1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bí mật đời tư, quyền bí mật đời tư (8 điểm nhé mọi người)

26 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 59,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điềunày phụ thuộc vào vị trí của con người, sự quan tâm của xã hội đối với con ngườitrong từng chế độ xã hội nhất định.Tuy nhiên trong thời đại công nghệ thông tinhiện nay ngày một đang

Trang 1

MỞ BÀI

Trong tiến trình lịch sử phát triển của xã hội loài người, quyền con người nóichung và quyền công dân nói riêng là những vấn đề có lịch sử lâu đời cả vềphương diện lí luận cũng như thực tiễn Quyền BMĐTcũng cần phải được tôntrọng và thừa nhận Pháp luật dân sự là công cụ để thực hiện quyền dân sự củacông dân Tuy nhiên lịch sử phát triển của pháp luật dân sự cho thấy trong thờigian qua quyền BMĐT của cá nhân chiếm một vị trí không đáng kể trong sự điềuchỉnh của pháp luật dân sự, hầu như bị các vấn đề về tài sản làm u mờ, lấn át Điềunày phụ thuộc vào vị trí của con người, sự quan tâm của xã hội đối với con ngườitrong từng chế độ xã hội nhất định.Tuy nhiên trong thời đại công nghệ thông tinhiện nay ngày một đang phát triển mạnh và lôi kéo cùng với nó là quyền thư tínBMĐT bị xâm phạm ngày càng nhiều.Vì lẽ đó việc nghiên cứu vấn đề BMĐT,quyền BMĐT của cá nhân là một vấn đề rất cần thiết và hiếu ích, từ đó đưa ranhững phương án, giải pháp để bảo vệ BMĐT, quyền BMĐT cũng như hoàn thiệnpháp luật về quyền BMĐT nhằm đảm bảo hơn công bằng văn minh xã hội Để làm

rõ vấn đề này sau đây em xin chọn đề tài: “Bí mật đời tư, quyền bí mật đời tư” để

làm bài luận của mình

NỘI DUNGI) KHÁI NIỆM BÍ MẬT ĐỜI TƯ , QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ

1) Khái niệm bí mật đời tư

Thực tế hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “bí mậtđời tư” rõ ràng Liệu những thông tin được lấy phiên tòa công khai có được coi làxâm phạm BMĐT không? Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa rõ ràng về phạm vicủa khái niệm “bí mật đời tư” Đây chính là một trong những hạn chế lớn nhất của

Trang 2

pháp luật về vấn đề này BLDS năm 2005 cũng không đưa ra khái niệm “bí mật đờitư” mà chỉ ghi nhận quyền bí mật đời tư Đây chính là một trong những khó khănkhi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyếtcác tranh chấp liên quan đến “bí mật đời tư” Vậy, bí mật đời tư là gì ? Có rấtnhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến khái niệm BMĐT Trước khi đưa raquan điểm trong việc xác định thế nào là bí mật đời tư, xin trích dẫn một số quanđiểm xung quanh vấn đề này

Thứ nhất, Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bí mật được giải thích là “giữ kín,

không để lộ ra, không công khai” Một cách giải thích khác thì cho rằng: Bí mật

“là thông tin cần che giấu, chỉ để một số nhất định những người có liên quan được biết Những thông tin được xác định là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối Dưới góc độ này hay đối với một bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữ kín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên khác nó có thể không cần che giấu Tính bí mật có được

do những gì chứa đựng trong thông tin đó có liên quan đến một điều gì đó mà nếu

để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu Bí mật thông thường được chia làm ba cấp độ, từ thấp đến cao là: Mật; Tối mật; Tuyệt mật.” Như vậy, theo sự giải thích này thì bí mật được xác

định bởi các yếu tố sau: Bí mật là những “thông tin”; Những “thông tin” này đượcche giấu bằng những biện pháp, cách thức khác nhau; Những “thông tin” được coi

là bí mật này nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởngxấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu thông tin Tuy nhiên, quan điểm này cũngcho rằng những “thông tin” được coi là bí mật cũng chỉ mang tính tương đối Mặtkhác, ngoài những thông tin liên quan đến cá nhân, theo BLDS 2005 thì còn cónhững tư liệu Nếu đặt trong mối liên hệ đối với quyền BMĐT , thì thông tin có thểđược hiểu bao hàm cả yếu tố tư liệu

Thứ hai, Luật sư Nguyễn Thủy Nguyên, Đoàn LS Hà Nội cho rằng, hiểu theo

nghĩa thông thường nhất thì BMĐT là những gì gắn với quyền nhân thân của con

Trang 3

người, liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết (nhưthông tin về nguồn gốc, cuộc sống gia đình, các mối quan hệ, hình ảnh…).

