Sơ lược quá trình hình thành và phát triển các tôn giáo trên thế giới. Đây là bộ tài liệu gồm 67 trang, nội dung trình bày khái niệm về tôn giáo, sự hình thành, quá trình phát triển và tư tưởng chính của một số tôn giáo trên thế giới. Được chọn lọc và soạn lại bởi Trần Quốc Thị Thanh Thủy.
Trang 1Tìm hiểu sơ lược các tôn giáo trên Thế Giới
Trang 2- Tín ngưỡng mang tính dân gian nhiều hơn tôn giáo.
- Không có hệ thống chặt chẽ bằng tôn giáo.
- Không có hệ thống điều hành, nếu có thì cũng lẻ tẻ rời rạc.
- Chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có truyền thuyết, huyền thoại, thần tích.
+ Tôn giáo
● Từ “tôn giáo” xuất phát từ tiếng La-tinh: religio _ tiếng anh: religion.
● Mang tính dân tộc, hệ thống tổ chức, lý luận chặt chẽ
● Ý nghĩa là “tôn trọng những điều linh thiêng” ; “ tôn kính thần linh” ; “bổn phận-sự gắn kết của con người với thần linh”.
● Có thể được hiểu là niềm tin vào một sức mạnh siêu nhiên mà con người và mọi vật có mặt trên thế giới.
● Ý niệm cơ bản của tôn giáo về thế giới gồm hai phần:
- Linh thiêng ( Như những nhân vật với quyền năng chi phối vạn vật, vùng đất của những nhân quyền năng ).
- Trần tục ( Con người và nơi con người sinh sống ).
● Liên hệ giữa hai phần này là trước khi được sinh ra để sống, sự sống, quá trình sống, cái chết, sau khi chết cùng các đấng siêu nhiên cai quản.
→ Do sự linh thiêng với nhiều quyền năng “ban cho”, “tước đoạt” và “trừng phạt” ←
→ nên con người cưng kính sùng bái và dùng những lời nói, vật phẩm thông qưa nghi lê$ ←
→ để dâng lên đấng siêu nhiên nhằm bày tỏ tấm lòng ←
→ cùng sự cầu xin ban phước ; đó là cơ sở của tôn giáo ←
● Từ đó giải thích tất cả những gì xảy ra mà con người chưa thể nắm bắt được trong thế giới tự nhiên biến đổi vô thường, nguồn gốc của con người? của vũ trụ? vì sao lại là như thế này mà không phải là như thế kia? sự liên hệ giữa con người với vũ trụ? ý nghĩa của tất cả sự tồn tại là gì?.v.v
● Chính vì chiêm nghiệm về nhân sinh, vạn vật như vậy nên tư tưởng tôn giáo thường mang đầy tính triết học.
● Số lượng tôn giáo từng xuất hiện trong chiều dài lịch sử loài người là vô số với hình thức và quan điểm
tư tưởng phong phú có khi dung hòa, hợp lại với nhau hay phân tách do xuất hiện niềm tin khác có khi bất đồng, đối chọi với nhau.
● Nhưng ngày nay chỉ còn một số ít tôn giáo tồn tại và phát triển.
● Đôi lúc tập thể đó không nhận thức hoặc không thừa nhận đó là tôn giáo nơi tôn giáo của họ thì lúc này, khái quát rộng hơn, tôn giáo được hiểu là “tổ chức tôn giáo”, một tập thể gồm nhiều cá nhân cùng ủng hộ niềm tin vào một quan điểm ( niềm tin tối thượng ).
● Tôn giáo chỉ là cách suy niệm của những người không có tôn giáo bao phủ thực tại nơi những người
có tôn giáo.
● Định nghĩa theo chức năng bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào có phong tục nào có chức năng đề cập đến con người, đạo đức, cái chết, thần linh ( nếu có ) Tức là bao gồm tất ca những hệ thống vô thần, đơn thần, đa thần và những hệ thống không đề cập đến vấn đề này vì không có bằng chứng.
● Định nghĩa theo lối hình thể: các tôn giáo xác định những điều không thể quan sát bằng cách của khoa
Trang 3học và chỉ dựa vào chức trách hay kinh nghiệm với thần thánh Cách định nghĩa này về tôn giáo hẹp hơn với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quan, thuyết bất khả tri vì những hệ thống này không dựa vào chức trách hay kinh nghiệm nhưng dựa vào cách hiểu theo khoa học.
● Định nghĩa theo lối theo chứng cớ vật chất, định nghĩa tôn giáo là những tín ngưỡng về nhân quả mà Occam's Razor loại trừ vì chúng chấp nhận những nguyên nhân quá phức tạp để giải thích những chứng cớ vật chất Theo nghĩa này, những hệ thống không phải là tôn giáo là những hệ thống không tin tưởng vào những nguyên nhân phức tạp hơn cần thiết để giải thích những chứng cớ vật chất Những người theo quan điểm này tự xưng là "bất tôn giáo", nhưng cũng có người tôn giáo nhìn nhận rằng "tín ngưỡng" và "khoa học" là hai cách hoàn toàn khác nhau để đi đến chân lý Quan điểm này
bị bác bỏ bởi những người xem rằng những giải thích siêu hình là cần thiết để giải thích các hiện tượng tự nhiên một cách căn bản.
● Định nghĩa theo lối tổ chức, định nghĩa tôn giáo là các hội đoàn, tín ngưỡng, tổ chức, phong tục, và luật đạo đức chính thức của tất cả các tôn giáo chính có tổ chức Nghĩa này đặt "tôn giáo" vào một vị trí trái ngược với "tinh thần", cho nên không bao gồm những luận điệu của "tinh thần" về việc tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh Tuy nhiên, trong nghĩa này tôn giáo và tinh thần không cần phải "được cái này mất cái kia": một người sùng đạo có thể có tinh thần hay không tinh thần, và một người có tinh thần có thể có hay không sùng đạo Theo tương tự, ta có thể xem "tôn giáo" như là than, củi, hay xăng, và "tinh thần" là ngọn lửa.
Lịch sử
+ Niềm tin vào cuộc sống sau khi chết xuất hiện trong suy nghĩ của loài người từ những thời kì cổ xưa và hành động chôn cất đồ tùy táng cùng người chết thì cách đây khoảng 40.000 năm trước, đó là biểu hiện cho việc tin vào tôn giáo và tham gia vào các nghi lễ tôn giáo.
+ Vào thời kì săn bắn hái lượm, con người với nhận thức còn non nớt phải đối mặt với những thất thường của
tự nhiên khiến họ hoang mang lo sợ không tìm hiểu được nguyên nhân, vậy nên đã hình thành những suy nghĩ về các thế lực vô hình đầy quyền năng có thể điều khiển sự thay đổi của tự nhiên.
● Biển cả, núi, sông, cây cối.v.v tất cả đều có sức mạnh mà con người không nhìn thấy được.
→ Thường được gọi là thuyết vật linh ←
● Xã hội săn bắn hái lượm chưa có tổ chức phức tạp nên đời sống tôn giáo chủ yếu tồn tại trong gia đình.
● Địa vị pháp sư ( Shaman ) được trao một người như lãnh tụ của tôn giáo nhưng việc làm này không chiếm toàn bộ thời gian của người đó.
+ Giai đoạn chăn nuôi trồng trọt, niềm tin vào thần thánh dần được phát triển, hệ thống văn hóa đạo đức được ủng hộ bằng việc công nhận thần thánh đồng thời tôn giáo tôn giáo vượt quakhỏi phạm vị gia đình, gắn vào
xã hội, chính trị, lãnh tụ ( thường được xem là vua và tăng lữ như các Pharaoh Ai Cập ).
+ Trước cách mạng công nghiệp, tôn giáo đã rất phát triển và là nền tảng quan trọng của thể chế xã hội ở khắp các lục địa Thời gian này các tôn giáo cũng nảy sinh nhiều xung đột với nhau như:
● Kitô giáo với Hồi giáo qua các cuộc Thập Tự Chinh.
● Ấn Độ giáo và Phật giáo ở thế kỷ 13.
+ Từ khi cách mạng công nghiệp nổ ra, tiến bộ của khoa học kỹ thuật khiến cho ảnh hưởng tôn giáo không được mạnh mẽ như trước, tôn giáo dần tách biệt khỏi nhà nước Làn sống khoa học thay đổi nhiều thứ trong cuộc sống như con người không còn quá dựa dẫm vào tôn giáo.
Đặc điểm chung trong tư tưởng
+ Thượng đế: tính siêu việt hay bản chất của tồn tại hay cái được loài người nhận thức là tồn tại trong mối quan
hệ tương quan với con người.
Trang 4+ Con người: đạo đức, cách cư xử, niềm tin v.v.
+ Tạo hóa: những tín ngưỡng về nguồn gốc của vũ trụ, trái đất, sự sống, nhân loại.
+ Thần thánh: tín ngưỡng về sự tồn tại hoặc không tồn tại cùng bản chất của những gì linh thiêng siêu phàm thần thánh, ông trời.
+ Tin và tìm nhiều cách thức liên lạc với bậc siêu nhiên, với những linh hồn của tự nhiên hay của con người sau khi chết.
