải Phòng Ngoài ra, có 19 thành phố thuộc tỉnh là: Việt trì(thuộc Phú Thọ) và Hạ Long (thuộc Quảng Ninh)…

- Miền Trung có 18 tỉnh gồm: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông

và Lâm Đồng Có 1 thành phố trực thuộc trung ương là Đà Nẵng, có 18 thànhphố thuộc tỉnh là: Thanh Hoá (thuộc Thanh Hoá), Vinh (thuộc Nghệ An), Huế(thuộc Thừa Thiên - Huế), Quy Nhơn (thuộc Bình Định), Nha Trang (thuộcKhánh Hoà) và Đà Lạt (thuộc Lâm Đồng)…

- Miền Nam có 15 tỉnh gồm: Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai,

Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang,Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau

Có 2 thành phố trực thuộc Trung ương là: Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ.Ngoài ra, còn có 11 thành phố thuộc tỉnh là: Vũng Tàu (thuộc Bà Rịa – VũngTàu), Biên Hoà (thuộc Đồng Nai), Mĩ Tho (thuộc Tiền Giang)…

HỎI: Các đảo và quần đảo Côn Đảo, Phú Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa thuộc

các tỉnh nào?

ĐÁP: Côn đảo là một huyện thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Phú Quốc là một

huyện thuộc tỉnh Kiên Giang Hoàng Sa là một huyện thuộc tỉnh Quảng

Nam-Đà Nẵng, còn Trường Sa là một huyện thuộc tỉnh Khánh Hoà

HỎI: Ở nước ta, tỉnh nào có diện tích lớn nhất, nhỏ nhất?

ĐÁP: Theo số liệu, cho đến năm 2009:

Trang 21

1 Tỉnh có diện tích lớn nhất là Nghệ An (16490.7 km2) Tỉnh có diện tích nhỏnhất là Bắc Ninh (822.7 km2).

2 Những tỉnh và thành phố có số dân đông nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh(7396.5 nghìn người), Hà Nội (6561.9 nghìn người), Thanh Hoá (3406.8 nghìnngười), Nghệ An (2917.4 nghìn người), Đồng Nai (2596.4 nghìn người), AnGiang (2149.5 nghìn người) Những tỉnh và thành phố có mật độ dân số lớn nhấtlà: Thành phố Hồ Chí Minh (3530 người/km2), Thành phố Hà Nội (1962 người/

km2), Hưng Yên (1226 người/km2), Hải Phòng (1221 người/km2)

HỎI: Tại sao nói Biển Đông nước ta là một biển lớn và nửa kín?

ĐÁP: Biển Đông bao bọc nước ta ở phần phía đông và phía nam, chủ yếu là

phía đông nên có tên gọi là Biển Đông (Việt Nam)

Đây là một biển lớn, đứng hàng thứ 2 về diện tích trong số các biển ven TháiBình Dương Biển rộng trung bình trên 1000 km, dài khoảng trên 3000 km, diệntích khoảng 3.447.000 km2

Đặc điểm nổi bật của Biển Đông là tính chất biển nửa kín của nó, được bao bọc

4 phía bởi lục địa châu Á, các quần đảo Philipin, Malaixia và Inđônêxia, chỉthông ra Thái Bình Dương và các biển lân cận bằng những eo biển hẹp Ý nghĩacủa tính chất biển nửa kín ở chỗ nó làm ảnh hưởng đến đặc điểm của các dòngbiển, của thuỷ triều và cả của giới sinh vật (các đàn cá,…)

HỎI: Những đặc điểm cơ bản nào chứng tỏ nước ta có khí hậu nhiệt đới gió

- Nhiệt độ trung bình cả năm trong toàn quốc trên 230C, mỗi năm có ít nhất

1200 giờ nắng, cán cân bức xạ quanh năm dương Tổng lượng nhiệt hoạt động

xê dịch từ 8000 đến 10.0000C

- Lượng mưa trung bình hang năm bằng 1700 – 1800mm, có nơi vượt quá3000mm (tuy nhiên cũng có nơi chỉ có trên 500mm) Lượng bốc hơi: 700 –800mm Nước ta nói chung thừa ẩm

- Trong một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4trùng hợp với mùa gió Đông Bắc thịnh hành và mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đếntháng 11 trùng hợp với mùa có gió mùa từ các biển ấm thổi vào theo hướngđông nam và tây nam

HỎI: Trong lịch sử phát triển lãnh thổ Việt Nam có nói đến các mảnh nền cổ.

Vậy nền cổ là gì? Và ở nước ta có những mảng nền cổ nào?

ĐÁP: Nền là một yếu tố cấu trúc cơ bản của vỏ Trái Đất Nền cổ là một bộ phận

của lục địa trước kia được hình thành cách đây hang triệu năm Các loại đá cấutạo nên nền cổ đã bị biến chất rất mạnh, trở nên rắn chắc và không bị tác độnguốn nếp lại vào những thời kì tạo núi sau này Các hoạt động địa chất mạnhcũng chỉ có thể làm cho các nền cổ bị nứt vỡ thành từng mảng, có bộ phận được

Ngày đăng: 01/04/2019, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w