Thứ ba, Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật thì: “…bí mật đời tư của cá nhân được

hiểu trên hai phương diện: 1 Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảm của cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó Điều luật cấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có 2 Bí mật về đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện là những bí mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền với hoạt động đó.” Nếu theo như Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật thì

khái niệm BMĐT được bao quát trên các phương diện: “tình cảm, tinh thần” và

“nghề nghiệp, vật chất” Tuy nhiên, theo cách diễn giải này thì cũng không có mộtgiới hạn cụ thể cho khái niệm BMĐT, điều đó có nghĩa là khái niệm BMĐT có thểđược khái quát theo hướng liệt kê mà không được khái quát theo hướng bao quát.Nếu đưa ra khái niệm BMĐT theo hướng liệt kê thì có những trường hợp việc liệt

kê sẽ không đầy đủ Mặt khác, khái niệm “bí mật đời tư” chỉ có ý nghĩa tương đối.Bởi vì, cùng một loại thông tin liên quan đến cá nhân nhưng với người này họ chorằng đó là “bí mật đời tư” của họ nhưng với người khác thì lại cho rằng đó khôngphải là BMĐT mà ai cũng có thể biết và việc biết những thông tin đó không có gì

là xâm phạm BMĐT Đối với mỗi người thì việc xác định như thế nào là “bí mậtđời tư” chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Thói quen sống, làm việc, phong tụctập quán…cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới quan niệm BMĐT

Việc xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai kháiniệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và kháiniệm “đời tư” Khái niệm “bí mật” được hiểu “giữ kín, không để lộ ra, không côngkhai” Như vậy, việc giữ kín, không công khai xét trong nội dung đang nghiên cứuliên quan đến các thông tin và đó là những thông tin không bộc lộ công khai Tấtnhiên, những thông tin này chỉ có người nắm giữ bí mật hoặc người liên quan bí

Trang 4

mật này được biết đến Tính “bí mật” này có thể được xác định theo các tiêu chí cụthể như: Bản thân thông tin đó đã mang tính bí mật Việc xác định thông tin mangtính bí mật có thể dựa vào bản chất của thông tin, có thể xác định theo qui định củapháp luật (thư tín, điện thoại, tình trạng bệnh tật… – những thông tin này đã có vănbản pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành xác định rõ đó là bímật mà không được tiết lộ hoặc xâm phạm) Người nắm giữ thông tin có thể đã ápdụng mọi biện pháp để bảo mật như khoá, cài đặt mã số bảo vệ, hoặc áp dụng mọibiện pháp bảo vệ khác Giữa “chủ sở hữu thông tin bí mật” với cơ quan, tổ chức, cánhân khác đã có sự thoả thuận về nghĩa vụ giữ bí mật.

Ví dụ: Anh H đến nhờ Văn phòng luật sư X tư vấn pháp luật liên quan đếnviệc ly hôn của anh Giữa H và Văn phòng luật sư X có ký hợp đồng dịch vụ trongviệc tư vấn, theo hợp đồng này thì Văn phòng có nghĩa vụ “giữ bí mật các thôngtin của H khi H cung cấp cho Văn phòng luật sư X” Tuy nhiên, chúng ta sẽ khôngcoi là “bí mật” nếu những thông tin đó xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích côngcộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Trong trường hợp nàynếu biết mà không báo với cơ quan có thẩm quyền thì sẽ bị coi là bao chê cho tộiphạm có thể bị đưa ra truy tố tùy mức độ nghiêm trọng của việc đó Trong trườnghợp này việc tiết lộ thông tin sẽ không bị coi là “xâm phạm bí mật đời tư”