+ Những cách để nhận dạng và ca ngợi những gì tốt đẹp hay khừ khử đẩy lùi thứ xấu xa hay kể về những kinh nghiệm thu được từ những tìm tòi qua những kinh kệ thần chú, ca tụng.
+ Truy tìm nguồn gốc mục đích của cuộc sống, mục tiêu trong cuộc đời.
+ Tìm ra cơ cấu đạo lý của đạo đức, khái niệm để phân biệt thiện ác, tốt xấu…
+ Chỉ ra ranh giới giữa nhu cầu và dục vọng.
+ Niềm tin vào những cõi sau khi chết như thiêng đàng, địa ngục, niết bàn và cách hay lý do vì sao vào cõi ấy… + Các tôn giáo đều có câu trả lời khác nhau cho những điều trên.
Những điểm tương đồng trong tục lệ
+ Cầu nguyện.
+ Thờ phụng.
+ Họp mặt thường niên với những người cùng giáo.
+ Những người trông coi hoặc lãnh đạo tôn giáo.
+ Nghi lễ cúng bái.
+ Kinh sách truyền bá tư tưởng triết lý, đạo đức và những giáo luật.
+ Tín đồ tin vào duy trì việc học và làm theo giáo luật và giáo lý.
Trang 5● Ấn Độ Giáo ( Hindu hay Hinduism )
+ Có khái niệm Thượng Đế, tôn xưng các Vị Thần ( Thần Thể ), bậc Đạo Sư, pho Thánh Điển, nghi lễ, phương pháp tu tập và tư tưởng hệ thần học khác nhau.
+ Từ những cuộc khảo cổ các di tích thu được một số hiện vật như những con ấn bằng đá ở Steatite khắc những
vị Thần Cây, có thể là tiền thân của sa.Raksasa ( La Sát ) và sa.Raksasi ( La Sát Nữ ) ; một Thần Thể ở tư thế ngồi của một hành giả Du Già ( có thể nguồn gốc của Du Già bắt nguồn từ văn minh Indus ) ; Thần Thể ngồi giữa đám thú được đặt là sa.Pasupati ( Thú Chủ, Chúa Tể loài cầm thú ) hoặc có thể là Sai tiền thân của Thần sa.Siva ( Thần Thấp-bà ) ; hình tượng được xem là sa.Linga, en.phallus ( Dương vật dựng đứng của Thấp bà hay chỉ là sợi thắt lưng lỏng vì những Thần Thể này mang trang vật trên cánh tay nên chưa phân biệt được nam thần hay nữ thần ) ; tượng các phụ nữ bằng đất nung có lẽ là những vị Thiên Mẫu v.v và nhất trí ở thành phần nền văn hóa của Indus vẫn tồn tại theo hướng được hấp thụ bởi những tôn giáo cổ điển khác ở Ấn
● Tân Ấn Độ Giáo.
+ Có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các tôn giáo khác, được pháp luật Ấn quy vào Ấn Độ Giáo nhưng thế giới thì công nhận là tôn giáo độc lập như:
● Sikh Giáo ( en.Sikhism ).
● Jaina Giáo ( sa.Jaina, en.Jainism / Jinism ).
● Phật Giáo.
Trang 6- Vedic Religion ( Ấn Giáo Phệ Đà / Vệ Đà )
Nguồn gốc:
+ Tầm 35 thế kỷ trước, bộ tộc du mục từ vùng Âu - Ấn là Aryen đang mở mang và xâm chiếm các vùng lãnh thổ ở Tây Bắc Ấn và lan rộng đến hầu hết bán đảo Ấn Độ Dùng Vệ Đà phát triển thành một tôn giáo là Brahmana ( Bà-la-môn ) và phân hóa xã hội thành bốn giai cấp chính:
● Bậc 1: Chủng tộc Brahmana ( Bà-la-môn ) là các bậc tăng lữ, đạo sĩ học hành uyên bác, giới hạnh đoan nghiêm; Văn hóa học thuật của dân tộc đều nằm trong tay các vị ở bậc này Có thể xem là giai cấp thống trị.
● Bậc 2: Chủng tộc Ksatriya ( Sát-đế-lỵ ) là các nòi giống vua chúa.
● Bậc 3: Chủng tộc Vaisya ( Phệ-xá ) là thường dân, thương buôn.
● Bậc 4: Chủng tộc Soudra ( Thủ-đà-la ) là nô lệ.
● Còn 1 chủng tộc nữa là Pariahs ( Ba-ly-a ) những dân tộc man rợ.
+ Đây có thể được xem là tôn giáo cổ nhất Ấn Độ với Thánh Điển còn lưu truyền lại đến nay.
+ Có nhiều điểm tương đồng với tôn giáo cổ ở Iran.
+ Qua tên của các Vị Thần ta thấy được mối liên quan với các tôn giáo La Mã, Hy Lạp và Điều Đốn ( Người Đức thời xưa ).
+ Tín đồ Phệ-đà Giáo thường là những bộ tộc bán du mục, du nhập Ấn Độ từ miền Tây và Tây Bắc trong khoảng thời gian 1700 - 1200 TCN qua nhiều đợt, họ tự gọi mình là sa.Arya / de.Arier / en.Aryan ( Nhã-lợi-an ).
+ Trong 1 văn bản hợp đồng của Mitanni, một đế quốc Ấn - Ba Tư phía Bắc khu vực Lưỡng Hà, đã tìm thấy tên của các Vị Thần Phệ Đà như sa.Mitra ( Mật-đa-la ) ; sa.Varuna ( Phạt-lâu-na ) ; sa.Indra ( Nhân-đà-la ) ; các sa.Asvin ( Mã Đồng ).
+ Với cơ sở nghi lễ tôn giáo là việc cúng tế thần linh Bàn tế lễ gồm ba loại lửa, vật tế lễ là sa.Soma ( Tô-ma, là thú vật, ngũ cốc, thực phẩm đã được nấu chín ), người thực hiện nghi lễ là Tế Sư sẽ đọc những bài kệ tụng ( sa.rc ), ca vịnh ( sa.saman ), câu tế đảo ( sa.yajus ) Ngoài Thần Thánh thì tổ tiên cũng được cúng tế.
Tư tưởng triết lý
+ Tôn giáo đa Thần ( Ppolytheism ).Tư tưởng phức tạp, nghiêng về thờ phụng nhiều Thần Thánh chủ yếu là biến đổi từ Đa Thần qua Nhất Thần, từ Nhất Thần sang lĩnh vực Triết Học ( ngang qua 3 thời đại ):
● Veda_Vệ Đà Thiên Thư.
● Brahmana_Phạm Thư.
● Upanishad_Áo Nghĩa Thư.
+ Trong kinh là những bản ca ngợi các vị thần (thần sông, thần lửa, thần núi v.v ) và ca tụng vẻ đẹp tráng lệ, huy hoàng như phép mầu của sự sống trong vũ trụ.
+ Chiêm nghiệm về nguồn gốc vũ trụ, huyền thoại, triết học Đưa ra những thuyết như Thuyết Mạt Thế
( Eschatology ), Học Thuyết về Ngã ( Atman ) Tin vào luân hồi và các quan điểm thần bí về vũ trụ như cho rằng tồn tại một bản chất của vạn vật gọi là:
● Brahman_Phạm Thiên có nghĩa: Đại Ngã / Thần Ngã / Thần Ngã Lớn / Thượng Đế.
● Tiểu Ngã hiểu là Chúng sinh, được Thượng Đế tạo ra.
+ Theo luật Brahmana chỉ có các chủng tộc thuộc bậc 1, 2 và 3 là có quyền đọc kinh học đạo mà thôi những chủng tộc còn lại chỉ là nô lệ phải phục vụ cho những chủng tộc ở trên.
+ Trong thời gian trước khi Thích ca mâu ni thành đạo đã có rất nhiều trường phái tu luyện sinh ra nhiều hướng tư tưởng triết lý hay hành đạo khác nhau và đôi khi chống chọi phản bác nhau Các xu hướng triết lý phân hóa đa dạng như khoái lạc, ngẫu nhiên, duy vật, hoài nghi, mọi thứ, huyền bí ma thuật, tu khổ hạnh, tu đức hạnh, tụng kinh, thiền…
Trang 7Kinh Thánh
+ Thánh Điển Phệ Đà_Sa.Samhita ( Sam: cùng nhau, hita: đặt ) gồm 4 bộ Phệ Đà ( Tứ Phệ-đà, là những tác phẩm tôn giáo và thi ca xuất hiện sớm nhất của hệ ngôn ngữ Ấn - Âu ) được hoàn thành vào khoảng 1000 năm TCN, đó là:
● Rc.Veda ( Lê-câu-phệ-đà, Phệ đà bổn tập ) gồm mười quyển sa.Mandala ( Mạn-đà-la ), với 1028 bài ca tán tụng vậy nên cũng được dịch là Tán tụng minh luận mà bài cổ nhất có từ thế kỷ 15 TCN và gần nhất cũng khoảng thế kỷ thứ 10 TCN.
- Giữ vai trò quan trọng là văn bản cổ nhất ghi lại khái niệm Thượng Đế và Thần Thoại.
