1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quyền bí mật đời tư

21 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 36,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không nhữngthế với thời đại ngày nay cái điều được gọi là “bí mật” ấy còn được phápluật tôn trọng và bảo vệ, pháp luật nâng nó lên thành một trong nhữngquyền nhân thân của con người gọi

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong cuộc sống mỗi cá nhân chúng ta đều có những điều đượcgọi là “bí mật” mà bản thân chúng ta không muốn ai biết Không nhữngthế với thời đại ngày nay cái điều được gọi là “bí mật” ấy còn được phápluật tôn trọng và bảo vệ, pháp luật nâng nó lên thành một trong nhữngquyền nhân thân của con người gọi là “quyền bí mật đời tư” Trong phápluật Việt Nam quyền bí mật đời tư được quy định cụ thể tại điều 38 của

Bộ luật dân sự 2005 Tuy nhiên, khái niệm “bí mật đời tư” và “quyền bímật đời tư” chưa được quy định một cách cụ thể nên có nhiều cách hiểukhác nhau Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, quyền tự do dân chủ càngđược mở rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu,

và do đó các quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõràng hơn cùng với các biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả

Hiện nay pháp luật đã quy định các biện pháp để bảo vệ và khôiphục các quyền nhân thân của công dân Theo đó, người xâm phạm nhânthân của người khác thì dù cố ý hay vô ý thì đều phải có nghĩa vụ chấmdứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai; nếu xâm phạm danh dựnhân phẩm, uy tín thì phải bồi thường bằng một khoản tiền bù đắp tổnthất về tinh thần cho người bi xâm phạm Nói tóm lại, quyền nhân thân

của con người đã được pháp luật quan tâm ngày càng nhiều Để góp

phần đưa ra những đóng góp hiểu biết của cá nhân về vấn đề này em xinchọn đề tài “ bí mật đời tư, quyền bí mật đời tư”

Trang 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Một số lý luận chung về bí mật đời tư, quyền bí mật đời tư.

1 Khái niệm “ bí mật đời tư”.

Theo Điều 38 Bộ luật Dân sự thì việc thu thập, công bố thông tin,

tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý Trong trườnghợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thìphải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên, hoặc người đại diệncủa người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệutheo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Tuy nhiên, thế nào là bí mật đời tư và quyền bí mật đời tư lại chưađược hướng dẫn một cách cụ thể, dẫn đến bí mật đời tư được hiểu “tùynghi”, và việc xử lý vi phạm này trong thực tế khá phức tạp Nhiềungười, lấy lý do vì bảo vệ bí mật đời tư để khước từ không cho phép bất

cứ ai được tiết lộ những thông tin về cá nhân của mình Bên cạnh đó,cũng không ít cá nhân, và cả các cơ quan báo chí lại lạm dụng việc khaithác thông tin, làm ảnh hưởng đến bí mật đời tư của người khác

Luật sư Nguyễn Thủy Nguyên, Đoàn LS Hà Nội cho rằng, hiểutheo nghĩa thông thường nhất thì bí mật đời tư là những gì gắn với quyềnnhân thân của con người, liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó khôngmuốn cho người khác biết (như thông tin về nguồn gốc, cuộc sống giađình, các mối quan hệ, hình ảnh…)

Trang 3

Những thông tin liên quan đến đời tư này chỉ có bản thân người

đó biết hoặc những người thân thích biết, và tất cả những người nàychưa từng công bố cho bất kỳ ai biết, vì điều đó sẽ gây ảnh hưởng đếncuộc sống của người bị lộ thông tin Ví dụ: Anh A bị đồng tính, chị Btừng đi nạo phá thai vì người yêu không cưới, chị C trước khi lấy chồngtừng bị tâm thần…

Tuy nhiên, nếu hiểu bí mật đời tư của công dân là tất tần tật những

gì gắn với nhân thân con người thì rất khó cho các cơ quan thông tin đạichúng, bởi gần như sự kiện gì xảy ra trong cuộc sống cũng đều xuất phát

và gắn liền với cá nhân Chưa kể, việc xem đâu là bí mật đời tư cũng tùyquan niệm từng người, với người này là bí mật, nhưng với người khác cóthể lại chỉ là chuyện bình thường Ví dụ, không ít ca sĩ “vườn” thích đưa

bí mật đời tư kiểu yêu cô này, thích anh kia, thậm chí là đi chơi, đi ăn,quen biết… với những “người nổi tiếng” để được chú ý Nhưng vớinhiều người, chuyện tình cảm và các các mối quan hệ là bí mật, thậm chí

họ sẵn sàng kiện các cơ quan đưa tin khi công khai các mối quan hệ nàycủa họ

Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “bímật đời tư” rõ ràng Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa rõ ràng về phạm

vi của khái niệm “bí mật đời tư” Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bímật được giải thích là “giữ kín, không để lộ ra, không công khai”

Trang 4

Một cách giải thích khác thì cho rằng: Bí mật “là thông tin cần chegiấu, chỉ để một số nhất định những người có liên quan được biết.Những thông tin được xác định là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối.Dưới góc độ này hay đối với một bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữkín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên khác nó có thể không cần chegiấu Tính bí mật có được do những gì chứa đựng trong thông tin đó cóliên quan đến một điều gì đó mà nếu để người không có nhiệm vụ biếtthì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu.