Thứ tư, Trong luận án tiến sĩ về “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật

dân sự Việt Nam”, Tiến sĩ Lê Đình Nghị có định nghĩa về khái niệm “bí mật đời tư như sau: “Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin

đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận” Như vậy, có thể

thấy hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về cách định nghĩa khái niệm bí mậtđời tư

Trang 5

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm “bí mật đời tư” là nhữngthông tin ,tài liệu liên quan tới bí mật mật thần kín cá nhân mà bản thân cá nhân đómuốn giữ bí mật thần kín không muốn để cho người khác được biết

Hoặc có thể định nghĩa khái niệm BMĐT như sau: “Bí mật đời tư là những

thông tin cá nhân của một người ở quá khứ và hiện tại mà không phải là hành vitrái pháp luật, chưa được công bố công khai lần nào mà bản thân người đó muốnlãng quên, không muốn người khác nhắc đến và một khi bị người khác xâm phạm

sẽ gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của họ, ảnh hưởng đến danh dự nhânphẩm của người đó,…”

2) Quyền bí mật đời tư trong pháp luật.

Quyền BMĐT là quyền cơ bản trong hệ thống các quyền nhân thân của cánhân

Trên thế giới: Quyền BMĐT được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật nhiều

nước trên thế giới và được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

năm 1948 Cụ thể tại Điều 3 quy định “Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân” v à Điều cũng ghi nhận: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín của cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại can thiệp và xâm phạm như vậy” Không những trong tuyên ngôn toàn

thế giới mà quyền bí mật đời tư còn được quy định trong Công ước quốc tế về cácquyền dân sự và một số công ước khác của Liên Hợp Quốc Công ước quốc tế về

các quyền dân sự và chính trị 1966: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt” (Điều 19)

và quyền bí mật đời tư cũngđược quy định tại điều 17:“1.Không ai bị can thiệp một cách độc đoán hoặc bất hợp pháp đến đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xúc phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín; 2 Mọi người đều có

Trang 6

quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những sự can thiệp hoặc xúc phạm như vậy.”

Ở Việt Nam: Hiến pháp năm 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta

đã quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dân Việt Nam Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” (Điều 11).

Đến Hiến Pháp 1992 cũn nhấn mạnh: “nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của công dân”.( Điều 71 Hiến pháp 1992)

;Điều 73 Hiến pháp 1992 cũng quy định : “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được đảm bảo an toàn và bí mật” quyền này được ghi nhận trong bộ luật dân

sự Việt Nam: Điều 34 Bộ luật dân sự 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn: “1 Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ 2 Việc thu thập thông tin, công bố tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc nhân thân của người đó đồng ý; nếu người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân

sự, trừ trường hợp thu thập công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật 3 Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu hủy thư tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn cản trở đường liên lạc của người

khác Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ

quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân”

So với quy định về quyền BMĐT được quy định trong BLDS 1995 (cụ thể tại Điều34) thì BLDS 2005 (cụ thể Điều 38) đã bổ sung thêm 2 chi tiết mới:

+ Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu của người chưa đủ mười lăm tuổi phảiđược cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng

ý

Trang 7

+ Tại khoản 3 Điều 34 BLDS 1995 chỉ đề cập đến 3 hình thức là thư tín, điện tín,điện thoại Như vậy là không phù hợp Vì thế BLDS 2005 đã bổ sung thêm “cáchình thức thông tin điện tử khác” để phù hợp với thực tiễn hơn.