- Trong bộ này được xếp tùy theo các Vị Thần Ṛg-Veda dành riêng cho hầu như những vị thần cao hơn khi được nhận thức bởi một nỗ lực thăng hoa tương đối và được đào luyện bởi tầng lớp tăng lữ.
- Còn đề cập đến những con người tự coi là vượt lên trên cõi trần hay gọi là Yogin, Du già sư ( khi uống một thứ nước gây say Soma, họ khổ luyện, tự thôi miên tạo ra trạng thái xuất thần
và lên đồng, xem đó là Thần Thánh nhập và bản thân được ban cho những quyền lực siêu nhiên ).
- Những Vị Thần được ca tụng nhiều nhất là Indra, Varuna và Agni.
● Sama Veda ( Sa-ma Phệ-đà ) có một giá trị thực hành tương quan với nhau, vì nó bao gồm ca vịnh thần chú, gồm 585 khổ thơ.
- Tương ứng với các giai điệu được dùng trong những tụng ca hiến tế ( Hymmes des sacrifices )
có trong Lê-câu-phệ-đà.
- Ngoại trừ bài 75 dành cho việc tán tụng theo một nghi thức nhất định dành cho lễ tế tự.
- Những bài tán ca trong Sa-ma Phệ-đà được sắp xếp dành riêng cho việc kham khảo và sử dụng để hiến tế thần lửa Soma.
● Yajur Veda ( Dạ-nhu Phệ-đà ) gồm những bài kệ lấy từ Lê-câu-phệ-đà chỉnh sửa với nhiều thể thức văn xuôi từ nguyên bản chính.
- Khác với nội dung của Sa-ma Phệ-đà, nội dung của Dạ-nhu Phệ-đà được xếp đặt theo thứ tự
và được áp dụng trong một chuỗi các công thức hàm chứa những nghi lễ khác nhau ( nghi lễ dâng trăng tròn, nghi lễ dâng các vong nhân, dâng thần lửa, dâng bốn mùa, dâng bội thu… )
vì thế nên còn được gọi là Phệ-đà của tế tự.
● Atharva Veda ( A-thát-bà Phệ-đà ) được bắt đầu từ thời thượng cổ xa xưa nhưng để đạt được hình thức hoàn thiện của hiện nay thì trễ hơn rất nhiều so với những bộ trên.
- Nội dung là triển khai ý nghĩa ba bộ kinh kia Gồm các bài thuyết giáo chứa đựng thông điệp tâm linh căn bản của Ấn Độ Giáo.
- Atharva Veda được lấy từ tên các vị tư tế xưa chuyên lo việc thờ cúng Thần Lửa gọi là các Atharva và những thần chú, bùa phép trừ ma yểm quỷ hay để cầu khẩn đến thế giới Thần Linh, tràn ngập những ý niệm yêu thuật trong tầng lớp thường dân.
+ Bộ sa.Brahamana ( Phạm Thư ) biên soạn sau bản tập Phệ-đà, được viết dưới dạng văn xuôi.
● Vốn là một dạng văn học khá đặc biệt nhằm phát triển các lý giải mang tính Thần luận
( theo Logical treatises ).
● Nội dung thuật lại một cách tỉ mỉ chi tiết những nghi thức tụng niệm, làm lễ
● Bàn luận về căn nguyên và ý nghĩa linh thiêng của việc nghi thức, hành lễ.
● Càng qua nhiều thế hệ thì các nghi lễ càng trở nên phức tạp hơn.
● Từ vấn đề trên nên cần có sự sắp xếp các nghi lễ theo chức năng cúng tế khác nhau, do đó kéo theo sự
Trang 8phân chia chuyên trách trong tầng lớp Tăng Lữ.
→ Đây là thời kỳ hệ thống giai cấp được thành hình ←
+ Bộ sa.Aranyaka ( Sâm Lâm Thư nghĩa là sách dạy trong rừng )
● Có lẽ là biên soạn cho những người lớn tuổi đã vào rừng để an dưỡng, không thể thực hành những nghi thức hiến tế tỉ mỉ ).
● Phát triển từ Phạm Thư nói về sự phỏng đoán trong những vấn đề siêu hình.
● Thiền định tập trung vào những biểu tượng ( tư duy triết học về bản chất của sự thật ) được xem là công đức lớn nhất, dần thế chỗ cho những nghi thức hiến tế vốn là trật tự ưu việt.
● xu hướng Thiền Quán lúc bình minh ( Usas ), sự phát triển của suy nghiệm mang đến cái thiện tối cao.
● Dần tạo nên kết quả thay thế thực hành hiến tế của Phệ-đà và tạo nên yêu cầu thiền định mang tính triết học, tự tri ( self-knowledge ).
● đây là giai đoạn tư tưởng tự do đã nỗ lực từ từ để thoát khỏi vòng tế tự xiềng xích suốt thời gian dài + Bộ sa.Upanisad ( Áo Nghĩa Thư ) được Sâm Lâm Thư mở đường
● Áo Nghĩa Thư tiếp tục góp phần làm sống động thêm nền triết học suy nghiệm.
● Phát triển thành cội nguồn của mọi triết học phát sinh từ thế giới quan của tư tưởng đạo Hindu.
→ Được xem là những văn bản sa.Ruti ( Thiên Khải ) ←
→ có nghĩa là được trời khai mở cho thấy ←
→ và ảnh hưởng lớn đến các nhánh tôn giáo sau này ở Ấn Độ ←
→ Người Ấn Độ thời Phệ Đà cầu mong Thần Thánh ban con cái, sức khỏe, ←
→ phồn vinh, chiến thắng, sự sống trăm năm, ←
→ sự thứ lỗi cho những lần vi phạm quy luật vũ trụ hoặc sa.rta ( chân lý ) ←
→ và được về sa.svarga ( thiên đường ) sau khi qua đời ← + Trách nhiệm của người theo đạo là:
● Nghiên cứu kinh điển, giữ đúng nghi lễ tế tự.
● Tế tự Chư Thiên và Tổ Tiên.
● Nuôi dưỡng con trai để lưu giữ truyền thống cúng tế.
Trang 9- Bà-La-Môn-Giáo
Lịch sử phát triển:
+ Là một nhánh của tôn giáo Phệ-đà phát triển theo hướng nhấn mạnh sự thanh tịnh khi thực hiện các nghi lễ
tế Thần Thánh, dần chuyển hóa khai sinh ra Đạo Bà La Môn vào khoảng 1000 - 500 TCN.
+ Loại bỏ tầng lớp phía dưới ra khỏi việc thực hành tế lễ cũng như nghiên cứu Phệ Đà.
+ Trong Bà La Môn, tế lễ trở thành một khoa học xử lý mối tương quan giữa Đại Vũ Trụ và Vi Quan Vũ Trụ ; giữa chân ngôn với năng lực đi kèm ; đối tượng được chân ngôn chỉ đến ; giữa sự tế lễ với việc xảy ra trong tương lai… Tất cả dẫn đến quan điểm bao gồm thế gian và sự tế lễ không còn dựa vào Thần Thánh nữa + Ban đầu chỉ được nhắc sơ trong Phạm Thư và được Áo Nghĩa Thư nói rõ ràng hơn: Khái niệm tái sinh và quy luật nhân quả ( Nghiệp_sa.Karman ).
+ Sự sống trên Thiên Đường không còn là sự cứu rỗi, nơi đó vẫn chịu quy luật của nhân quả luân hồi vậy nên
để giải thoát không thể do Chư Thiên ban phát và cũng tế cũng không mang lại điều đó.
+ Sự giải thoát chỉ có thông qua trí tuệ, mục đích cùng sự nhận thức để đạt được trạng thái sa.Amrtatva ( bất tử ) Tức là khi Atman ( Cái Tiểu Ngã ) hoàn toàn tương đồng ( trở thành một phần ) với cơ sở của tất cả những
gì hiện hữu Brahman ( Phạm Thiên ).
+ Tôn giáo Phệ Đà mất vị trí hàng đầu ở Bắc Ấn vào những thế kỷ cuối TCN Tại Nam Ấn, thế kỷ thứ nhất SCN Phệ Đà vẫn tồn tại nhưng chỉ trong một phạm vi hạn chế gây ảnh hưởng nhất định trong lĩnh vực triết học dưới dạng sa.Mimamsa ( Di-mạn-sai ).
+ Sau khi Phệ Đà được phát hiện các nhà nghiên cứu Châu Âu đã kích động và vô cùng hào hứng, người Ấn quay về lại với giáo lý Phệ Đà với những dấu hiệu rõ ràng trong trào lưu Tân Ấn Độ giaó cải cách sau này + Với khái niệm như vậy, tôn giáo Phệ-đà đã vượt qua cái bóng của chính nó.
+ Ý nghĩa của sự cúng tế được đặt nghi vấn.
+ Mở rộng con đường cho phong trào phát triển của những tôn giáo cải cách mới như:
Trang 10- Visnuism / Vaishnavism ( Ấn Giáo Tì thấp nô )
Sự hình thành:
+ Tôn giáo nhất Thần, ở Bắc Ấn vào khoảng giữa thế kỷ 6 và 2 TCN, sự sát nhập một số vị thần và những nghi
lễ phổ biến.