Bí mật thông thường được chia làm ba cấp độ, từ thấp đến cao là:Mật; Tối mật; Tuyệt mật.”

Như vậy, theo sự giải thích này thì bí mật được xác định bởi các yếu tốsau:

tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người

có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho

Trang 5

bất kỳ ai.“Bí mật đời tư”có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhânnào đó Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạngsức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín, v.v…”

Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra rằng bí mật đời tư là nhữngthông tin gắn liền với cá nhân, chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạnchế biết được Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy thì cũng chưa bao quát đượcnội hàm của khái niệm bí mật đời tư, bởi lẽ nếu hiểu bí mật đời tư lànhững thông tin “chưa từng công bố cho bất kỳ ai” thì cũng không đúng

Có trường hợp thông tin này đã được công bố nhưng bản thân người tiếpnhận thông tin phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin thì thông tin đó vẫnđược coi là “bí mật đời tư”

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật thì:

“…bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện:

1 Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảmcủa cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó Điều luậtcấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mangtính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có

2 Bí mật về đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện lànhững bí mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền vớihoạt động đó”

Trang 6

Nếu theo như Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật thì khái niệm bí mật đời

tư được bao quát trên các phương diện: “tình cảm, tinh thần” và “nghềnghiệp, vật chất” Tuy nhiên, theo cách diễn giải này thì cũng không cómột giới hạn cụ thể cho khái niệm bí mật đời tư, điều đó có nghĩa là kháiniệm bí mật đời tư có thể được khái quát theo hướng liệt kê mà khôngđược khái quát theo hướng bao quát Nếu đưa ra khái niệm bí mật đời tưtheo hướng liệt kê thì có những trường hợp việc liệt kê sẽ không đầy đủ.Mặt khác, khái niệm “bí mật đời tư” chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi vì,cùng một loại thông tin liên quan đến cá nhân nhưng với người này họcho rằng đó là “bí mật đời tư” của họ nhưng với người khác thì lại chorằng đó không phải là bí mật đời tư mà ai cũng có thể biết và việc biếtnhững thông tin đó không có gì là xâm phạm bí mật đời tư Đối với mỗingười thì việc xác định như thế nào là “bí mật đời tư” chịu ảnh hưởngcủa rất nhiều yếu tố

Thói quen sống, làm việc, phong tục tập quán…cũng là những yếu

tố ảnh hưởng tới quan niệm bí mật đời tư Mặt khác các qui định củapháp luật có liên quan cũng cần được chú ý khi chúng ta xem xét đếnkhái niệm bí mật đời tư Chẳng hạn: trong điều kiện hiện nay, việc minhbạch tài sản của cá nhân là một yếu tố mà chúng ta không thể làm được,mặc dù điều này chúng ta có thể tiến hành trong một số trường hợp cụthể (cán bộ lãnh đạo, những người giữ những trọng trách vị trí nhất địnhtrong xã hội…)

Trang 7

Tóm lại: Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận.

2 Khái niệm “ quyền bí mật đời tư”.

Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyềnnhân thân của cá nhân Việc bảo vệ quyền bí mật đời tư còn đảm bảo choviệc thực hiện một số quyền khác của cá nhân được đảm bảo triệt đểhơn

“Quyền bí mật đời tư”(The Right to Privacy), trước hết được đề

cập trong Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR): "không ai

phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy." Trong Công ước về các quyền dân sự vàchính trị năm 1996, quyền bí mật đời tư được quy định tại điều 17:

“1.Không ai bị can thiệp một cách độc đoán hoặc bất hợp pháp đến đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xúc phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín.

2 Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những sự can thiệp hoặc xúc phạm như vậy.”