Như vậy, theo Điều 34 BLDS năm 1995 thì bí mật đời tư được giới hạn trong

phạm vi “thư tín, điện tín, điện thoại”, “đường liên lạc” Điều 38 Bộ luật dân sự

2005 quy định quyền BMĐT trong phạm vi rộng hơn, tức bổ sung thêm “các hìnhthức thông tin điện tử khác của cá nhân” bởi trong xã hội ngày nay ngành côngnghệ thông tin quá phát triển thì chỉ cần một thao tác nhỏ là thông tin có thể đếnvới hàng triệu người chỉ trong vài giây Sự vi phạm quyền con người cũng trở nên

dễ dàng hơn, đặc biệt các quyền liên quan đến bí mật đời tư, bí mật thư tín, danh

dự, nhân phẩm, tài sản, quyền tác giả…Hơn nữa, lại rất khó khăn phát hiện người

vi phạm pháp luật thông qua mạng toàn cầu Sự kích động nhằm mục đích xấu(khủng bố, bạo lực, phân biệt chủng tộc ) trở nên nguy hiểm hơn cho xã hội do cótính lây lan rất nhanh Còn nội dung khác vẫn giữ nguyên theo tinh thần của bộ luật

dân sự 1995 Điều 38 Bộ luật dân sự 2005 quy định cụ thể như sau: “1 Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ 2 Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 3 Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

“Quyền bí mật đời tư” cũng không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư”(The Right to Privacy) Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên

Trang 8

những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bímật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này Bất cứ cá nhân nào cũng có sự

tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ Lẽ dĩ nhiên,nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp bởi không ai có thểbắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình Ngược lại, nếu là sự tự dotrong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan

hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen…Qua những phân tích trên đây, để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phảixây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”

II) CÁC CĂN CỨ ĐỂ XÁC ĐỊNH BÍ MẬT ĐỜI TƯ VÀ XÂM PHẠMQUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ

1) Căn cứ xác để xác định một thông tin, tài liệu là thuộc bí mật đời tư

1 Thông tin, tài liệu đó phải nói về thuần túy cuộc sống riêng tư thần kín của cánhân;

2 Những thông tin ,tài liệu này không bắt buộc phải công khai cho mọi ngườibiết ;

3 Việc giấu kín những thông tin , tài liệu này không làm ảnh hưởng đến lợi íchcủa Nhà nước,của xã hội và của cá nhân khác

2) Căn cứ để xác định người làm lộ bí mật đời tư của người khác phải chịu trách nhiệm dân sự.

Người có hành vi làm lộ BMĐT của người khác phải chịu trách nhiệm dân sựkhi có đủ 4 điều kiện:

1 Có hành vi làm lộ bí mật đời tư trái với ý chí của người có bí mật đời tư

Trang 9

2 Có hậu quả là sự giảm sút về uy tín, danh dự, nhân phẩm của người đó

3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cố ý làm lộ đời tư của một người vớinhững sự tổn hại về uy tín, nhân phẩm của người có đời tư

4 Người làm lộ bí mật đời tư của người khác có lỗi cố ý đối với hành vi làm lộ

Vì tính chất nghiêm trọng nên nhiều khi người làm lộ BMĐTcủa người kháccòn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh “Tội xâm phạm bí mậthoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác”

Trên thực tế đã từng xảy ra một tình huống như sau: Một người đàn ông kiệnNhà xuất bản (NXB) vì đã cho xuất bản một tờ báo trong đó tường thuật lời khaicủa ông tại phiên xử ly hôn tại Toà, có nhiều chi tiết liên quan đời sống riêng tưcủa ông và cho rằng nó đã làm ảnh hưởng đến công việc làm ăn của ông Theongười này NXB tờ báo đã vi phạm Điều 38 BLDS 2005 Vậy phải giải quyết vụviệc trên như thế nào?

Đúng là theo khoản 2 Điều 38 BLDS 2005 thì “Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý”, tuy nhiên trong tình

huống ở trên thì NXB không xâm phạm đến bí mật đời tư vì: Những gì người đànông nói tại Toà không còn là BMĐTnữa vì nó đã được chính ông công khai hoá Ởđây là phiên toà xử công khai, ai cũng có thể tham dự Về mặt pháp lý là như vậy,tuy nhiên trên thực tế, để tránh gây sự phiền toái thì tờ báo không nên ghi tên thật

và địa chỉ của đương sự

Trang 10

III) HẬU QUẢ CỦA VIỆC LÀM LỘ BÍ MẬT ĐỜI TƯ CỦA NGƯỜI KHÁC

1) Hậu quả của việc làm lộ bí mật đời tư của người khác

BMĐT được coi là quyền cơ bản của con người nhưng hiện nay vấn đề nàychưa được quan tâm thích đáng Trong lúc đó, việc xâm phạm BMĐT thường đểlại những hậu quả đáng buồn