+ Ở thế kỉ 6~7 Tì-thấp-nô giáo hấp thụ khá nhiều từ trào lưu thờ Thần Mặt Trời.
+ Hai phân nhóm tiêu biểu là:
● Sa.Bhagavata ( Bạc-già-phạm ) tuân thủ giáo lý của Bà-la-môn giáo.
● Sa.Pancaratrin ( Ngũ Dạ ) bị xem là phi chính thống.
+ Từ vương triều Cấp-đa khoảng thế kỉ 5 thì ranh giới giữa hai nhóm này đã mờ dần Những nhóm quan trọng xuất hiện và tồn tại đến nay là:
● Srisampradaya có nguồn từ giáo lý sa.Visistadvaita ( Chế hạn bất nhị ) của sa.Ramanuja
( La-ma-nã-già ) 1055 - 1137 cùng nhiều phân nhánh nhỏ khác nhau.
● Brahmasampradaya theo học thuyết Nhị Nguyên sa.Dvaitadvaita.
+ Ngày nay, Tì-thấp-nô và Thấp-bà là hai trào lưu tôn giáo quan trọng nhất.
+ Đồng hóa vị Thần sa.Visnu ( Tì-Thấp-Nô ) và vị Thần sa.Narayana
( Na-la-diên-na _ Thần Siêu Việt )
+ Tì-thấp-nô Na-la-diên-na được tôn xưng sa.Bhagavat ( Bạc-già-phạm ) vị Thần Tối Cao, Đấng Sáng Tạo + Chú ý là việc tôn xưng sa.Krsna ( Hắc Thần ), sa.Balarama / Samkarsana ( một Thần Thể có nét Âm Phủ tương quan với phong tục tôn thờ rắn, được cho là anh của Hắc Thần, là một cặp thần cùng được phụng thờ ) v.v cho thấy sự hòa hợp nhiều dạng tế lễ vào một đơn vị.
Trang 11- Sivaism ( Ấn Giáo Thấp-Bà )
Triết lý tư tưởng:
+ Phần lớn theo thể nhất Thần, có vài nhánh thiên về mối quan hệ Nhị Nguyên Thấp-bà ( Siva, dịch ý là cát tường, thiện ), tính lực ( Sakti ) hoặc thừa nhận tính Đa Nguuyên với nhiều linh hồn vĩnh cửu.
+ Xuất phát từ một vị Thần trong Thánh Điển Phệ-Đà là sa.Rudra ( Lỗ-đặc-la ), được miêu tả với sự hung bạo, nguy hiểm, cai quản bệnh tật và chữa trị ; là hiện thân của Thần Marut ( Phong Thần ) được coi là tùy tùng của Ông Mũi tên của Ông là những điều âu lo của cấc vị Thần khác và những cơn bão tố
+ Theo giáo lý cao nhất thì Thấp-bà ở bậc tối cao sẽ không mang bất kì thuộc tính nào ( Nirguna ) và đồng nhất với Phạm Thiên của hệ thống Phệ-đàn-đa.
+ Về khía cạnh nhân cách thì Thấp-bà có thuộc tính Saguna bao hàm hai nguyên lý nam cũng như nữ Nguyên
lý nữ được thể hiện qua tính lực Sakti, chủ động trong nhận thức, ý muốn, hành động, tự che đậy và ban ân của Thượng Đế, nguyên lý nữ được xem là vợ của Thần Thấp-bà, dạng hiền hậu tịch tĩnh là Tuyết Sơn Thần
Nữ ( sa.Parvati, dạng phẫn nộ, tàn phá là Đỗ-nhĩ-ca
( sa.Durga ).
+ Chính Thần Thấp-bà xuất hiện trong thần thoại như một Du-già sư hoặc vị Thần hàng phục yêu quái, tàn phá thế giới Hình tượng liên quan đến sự giải thoát khỏi những trói buộc ( sa.Pasa ), của tâm linh cá biệt ( sa.Pati ).
+ Các trói buộc phát sinh từ sự vướng mắc vào vật chất, qua đó năng lực tri thức và hoạt động vô biên của tâm thức tối thượng bị những nhân tố như sau hạn chế tối đa:
● Thời gian ( Kala ).
● Không gian.
● Quy luật nhân quả ( Niyati ).
● Giới hạn của cảm nhận ( Raga ).
● Giới hạn của tri thức ( Vidya ).
+ Các trường phái khác:
● Thú Chủ _ Pasupata: tu tập khổ hạnh, tự cách li khỏi xã hội một cách khiêu khích, quan điểm khá cực đoan.
● Khống chế Du-Già _ Hathayog
Trang 12- Saktism ( Ấn Giáo Tính Lực )
Sự xuất hiện
+ Thiên Nữ Tính Lực ( Devi ~ Sakti ) tượng trưng cho nhận thức, hành động, tạo tác, gìn giữ, toại nguyện, ban
ân, giải thoát, tiêu hủy thế giới giữ vị trí trung tâm sùng bái của giáo này Xuất phát từ những trào lưu tôn giáo bộ tộc, có thuyết cho rằng nguồn gốc của Tính Lực là do việc tôn thờ Thiên Nữ từ thời Văn minh lưu vực sông Ấn nhưng chưa thuyết phục.
+ Từ những thế kỷ đầu CN, Ấn Giáo Tín Lực hòa nhập vào Thấp Bà Giáo, ở thế kỷ 6 quay lại vị thế quan trọng qua sự hỗ trợ của truyền thống Bà-la-môn, sau được chủng Sát-đế-lợi xem là Thần Chiến Tranh và tôn thờ + Thời điểm mà Nữ Thần này được tôn thờ mạnh mẽ vượt tất cả các Nam Thần khác, kể cả Thần Thấp-bà là vào khoảng từ thế kỷ thứ 10, rồi tiếp tục dung hòa cùng các truyền thống tôn sùng Durga / Kali ( Thiên Nữ Đỗ-nhĩ-ca hoặc Ka-li ) ở nhiều vùng của Ấn Độ, kéo theo đó mối quan hệ nam nữ được đảo ngược.
+ Phẩm vật cúng tế gồm súc vật ( cá, gà trống, trâu, bò kể và cả con người cho đến thời Đế Quốc Anh ).
+ Nghi lễ Đát-đặc-la với Mantra ( chân ngôn ), những biểu tượng bí mật và đôi khi có sự giao hợp theo nghi thức Mật Giáo.
+ Hiện nay vẫn còn lưu giữ một vị trí quan trọng ở Ấn Độ song song với Tantra ( Đát-đặc-la ), Thấp-bà, Tính Lực và có những bộ Thánh Điển riêng.
Trang 13- Ấn Giáo Bất nhị Phệ-đàn-đa nhất nguyên
Sự xuất hiện
+ Giáo lý Monistic Advaitavedanta ( Phệ-đàn-đa nhất nguyên ) tự phát triển thành một giáo phái riêng.
+ Đại biểu tốt nhất cho tông phái này là Sankara ( Thương-yết-la ) sống vào khoảng 788 - 820 hay trước đó độ chừng 100 năm.
Trang 14- Neo-hinduism ( Tân Ấn Độ Giáo )
Quá trình hình thành
+ Trong cuộc đấu tranh giành tự do của Ấn Độ trong thế kỷ 19, 20 kéo theo sự khởi đầu của Tân Ấn Độ giáo như một sự cải cách.
+ Tân Ấn Độ giáo có khuynh hướng tập hợp rất mạnh như muốn dung hòa tất cả các truyền thống tôn giáo Ấn
Độ Kết nối những khái niệm, lý tưởng có nguồn từ Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo.
+ Những nhánh quan trọng nhất là:
● Brahma Samaj ( Phạm Hội ) được khai sinh bởi Ram Mohan Roy ( 1772 - 1833 ) vào năm 1828, về sau mang đậm dấu ấn của hai nhà lãnh đạo Devendranath Tagore ( 1817 - 1905 cha của và Rabindranath Tagore ) và Keshab Chandra Sen ( 1838 - 1884 ).
- Brahma Samaj bác bỏ chế độ: chủng tính, hỏa thiêu góa phụ ( sati ), tôn thờ Thánh Tượng.
- Nhìn chung chịu ảnh hưởng mạnh từ Cơ Đốc Giáo.
● Arya Samaj ( Thánh Hội ) hình thành bởi Dayananda Sarasvati ở năm 1875.
- Độc duy dựa vào nền tảng Thánh Điển Phệ-đà nhưng có sự chọn lọc lại và áp dụng uyển chuyển.
- Không tôn thờ Thánh Tượng.
- Dù có bị ảnh hưởng bởi Cơ Đốc Giáo nhưng được giải thích theo Phệ-đà.
- Có vẻ như Arya Samaj dùng truyền thống tôn giáo tương đương, mang đặc thù của Ấn Độ nhằm đối đầu với những nhà truyền giáo đạo Cơ Đốc.
● Ramakrsna ( La-ma Hắc Thần ) sáng lập bởi Svami Vivekananda ( 1863 - 1902 ), tại thời điểm năm
1897 để tưởng niệm đến tôn sư là Ramakrsna Paramahamsa ( 1836 - 1886 ).