Trang 8

Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyềnnhân thân của cá nhân Quyền bí mật đời tư được thừa nhận rộng rãitrong pháp luật nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam cũng khôngngoại lệ

Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên những vấn

đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bí mật,mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này Bất cứ cá nhân nào cũng

có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính

họ Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gìphức tạp bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốncủa mình Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó cònphụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan hệ với những ngườixung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen…Chúng ta

có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôntrọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựachọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân,quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…)

Xác định rõ tầm quan trọng của quyền bí mật đời tư với cá nhân,pháp luật Việt Nam cũng có những quy định nhằm bảo vệ quyền này củamỗi cá nhân Điều 73 Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân đựơc bảo đảm

an toàn bí mật Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thưtín, điện tín cảu công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo

Trang 9

quy định của pháp luật.” Cụ thể hoá quy định này của hiến pháp Bộ luậtdân sự 2005 dành riêng điều 38 quy định về quyền bí mật đời tư của cánhân

Không chỉ luật dân sự, một số ngành luật khác như luật hình sự,luật hôn nhân gia đình, luật báo chí…cũng có những quy định bảo vệquyền bí mật đời tư của cá nhân

II, quyền bí mật đời tư trong hệ thống pháp luật.

1 Một số quy định về “ bí mật đời tư” trên thế giới.

Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyềnnhân thân của cá nhân Quyền bí mật đời tư được thừa nhận rộng rãitrong pháp luật nhiều nước trên thế giới và được ghi nhận trong Tuyênngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 Cụ thể tại Điều 3 quy định

“Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân” Không

những trong tuyên ngôn toàn thế giới mà quyền bí mật đời tư còn đượcquy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và một số côngước khác của Liên Hợp Quốc Công ước quốc tế về các quyền dân sự và

chính trị 1966: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi

đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt” (Điều 19).

2 Quy định về “ quyền bí mật đời tư “ trong pháp luật Việt Nam.

Cho đến nay, Việt Nam chưa có một văn bản quy phạm pháp luậtnào điều chỉnh các hành vi liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân một

Trang 10

cách hệ thống Tuy nhiên, cùng với tiến trình hội nhập và sự phát triểnmạnh mẽ của ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trongtất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước

đã ngày càng nhận thức rõ và quan tâm hơn đến vấn đề quan trọng này.Điều này được thể hiện trong các chỉ thị của Đảng và Nhà nước, các vănbản luật được ban hành trong thời gian gần đây

Tại Chỉ thị số 27/CT-TƯ ngày 16 tháng 10 năm 2008 về lãnh đạothực hiện cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Ban Bí thưTrung ương Đảng đã yêu cầu “chú ý bảo mật thông tin theo quy định củapháp luật, nhất là bảo mật thông tin cá nhân…”

Xem xét một cách có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

có thể thấy các nội dung điều chỉnh vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân đãđược quy định ngày càng rõ hơn từ cấp độ luật đến các văn bản hướngdẫn luật Đã có quy định các hình thức xử phạt, chế tài cụ thể từ xử phạt

vi phạm hành chính, phạt tiền đến xử lý hình sự đối với các trường hợp

vi phạm nặng

Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “nghiêm cấm mọi hình thức truy bức,

nhục hình, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của công dân”.

Điều 73 Hiến pháp 1992 cũng quy định rằng: “Thư tín, điện thoại, điện

tín của công dân được đảm bảo an toàn và bí mật”.

Ở mức độ văn bản pháp luật dân sự, Bộ Luật dân sự được Quốchội thông qua tháng 6 năm 2005 đã đưa ra một số quy định nguyên tắc

Trang 11

về bảo vệ thông tin cá nhân tại Điều 31 “Quyền của cá nhân đối với

hình ảnh” và Điều 38 “Quyền bí mật đời tư” Điều 31 quy định cá nhân

có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh của cá nhânphải được người đó đồng ý và nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh củangười khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hìnhảnh Điều 38 quy định một số nội dung về quyền bí mật đời tư Theo đó,quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảovệ; việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phảiđược người đó đồng ý; thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thôngtin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật

Điều 38 Bộ luật dân sự 2005 quy định cụ thể như sau:

“1 Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật

bảo vệ.

2.Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải

được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3 Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của

cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Trang 12

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện

tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Điều 34 Bộ luật dân sự 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn:

“1 Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật tôn trọng và

bảo vệ.

2 Việc thu thập thông tin, công bố tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc nhân thân của người đó đồng ý; nếu người

đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập công

bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3 Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu hủy thư tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn cản trở đường liên lạc của người khác Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân”.

Như vậy, theo Điều luật này, bí mật đời tư được giới hạn trongphạm vi “thư tín, điện tín, điện thoại”, “đường liên lạc” Điều 38 Bộ luậtdân sự 2005 quy định quyền bí mật đời tư trong phạm vi rộng hơn, tức

bổ sung thêm “các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân” bởitrong xã hội ngày nay ngành công nghệ thông tin quá phát triển thì chỉcần một thao tác nhỏ là thông tin có thể đến với hàng triệu người chỉ

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w