Việc làm lộ BMĐT của người khác có thể khiến người bị hại rơi vào hoàncảnh bi quan, thiếu tự tin hay thậm chí là tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, bị ngườikhác khinh rẻ, làm đảo lộn cuộc sống, ảnh hưởng nghiêm trọng đến học tập và laođộng Thận trí còn gây thiệt hại về kinh tế, phá tan vỡ hạnh phúc gia đình , làm mất

đi cơ hộ và tương lai của biết bao người … bởi lẽ vậy là vì “mất tiền là mất ít, mấtdanh dự là mất tất cả”

Điển hình là vụ chị L sinh viên một trường Trung cấp Y tại Sơn La đã tự tửsau thời điểm những hình ảnh nhạy cảm riêng tư với bạn trai bị người cùng xómtrọ bí mật quay trộm và phát tán trên mạng Tuy được phát hiện kịp thời và đượccứu sống song trước những búa rìu dư luận, L không đủ can đảm quay lại giảngđường và phải xin bảo lưu kết quả học tập

Nhưng có lẽ các thông tin đời tư của những người có vị trí xã hội, nổi tiếng hoặcgiàu có mới thực sự là chủ đề được dư luận quan tâm Không ít người bị điêuđứng

2) Quyền bí mật đời tư – vấn đề nóng trên thực tế.

Hiện nay, ta có thể dễ dàng bắt gặp những chuyện nhạy cảm của nhữngngười nổi tiếng: Ca sĩ X “không chồng mà có con”, Doanh nhân A ngoại tình, Clipsex của diễn viên L,… trên báo, trên Internet,… Những vấn đề này được đưa rabàn tán, nhận định tràn lan trên các phương tiện thông tin mà chưa biết sự thật cụthể là như thế nào Sự thật như thế nào thì chưa biết nhưng cái có thể thấy trước

Trang 11

mắt là tác giả của những bài viết này đã vi phạm nghiêm trọng quyền BMĐTcủangười khác, trừ phi họ cho phép (nhưng có lẽ chẳng ai cho phép người ta bôi nhọnhân phẩm của mình như vậy)

Thế nhưng có một số người cho rằng những chuyện như vậy là nên có trongđời sống hiện đại, nó góp phần không nhỏ vào sự thu hút của tờ báo Những người

có ý kiến như vậy sao không thử đặt mình vào vị trí của những người bị xâm phạmđời tư kia

Theo Điều 38 BLDS 2005 thì cho dù là thông tin có lợi cho cá nhân thì khithu thập, công bố cũng phải có sự đồng ý của người đó, trong trường hợp người đó

đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ,

vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý Chẳng hạnnhư việc thu thập, công bố đời tư, cuộc đời, sự nghiệp của cố nhạc sĩ Trịnh CôngSơn thì phải có sự đồng ý của vợ, con nhạc sĩ này

Để hiểu rõ hơn về những quy định tại Điều 38 BLDS 2005, tôi xin đưa ra 2 tìnhhuống như sau:

Thứ nhất: François Hollande (Tổng thống Pháp) đến Việt Nam trong một chuyến

thăm cấp Nhà nước Phóng viên chụp ảnh ông và đăng lên báo Vậy phóng viên cóphải xin phép ông hay không?

Thứ hai: François Hollande (Tổng thống Pháp) đi nghỉ hè cùng một cô gái ở

Hawaii Phóng viên chụp ảnh ông và đăng lên báo Vậy phóng viên có phải xinphép ông hay không?