- Trên cơ sở Advaitavedanta ( Bất nhị Phệ-đàn-đa ), tất cả những tôn giáo đều được xem là con đường dẫn đến mục đích tối hậu, mặc dù chúng còn bị xem là thấp vì còn vướng mắc vào những hiện thực cấp dưới.
- Từ Cơ Đốc giáo, hiệp hội Ramakṛṣṇa hấp thụ thành phần tham gia công tác xã hội, nhưng lại giải thích bằng những truyền thống Ấn Độ như chúng được ghi lại trong Chí Tôn ca
( Bhagavadgita ) và giáo lý nghiệp quả ( Karman ).
● Những người gốc Ấn truyền đạo ở phương Tây được gọi là Gurus cũng có thể được liệt kê vào Tân Ấn
Độ giáo.
Tư Tưởng
+ Tân Ấn Độ giáo nhánh chính có khuynh hướng dễ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Duy Vật
( Materialism ) và chủ nghĩa Bất Khả Tri ( Agnosticism ) của phương Tây hơn là hai giáo có truyền thống lâu đời ở Ấn là Thấp-bà giáo và Tì-thấp-nô-giáo.
Trang 15● Phật Giáo Nguồn gốc
+ Bấy giờ Ấn Độ là quốc gia Magadha ( lớn nhất phía nam sông Hằng Hà_Gange ), nền văn hóa ngự trị lúc bấy giờ là Veda ( Vệ-Đà hay Phệ-Đà có nghĩa là tri thức được xem là suối nguồn của nên văn minh Ấn Độ ), quốc gia không thống nhất hoàn toàn mà chia thành các nước nhỏ Gồm 4 vương quốc chính là:
● Kosala ( Kiêu-tát-la ) thủ đô là Sravati ( Xá-Vệ ), ở phía Bắc sông Hằng tiểu vương quốc lúc bấy giờ là Pasenadi.
● Phía Tây Nam Kosala là tiểu vương quốc Vamsa.
● Ở miền Nam Kosala và Vamsa là tiểu vương quốc Avanti, trải dài tới tận phía Nam sông Hằng.
● Vương quốc Magadha ( Ma-kiệt-đà ) nằm ở phía Tây Avanti và phía Nam sông Hằng.
● Còn vài bộ tộc nhỏ ở Đông Kosala và Bắc Magadha.
Sự xuất hiện
+ Có nhiều truyền thuyết về sự ra đời của Người sáng lập Phật Giáo và tranh cãi về ngày Siddhartha chào đời, xét theo năm Ngài nhập Niết Bàn khi 80 tuổi vào năm 543 TCN thì Ngài được sinh ra vào khoảng năm 624 TCN.
+ Trong số các vương quốc đó, có danh tiếng nhất là đất nước Kapilavastu ( Ca-tỳ-la-vệ ) dưới sự cai quản vị vua Sudhodana ( Tịnh Phạn ) cùng hoàng hậu Maha-maya ( Ma-ha-ma-da ) người nước Koly ( Câu Ly hay Cao Ly ).
+ Hoàng hậu 45 tuổi mới thọ thai lần đầu, theo tục lệ bà phải về nhà cha mẹ sinh con và con sinh ra theo họ của
mẹ Bà hạ sinh một hoàng tử tại vườn Lumbini ( Lâm-tỳ-ni ) thuộc 1 thị trấn ở Ấn Độ nằm giữa dãy
Himalaya và sông Hằng, đặt tên Siddhartha ( Tất-đạt-đa ) họ Sakya ( Thích-Ca ).
+ Sau khi sinh bảy ngày thì hoàng hậu qua đời, được dì Mahaprajapati ( hv.Ma-ha-ba-xà-ba-đề ) chăm sóc + 16 tuổi thái tử theo lời cha kết hôn với Yasodhara ( hv.Da-du-đà-la ), Gapika ( La-gia ), Urganika
( Lộc-giả ) Bà Già-du-đà-la sinh được một con trai đặt tên là La-hầu-la.
+ Sau bốn lần ra cổng thành, thấy cảnh người già, người bệnh, người chết ( những cái khổ trong thế gian ) và một vị tu sĩ, Ngài nhận ra sự tách biệt rõ ràng giữa các tầng lớp, giữa thái tử với những con người kia, lòng từ khiến cho sự bất mãn chế độ quá bất công ở hiện tại trở nên mãnh liệt, thêm vào ngộ được con người dù giàu sang, quyền uy hay nghèo khổ, nô dịch đều không thoát khỏi Sinh, Trưởng, Suy, Diệt.
+ Ngẫm nghĩ về kiếp sống của loài người, thái tử ngờ vực, buồn rầu vì chỉ có Ngài nhận ra trong khi bao nhiêu người vẫn u mê sinh bao cảnh đời thương tâm…
+ Ngài chán nản cuộc sống tầm thường, khi 19 tuổi sự chán ngán đến cực hạn, quyết định ttừ bỏ ràng buộc thế gian phát tâm rồi từ biệt hoàng cung ra đi tìm phương cứu đời.
+ Thời gian đầu, Ngài tu khổ hạnh theo các vị đạo sư có danh tiếng là sa.Arada ( A-la-la Ca-lam ), sa.Rudraka Ramaputra ( Ưu-đà-la La-ma-tử ).
→ Nhưng chưa tìm được triết lý phù hợp mà mình cần nên quyết tâm tự tìm đường giải thoát ←
+ Ngài gặp năm vị Tỳ-kheo Ajnata Kaundinya - Anna Kondanna ( năm anh em Kiều Trần Như tền đầy đủ là A Nhã Kiều Trần Như ) đồng hành.
+ Tiếp theo, Ngài vào ở ẩn trong dãy Tuyết Sơn ( là núi Già-xà-gaya trong sách Phật ngày sau gọi là Khổ Hạnh Lâm ) tu tập Thiền định suốt 6 năm, nhưng vẫn không ngộ ra được điều gì.
→ Sau nhiều năm Tu Khổ Hạnh đến gần kề cái chết, ←
→ ông nhận ra đây không phải là phép Tu dẫn đến Giác Ngộ và ăn uống lại bình thường ←
+ Ngài lại đi đến núi Tượng Đầu ( Gajasirsa ) bên sông Ni-liên-thuyền, tắm rửa xong, Ngài nhận bát sữa của những nàng mục nữ cúng Ngài tĩnh tọa suy xét, thề rằng: “ Ta ngồi đây nếu không chứng được đạo quả, thì
dù có nát tan thân này ta quyết không bao giờ đứng dậy.”
+ Ngài ngồi định tâm dưới gốc cây Pippala ( Tất-bát-la, về sau còn gọi là cây Bồ-đề ) ở Giác Thành 48 ngày, hôm sau ( nhằm ngày 8 tháng chạp lịch Trung Hoa ) sao mai vừa ló dạng, Ngài thấy trong tâm sáng suốt, thấy
Trang 16rõ chân lý của vũ trụ và nguồn gốc sinh tử của chúng sanh.
+ Ngài thành Phật ( Phật có nghĩa là Bậc Giác Ngộ ) khi 31 tuổi, Giác Ngộ hoàn toàn ở tuổi 35 và biết rằng mình
sẽ không còn tái sinh.
+ Ở trạng thái Giác Ngộ ( Bodhi ) Ngài hoàn toàn sống trong sự sáng suốt nhiệm màu của chân lý mà Ngài đã chứng ngộ, không một ngôn từ hay phương pháp nào có thể dùng để truyền đạt nên Ngài im lặng và ngồi tiếp
ở gốc cây.
+ Do được thỉnh cầu từ năm vị Tỳ-kheo, xin được giảng pháp vì lòng thương chúng sanh Ngài chấm dứt sự im lặng quyết định chuyển Pháp Luân ( dùng chân lý đã ngộ được chuyển thành lời nói để thuyết pháp, giáo hóa cho chúng sanh ).
+ Năm vị Tỳ-kheo trở thành năm đệ tử đầu tiên của Ngài và là hạt nhân đầu tiên của Tăng-Già.
+ Giờ đây Ngài mang danh hiệu Shakyamuni Buddha_Đức Phật ca Mâu-ni ( Trí giả của dòng dõi
Thích-ca ).
+ Từ ngày hôm ấy Ngài chu du khắp lưu vực sông Hằng, thường lưu trú tại sa.Rajagrha
( Vương-xá ), sa.Savatthi ( Xá-vệ ), sa.Vaisali ( Phệ-xá-li ) dùng chân lý thức tỉnh được nhiều chúng sanh khỏi
mê muội, qui y Phật pháp tu hành diệt khổ, chứng đạo Niết Bàn.
+ Người nghe Pháp ngày càng nhiều, đệ tử theo học ngày càng đông Nhóm đệ tử phân thành bốn phần:
● Tỳ-kheo ( nam tu sĩ )
● Ưu-bà-tắc ( nam cư sĩ )
● Tỳ-kheo-ni ( nữ tu sĩ )
● Ưu-bà-di ( nữ cư sĩ ) + Trước lúc lâm chung, lo sợ các đệ tử sẽ nghĩ lời mình giảng là chân lý chứ không phải chỉ là phương tiện đến Giác Ngộ, ông tuyên bố mình chưa từng nói một lời nào.
+ Ngài diệt tịch vào ngày rằm tháng hai ( có tài liệu là rằm tháng tư, rằm tháng mười một ) tại vườn cây phía Nam thành Kusinagara ( Câu-thi-la ), nằm nghiêng về phía hữu, đầu hướng về phía Bắc, mặt hướng về phía Tây và dần nhập Niết Bàn.
+ Ngài được hỏa táng, thân xác ông có nhiều hiện tượng xảy ra, Xá-lợi của Phật được chia làm tám phần và được thờ tại các tháp khác nhau.
+ Sau khi ngài mất, trong các đệ tử đã có người cho rằng phải làm điều này, không làm điều nọ, không chịu ràng buộc tâm ý…
+ Vậy nên để tránh sự sai biệt và bảo tồn giáo pháp, luật lệ được toàn vẹn, nên ngài Maha Kassapa ( diếp ) đã đề nghị ghi chép, kết tập phân loại lại toàn bộ lời Phật dạy thành kinh điển.
Ma-ha-ca-Triết lý
+ Siddhartha đề xướng con đường Majjhimapatipada ( Trung Đạo ).
● Từ bỏ đời sống xa hoa.
● Từ bỏ lối tu ép xác khổ hạnh.
● Có thực mới vực được đạo.
+ Dựa trên kinh nghiệm Giác Ngộ và Giải Thoát của bản thân, Ngài đã giảng những bài đầu tiên gọi là Chuyển Pháp Luân:
● Quy luật Nhân Quả ( Nghiệp )
● Và nhiều bài Pháp khác tại vườn Lộc Uyển ở Sarmath gần Ba-la-nại
( Benares hay Varanasi )
Tư tưởng của Siddhartha
+ Chú tâm thoát khỏi tư tưởng tham ái, bất thiện.
→ Đạt được sơ thiền → Nhị Thiền → Tam Thiền → Tứ Thiền ←
→ Những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta ←
● Canh một: Khi tâm được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng làm ô uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng tâm về những kí ức và nhận thức về các kiếp trước ( nhớ về nhiều tiền kiếp, nhớ về
Trang 17chu kì của thế giới ; Nơi đã sống, cái tên ta từng dùng, gia đình, nghề nghiệp, giai cấp xã hội của ta, cách ta chết đi, sự hiểu biết của ta.v.v )
● Canh hai: Tiếp đến chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh Với con mắt của chư thiên, trong sáng, siêu việt, mọi giới hạn nhân thế.v.v.
- Chúng sinh luân hồi theo nghiệp lực.
- Chúng sinh tạo ra nghiệp lực bất thiện qua ba ải:
Thân Khẩu Ý
→ Sau khi qua ba ải, nếu tạo nghiệp bất thiện thì bị sa vào đọa xứ, địa ngục ←
→ Còn tạo thiện nghiệp tái sinh trong thiện đạo hoặc được lên cõi thiên ←
● Canh ba: Chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các sa.Asrava / pi.Asava ( Lậu Hoặc ) và nhìn nhận như thật.
→ Đây là khổ, nguyên nhân của khổ Đây là phương pháp diệt khổ Đây là con đường tiêu diệt khổ ←
→ Khi nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh ←
→ Ta hiểu chân lí ta tái sinh đã đoạn ←
→ Cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm ←
→ Cuộc sống ( Khổ đau ) này ta đã vượt qua ←
+ Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: “ Tất cả pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học ( để giải thoát ) ”
Bài giảng, kinh sách
+ Cuộc tập kết lần 1:
● Tại thành Rajagaha ( Vương Xá ) gồm 500 Arhat ( A-la-han ) Được sự bảo trợ của vua Ajatasatru ( A-xà-thế ) xứ Magadha ( Ma-kiệt-đà ).
● Vào mùa hạ năm Phật niết bàn.
● Ngài Upali ( Ưu-ba-ly ) trùng tuyên Kinh Tạng sau.
● Bộ luật được trùng tụng là: Bát Thập Tụng Luật.
● Lý do kiết tập: Tỳ-kheo Bạt-nan-đà vui mừng khi nghe tin Đức Phật nhập niết bàn.
● Với phương pháp kiết tập là kể lại bằng trí nhớ và không có ghi thành văn bản.
● Những ghi nhận sau này được viết lại thành bốn bộ kinh:
- Kinh Digha Agama ( Trường-a-hàm )
- Kinh Majjhima Agama ( Trung-a-hàm )
- Kinh Anguttara Agama ( Tăng-nhất-a-hàm )
- Kinh Samyutta Agama ( Tạp-a-hàm )
→ Tài liệu cổ nhất ghi lại cuộc đời Đức Phật và hoạt động của tăng đoàn ←
→ Đánh dấu bước đầu hình thành Kinh Tạng và Luật Tạng và là căn bản cho Phật Giáo nguyên thủy ←
Trang 18● Ngăn không để tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào Giáo Lý của Đức Phật.
● Trong lần họp này, có những người không đồng ý với việc giữ nguyên giới luật đã rời ra tổ chức một hội nghị riêng và thành lập Mahasanghika ( Đại chúng bộ )
● Số còn lại vẫn kiết tập kinh điển hình thành Theravada ( Thượng Tọa Bộ )
- Giai đoạn đánh dấu Phật giáo ra ngoài lãnh thổ Ấn Độ, nhiều đoàn truyền giáo đạo Phật được
cử đến khắp nơi trên thế giới từ Á sang Âu, đến tận Hy Lạp, các nước ở Trung Á, Trung Đông, Trung Quốc, Miến Điện, Sri Lanka…( có đến Việt Nam hay không còn chưa tìm ra bằng chứng ).
● Là người bảo trợ cho việc tập kết lần thứ 3.
● Do phát triển mạnh trên diện rộng, bên trong Đạo có nhiều sự phân hóa, Tăng Đoàn bị nhiều người trà trộn và lạm dụng, gây nhiều bất hòa nội bộ.
● Hội nghị được tổ chức tại thành Pataliputta thuộc về đế chế Magadhan, vào khoảng năm 225 TCN, kéo dài trong 9 tháng.
● Chủ trì bởi Moggaliputta Tissa, có khoảng 1.000 Tỳ-kheo ưu tú được cử đến.
● Tam Tạng Kinh gồm:
- Kinh Tạng
- Luật Tạng
- Luận Tạng
→ Lần đầu tiên được hoàn thiện ←
● Cuối đại hội, chủ trì đã chỉ ra Kathavatthu ( những điểm dị biệt ) để bác bỏ luận thuyết không hợp lệ của một số bộ phái.
● Hạn chế, chỉ thừa nhận giáo pháp của tông phái Thượng Tọa Bộ ( tông phái chiếm đa số lúc bấy giờ ).
● Sau đại hội, con trai vua Asoka là Mahinda đem Tam Tạng Kinh cùng các chú giải đến Tích Lan Tiếp theo sau được dịch sang tiếng Pali và còn nguyên vẹn đến ngày nay.
+ Kiết tập lần thứ 4:
● Đến những lần này sự liệu không còn thống nhất với nhau về thời gian và địa điểm.
● Có hai thuyết đáng lưu ý:
- Thứ nhất: Vua Kanishka là tín đồ trung thành của Phật giáo, thích nghe giảng kinh văn, nhiều lần mời nhiều tu sĩ Phật giáo đến giảng kinh và nhận thấy nhiều sự khác biệt trong kiến giải giáo lý nên phát tâm bảo trợ cho kì kiết tập lần 4.
- Thứ hai, diễn biến kết quả: vào khoảng 400 năm sau khi Phật niết bàn ( tầm thế kỉ thứ 1 ), tại vùng Kasmira miền Tây Bắc Ấn Độ gồm 500 học giả giỏi về Tam Tạng Kinh, do Vasamitra chủ tọa với sự trợ giúp của Parsva.
[ Các kì kiết tập khác đều của riêng bộ phái Theravada_Thượng Tọa Bộ, còn gọi Nam Truyền tiến hành ]
+ Lần 5:
Trang 19● Vào 1871 kéo dài 5 tháng tại thủ đô của Miến Điện lúc bấy giờ là Mandalay.
● Số người tham dự gồm 2.400 cao tăng dưới sự bảo trợ của vua Mindon.
● Kết quả, ba Tạng Kinh hiệu đính lại khắc lên 729 phiến đá hình vuông và cất giữ tại chùa tháp
Kuthodaw.
+ Lần 6:
● 17/05/1954 nhân lễ Phật Đản, kéo dài suốt hai năm.
● Tại phía Bắc Yangon ( Ngưỡng Quang ) trên núi Nghệ Cố.
● Do Giáo Hội Phật Giáo Miến Điện khởi xướng dưới sự bảo trợ của chính phủ Miến Điện.
● Ủy nhiệm tôn giả Upali tuyên đọc giới luật của Đức Phật đã dạy cho các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni ; sau
đó, mọi người có trong hội nghị nêu câu hỏi chất vấn để xác minh tính chính xác của lời tụng như Phật dạy cho ai? lúc nào, ở đâu?
● Ngài Upali phải tụng hết 80 lần mới có kết quả thống nhất của hội nghị ( nên được gọi Bát Thập Tụng Luật ).