Đây là 2 tình huống có vẻ tương tự nhau nhưng về bản chất thì là khác nhau.Trong tình huống thứ nhất, phóng viên không phải xin phép ông vì đây là tin tứcthời sự hợp pháp Còn tình huống thứ hai, rõ ràng phóng viên phải xin phép ông vìđây là vấn đề đời tư của ông

Trang 12

Một vấn đề đang gây nhiều tranh cãi hiện nay là: Quyền BMĐT và quyềnđược thông tin của cá nhân có xung đột nhau không? Thoạt nhìn ta có cảm giác haiquyền này mâu thuẫn nhau nhưng nếu phân tích kĩ thì không phải như vậy, bởi:

- Công dân có quyền thông tin với những thông tin không phải có được từ sự

“soi mói” bất hợp pháp đời tư của người khác, mà là những thông tin tin tức thời

sự, kiến thức xã hội, văn hoá, pháp luật và rất nhiều các lĩnh vực khác của đờisống Như vậy quyền được thông tin của công dân không có nghĩa là công dânđược biết tất cả mọi thứ kể cả chuyện đời tư của người khác

- Những thông tin thuộc BMĐT của cá nhân là những thông tin về cuộc sốngriêng tư thầm kín của họ, không bắt buộc phải công khai cho mọi người biết vì việcgiấu kín những thông tin này không ảnh hưởng tới lợi ích của Nhà nước, của xã hội

và của cá nhân khác Do vậy, nó không phải là đối tượng của quyền được thông tincủa cá nhân

3) Quyền bí mật đời tư và quyền thông tin của báo chí đến đâu

Nghề báo – một nghề rất quan trọng trong xã hội hiện đại – với chức năngchính là thông tin luôn gần gũi, bám sát thực tế để đem lại những thông tin thời sựchính xác, kịp thời cho mọi người Thế nhưng chức năng đó của báo chí đã bị biếntướng đi trong xã hội ngày nay bởi báo chí có vẻ như ngày càng “khoái” tìm hiểuđời tư người khác một cách bất hợp pháp, nhất là đời tư của những người nổi tiếngmiễn là có thể thu hút độc giả Tôi không nói tất cả mà một bộ phận không nhỏ các

tờ báo hiện nay Sau đây là một số dẫn chứng:

- Cách đây không lâu, ca sĩ Hồ Ngọc Hà đã kiện báo Vietnamnet vì đã xâmphạm nghiêm trọng đời tư của cô Bài báo trên giật tiêu đề rất “nóng” mà nghexong thì ai cũng tò mò – “Các chuyên gia “mổ xẻ” bụng bầu của Hà Hồ”

Trang 13

- Cách đây vài năm, ca sĩ Thái Thuỳ Linh khiếu nại một tạp chí vì đã đưa đời

tư của cô lên báo mà không xin phép Tạp chí này đã lén lút chụp ảnh cô ca sĩ nàyđang bồng con (biết rằng Thuỳ Linh chưa làm đám cưới) để minh hoạ cho bài viết

về việc các ca sĩ tạo scandal như thế nào để nhanh nổi tiếng

Còn rất rất nhiều những vụ xâm phạm đời tư những người nổi tiếng khác mà

ta có thể gặp hàng tuần trên các báo viết, báo mạng và tất nhiên không loại trừnhững phương tiện thông tin khác Đấy là chưa kể những vụ đã công bố thông tinđời tư người khác mà không xin phép nhưng người bị hại không muốn lên tiếng đểbớt lời và cũng để khỏi tổn thất danh dự hơn nữa vì càng nhiều người biết thì càngnghiêm trọng

Theo Điều 38 BLDS 2005 thì cho dù là nhà báo khi thu thập, công bố thôngtin đời tư người khác cũng phải được sự đồng ý của người đó Như vậy những vụviệc mà báo đăng tin đời tư người khác nhưng nếu không xin phép người đó thì bịcoi là vi phạm pháp luật Người bị hại có thể yêu cầu báo cải chính thông tin, xinlỗi và bồi thường thiệt hại, thậm chí những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng thìngười vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 125 Bộ luật Hình

sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS)

Tới đây ta đặt câu hỏi là liệu những vụ vi phạm đời tư của báo chí có phải là

do họ không biết đến quy định này của pháp luật hay không? Xin thưa rằng đây chỉ

là lời nguỵ biện vì “Quyền bí mật đời tư” là điều tối thiểu nhất mà một người làmbáo phải biết; hơn nữa, họ nắm rất vững Luật báo chí, mà trong Luật báo chí thìđiều này được quy định rất rõ ràng Theo khoản 2 Điều 15 Luật Báo chí, nhà báo

có nghĩa vụ: “d) Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; đ) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w