● Kết quả tổng kết kham khảo tất cả kinh điển của các nước Phật Giáo Nam truyền, đúc kết rồi xuất bản thành sách truyền bá rộng rãi.
→ Được xem là căn bản của giới luật, căn cứ vào đó triển thêm các bộ luật như: ←
→ Tăng Kỳ Luật, Tứ Phần Luật, Ngũ Phần Luật ←
Các bộ phái chính hiện nay
+ Tiểu Thừa hay Tiểu Thặng ( sa Hinayana_Cỗ Xe Nhỏ / Bánh Xe Nhỏ )
● Thượng Tọa Bộ ( Tiếng Pali: Theravada [ có nghĩa là: lời dạy của bậc trưởng thượng ] ; Tiếng Phạn: Sthaviravada) Nhiều tài liệu còn gọi nhóm này là Trưởng Lão Bộ Còn được hiểu là Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo Nam truyền.
● sa Sarvastivadin_Thuyết nhất thiết hữu bộ / Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Là một nhánh của Tiểu Thừa tách ra từ Thượng Tọa Bộ.
- Hình thành ngay thế kỉ đầu tiên sau khi Thích-ca viên tịch.
- Thuật ngữ Hinayana chỉ được biết đến khi được đề cập đến trong bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh ở thế kỷ thứ 1.
- Sri Lanka là nơi còn bảo tồn được truyền thống của Thượng Tọa Bộ mặc dù đạo Phật ở đây là
do kế thừa từ một trung tâm Phật giáo tại Ấn Độ đã bị suy tàn và biến mất từ thế kỉ thứ 6 do
sự lan rộng của Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo.
+ Đại Thừa, Mahayana_Ma-ha-diễn-na hay Ma-ha-diễn nghĩa là Cỗ Xe Lớn hay còn gọi là Đại Thặng
( Cỗ Xe / Bánh Xe Lớn ) là Phật giáo Bắc truyền.
● Các tư tưởng Đại Thừa có từ thế kỉ thứ 1 TCN.
● Xuất phát phần lớn từ hai nhánh của Tiểu Thừa là:
- Đại Chúng Bộ ( sa Mahasanghika ).
- Thuyết nhất thiết hữu bộ ( sa Sarvastivadin ).
● Nhưng mãi đến sau Đức Phật 400 năm, vẫn chưa có khái niệm Đại Thừa, Tiểu Thừa.
● Thuật ngữ Mahayana chỉ được biết đến khi được đề cập đến trong bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
● Mang xu hướng rộng rãi và tự do hơn các phép tắc ràng buộc của Thượng Tọa Bộ.
● Hình tượng tiêu biểu của Đại Thừa là sa.Bodhisattva ( Bồ Tát ) với đặc tính vượt trội là sa;pi Karuna ( lòng bi ).
● Chứng minh Không Tính ( sa.Sunya [ adj ], sa.Sunyata [ n ], bo.Stong pa nyid ) của vạn vật, khái niệm trung tâm của đạo Phật Quan trọng nhất, cũng trừu tượng nhất ( cơ bản nghĩa là trống rỗng, trống không.)
● Kinh văn đầu tiên của Đại Thừa là sa Astasahasrika Prajnaparamita ( Bát-nhã bát thiên tụng )
Trang 20● Bên trong Đại Thừa phân thành vài trường phái khác như:
[ Ngày nay chỉ còn hai hệ Tiểu Thừa này trên thế giới ][ Thuật ngữ Tiểu Thừa ít được dùng vì ][ một số người không thông hiểu pháp kỹ có thể thấy tổn thương ][ vào năm 1950, Hội Phật giáo Thế Giới ( WFB ) đã quyết định xóa bỏ danh từ này ]
[ do đó khái niệm Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông ][ Trước đó còn các hệ như pháp độc lập tiêu biểu là ][ sa.Akasa ( hư không ): sa.Apratisthita-Nirvana ( Niết bàn vô trụ ), sa.Pratisthita-Nirvana ( Niết bàn thường trụ ) ]
[ Hữu vi: sa.Rupadharma ( sắc pháp ), sa.Citta, vijnana ( tâm_thức pháp ) ][ sa.cetasikadharma ( tâm sở hữu pháp ), sa cittaviprayuktasaṃskara ( tâm bất tương ứng hành pháp ) ]
+ Mật Tông ( Tantrayana ) còn gọi Kim Cang Thừa ( Vajrayana )
● Khuynh hướng giữ bí mật thông tin nên khó xác định thời điểm ra đời, chi ước chừng là vào khoảng thế kỷ thứ 6 hay có thể chính xác hơn là thế kỷ thứ 7.
● Có nhiều pháp môn thực hành được gọi là phương tiện hay phương tiện thiện xảo như:
- Kim cương đỉnh kinh
- Tô tất địa kinh
- Du kì kinh
- Yếu lược niêm tụng
- v.v.
+ Tịnh Độ Tông hay Tịnh Thổ Tông còn gọi Liên Tông
● Xuất hiện vào giữa thế kỉ thứ 4.
● Do sự truyền bá của nhà sư Huệ Viễn.
● Tư tưởng tịnh độ đã có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ, nhưng khi sang Trung Hoa đã được phát triển thành một tông phái.
● Kinh điển của phái này là:
+ Thiền Tông _ Zen
● Có từ thời Thích-ca truyền giảng.
● Tông phái được Bồ-đề Đạt-ma đưa vào Trung Quốc từ thế kỉ thứ 6.
● Đến đầu thế kỉ 8, Thiền tông đã thực sự phát triển lớn mạnh và sâu rộng hơn những tông phái khác.
● Có thể được xem là một nhánh của Đại Thừa, nhưng phương cách tu học nhấn mạnh việc tự nỗ lực để phá bỏ các định kiến chấp trước.
● Do sự lớn mạnh của mình tông phái này còn phân làm nhiều nhánh nhỏ như:
+ Một số phái khác như Luật Tông, Duy Thức Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Hiền Thủ Tông, Thành Thật Tông, Chân Ngôn Tông…
+ Ấn Độ giáo là tôn giáo sẵn sàng tiếp thu các nguyên lý hay khái niệm của tôn giáo khác.
Trang 21● Một số tín đồ Phật giáo có gốc từ đạo Bà-la-môn nên các tư tưởng nề nếp của Ấn giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến Phật giáo.
● Ấn giáo mặc nhiên thu nạp các tư tưởng của Phật giáo thành tư tưởng của Bà-la-môn ( cho rằng Thích-ca là nhà tiên tri quan trọng của tôn giáo này ).
● Sự pha trộn sâu rộng đến mức một người dân bình thường rất khó để phân biệt rõ ràng được khác biệt giữa hai tôn giáo này.
● Cùng đặc tính dễ thích nghi và phù hợp với nhu cầu thờ phụng của người dân bình thường ở Ấn Độ
và đã dần trở thành tôn giáo của tầng lớp tri thức.
+ Vào nửa cuối của thế kỉ 8, vua Ai-Mahdi ( 775 - 785 ) của vương triều Hồi giáo Abbasad đã đem quân tấn công Ấn Độ.
● Phá hủy, cướp bóc tài liệu, công trình, kiến trúc Phật giáo Trong đó có công trình quan trọng là Trung tâm Phật học Valabhi.
● Dù sau đó không tiếp tục bức hại Phật giáo, nhưng cũng là bước đầu làm tiêu biến Phật giáo ở Ấn Độ, Afghanistan, Trung Đông.
● Năm 1178, quân đội Hồi giáo của Muhamad Ghuri tiến hành nhiều cuộc chinh phạt vào Ấn Độ, các công trình Phật giáo hầu hết bị tiêu hủy.
● Năm 1197, trung tâm Phật giáo Nalanda bị phá hủy hoàn toàn kê cả các tăng sĩ.
● Năm 1203, kết thúc hoàn toàn thời kỳ của Phật giáo ở Ấn Độ.
Trang 22● Đạo Giáo Hình thành và phát triển
+ Không rõ thời điểm và người khởi phát, nhưng có lẽ là vào khoảng thế kỉ thứ 4 TCN, nhưng có thể nhận thấy rằng tôn giáo này được hình thành qua một quá trình dài, thu nhập nhiều trào lưu tư tưởng khác ở thời thượng cổ.
+ Và phổ biến ở thời nhà Chu ( 1040 - 256 TCN ).
+ Là một trong Tam Giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo, cả ba đã hòa hợp thành truyền thống và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền tảng văn hóa dân tộc của Trung Quốc ( chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hóa học, vũ thuật và địa lý )
+ Từ Trung Quốc lan truyền đến các nước lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản.
+ Mãi đến Trang Tử ( khoảng 369 - 286 TCN ), học thuyết của Lão Tử mới được người đời chứ ý.
+ Thời gian xác nhận Đạo giáo như một tôn giáo là vào khoảng năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên Sư Đạo như một tôn giáo.
+ Đạo giáo còn có những tên gọi khác như Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão.
+ Đạo Gia thờ Đạo ( con đường chân chính ).
+ Tông đồ xem Lão Tử là khai tổ Đạo giáo, cho rằng ông là hóa thân của Đạo và tôn xưng ông thành giáo chủ gọi là Thái Thượng Lão Quân.
+ Phật giáo đến Trung Hoa trong thế kỷ 1 SCN, là giai đoạn giới tri thức khát khao tiếp nhận nhưng cũng mang theo những điểm khó dung hòa.
● Mục đích của Phật giáo là thoát khổ, giải thoát khỏi vòng luân hồi thì ở Đạo giáo sống lâu.
● Với một tôn giáo đề cao sự giải thoát một cách khắt khe, Phật giáo chủ chương triết học siêu hình và nhận thức học hay nhân minh học với những điểm trung tâm là chân lý, kinh nghiệm bản thân, kiến thức cần có trước, một tín tâm được thể hiện rõ ràng, một cơ sở tâm lý học chuyên chú đến niềm tin đặt trên nền tảng lý giải ( sa.hetu, en.reasoning ) như một khả năng tự nhiên của loài người - một tấm lòng tin tưởng.
→ Những điểm này không thu hút được giới trí thức Trung Hoa ← [ Tìm hiểu sơ: nhân minh học có nghĩa là nhận thức, lượng biết đối tượng ]
[ Có ba loại: ][ 1 Hiện lượng ( sa.pratyaksapramana ) ][ năng lực nhận thức cảm tính trực tiếp thông qua các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ]
[ trong hiện lượng còn được phân làm hai loại: ][ 1.a Chân hiện lượng hay ngắn gọn là lượng gồm ba đặc điểm: ][ 1.a.a Hiện thức: các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ][ 1.a.b Hiện cảnh: chỉ các cảnh, các đối tượng của giác quan như sắc, âm thanh, hương, vị, chạm ][ 1.a.c Bắt tư lự: nghĩa là trong lúc đối cảnh thì trí biết và vật đều hiện rõ ràng đồng thời với trí ]
[ vừa đối vật thì biết ngay, nhưng chưa tỏ ra ý phân biệt ][ 2 Tỉ lượng ( sa.anumanapramana, en.inference, de.schlussfolgerung ) ][ là khả năng nhận thức lý tính, gián tiếp thông qua các quá trình của tư duy trừu tượng như ][ phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ ; hay nói ngắn gọn tỉ lượng chính là cái biết bằng so sánh ][ Từ sự kiện đã được biết, được thấy mà suy ra những gì chưa trực tiếp biết đến, thấy đến.]
[ Có hai loại tỉ lượng: ][ 2.a Chân tỉ lượng là trí suy luận đúng đắn, có hai điểm ( a ) và ( b ) đồng với chân hiện lượng nhưng ( c ) ]
[ là ý phân biệt chính chắn và ( d ) luận thức đầy đủ ][ 2.b Tự tỉ lượng là suy luận không đúng, những đặc điểm ( a ), ( c ) của chân tỉ lượng thiếu ]
[ không được đáp ứng Ngoài ra tỉ lượng còn vướng ba lỗi sau: ]
[ 2.b.a Nhìn cái không phải có ][ 2.b.b Không nhìn thấy cái có ][ 2.b.c Nhìn sai cái có ][ 3 Phi lượng ( sa.abhavapramana ) theo định nghĩa của sư Pháp xứng thì ][ đây là loại nhận thức không thuộc về cả hai loại trên và đươc ghi nhận “vượt quá bên trên” ][ của hiện lượng - tỉ lượng được xác định hoàn toàn thiếu vắng nhận thức ( eng.mere absence of cognition ) ]
[ Nhận thức về không gian, thành tố thứ 5 trong ngũ đại cũng là ví dụ cho loại nhận thức này ][ Còn có ý kiến gọi khái niệm này là giả nhận thức hay coi là một thành phần của hiện lượng ]
Trang 23+ Điều giới tri thức Trung Hoa và cơ sở luận bàn duy nhất có thể đồng hóa hệ thống tư tưởng ngoại lai này là huyền học, được các tân đạo gia ( sau thế kỷ thứ 2 ) đề xướng, chuyên chú vào ý nghĩa siêu hình của hữu vô ( tồn tại và phi tồn tại ).
● Khái niệm Đạo ( hữu _ vô ) và tương quan chặt chẽ khái niệm Niết Bàn đối lập với Luân Hồi ( là tồn tại hay phi tồn tại ).
[ Huyền học hay còn gọi là chủ nghĩa huyền bí ( Mystikos ) ][ chuyên chú vào ý nghĩa siêu hình của tồn tại và phi tồn tại ( Hữu vô ) ][ là căn nguyên của một tôn giáo bí ẩn theo đuổi được hiệp thông, đồng nhất ][ hay được giác ngộ với chân lý sau cùng thông qua những kinh nghiệm đươc hướng dẫn, ]
[ Bản năng, trực giác, trí huệ ][ Hầu như xuất hiện trong tất cả các tôn giáo ]
+ Trong Phật giáo có một nghịch thuyết: nghịch lý của lòng tham ái” được các Đạo gia chú ý.
● Luân hồi _ sự tái sinh làm người là kết quả của lòng tham ái.
● Niết bàn _ chỉ đạt được khi buông xã được lòng tham ái.
Vậy có nghĩa là để thành tựu Niết Bàn, hành giả cũng phải buông bỏ lòng ham muốn thành tựu đó Cách lập luận này
cho thấy ý nghĩa tinh tế của hình tượng Bồ Tát trong Phật giáo Đại Thừa.
[ Là người đã đủ điều kiện chứng ngộ Niết Bàn nhưng vẫn ở lại vòng Luân Hồi để cứu độ chúng sinh ]
Nhánh Đại Thừa của Phật giáo này rất thành công tại Trung Hoa vì giáo lý của trường phái này chỉ thể hiện một
Bát-nhã-+ Trường phái Phật giáo với vũ trụ quan có điểm tương đồng với Tân Đạo Gia là:
● Thiên Thai Tông do Trí Di ( 538 - 597 ) sáng lập.
- Dựa trên Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, còn gọi là Pháp Hoa Tông.
- Xem Long Thụ ( sa Nagarjuna ) là sơ tổ vì ba quan điểm chính nên còn được gọi là Thiên Thai Tam Quan với giáo lý là tất cả mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thật chất của chúng là tính không ( sa Sunyata ) Mọi hiện tượng là biểu hiện của một thể tuyệt đối đó là Chân Như ( sa Tathata ).
Trang 24→ Chẩn lý này cờn nhẩ)n mậnh tính xưyên sưô)t của sự vật ←
→ Cái toàn thê và cái riêng lẻ là một ←
→ Toàn bộ các pháp tuy khác nhau nhưng đan lồng vào nhau, ←
→ cái này chứa đựng cái kia, ←
→ Không _ Giả _ Trưng chỉ là một và tù một mà ra ←
[ Các đại sư tông phái này thường nói: ][ Toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải ][ hay một ý niệm là ba ngàn thế giới ]
- Chủ trương “Nhất niệm phát sinh tam thiên đại thiên thế giới xuất hiện.”
- Phương pháp tu dựa trên phép Thiền Chỉ Quán và chứa đựng các yếu tố mật tộng như Chân Ngôn ( sa.mantra ) và Mạn-đồ-la ( sa.mandala ).
- Là một tông phái rộng rãi vì tổng hợp chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác, điều này được thấy qua quan điểm “Ngũ thời, bát giáo.”
Năm thời dựa trên trình tự nhân gian như sau:
1_ Thời giáo Hoa Nghiêm: chỉ kéo dài 3 tuần, dựa trên Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh ( sa.
buddhavatamsaka-sutra ) Là giai đoạn giáo hóa của Phật ngay sau khi Ngài đắc đạo Kinh Hoa Nghiêm chỉ rõ toàn
thể vũ trụ chỉ là phát biểu của cái tuyệt đối Thời đó các vị đệ tử chưa lĩnh hội được điều này.
2_ Thời giáo hàm: nhận thấy nhiều người không thể lĩnh hội kinh Hoa Nghiêm nên nên Phật bắt đầu giảng kinh hàm ( sa.agama ) Giai đoạn này Phật chưa nói hết tất cả, chỉ thuyết những điều mà đệ tử có thể hiểu được Phật
A-thuyết Tứ Diệu Đế, Bát Chính Đạo và A-thuyết Duyên Khởi Kéo dài 12 năm.
3_ Thời giáo Phương đẳng: bắt đầu giai đoạn sơ khởi của Đại Thừa Phật nhắc đến tính ưu việt của một vị Bồ Tát so với một vị A-la-hán, nhấn mạnh đến sự đồng nhất giữa Phật và chúng sinh, giữa tương đối và tuyệt đối.
4_ Thời giáo Bát-nhã-ba-la-mật-đa: kéo dài 22 năm, nói đến tính không của vạn sự và cái ảo tưởng giả tạo của mọi
hiện nhị nguyên.
5_ Thời giáo Diệu Pháp Liên Hoa và Đại Niết Bàn: gồm 8 năm cuối đời đức Phật Thuyết về thể tính duy nhất của mọi hiện tượng tưởng chừng rất khác biệt Ba thừa là Thanh Văn, Độc Giác, Bồ Tát chỉ có giá trị tạm thời và được xếp vào một thừa duy nhất là Nhất Thừa ( sa ekayana ) hay Phật Thừa ( sa buddhayana ) Đây là thời kỳ Phật nói rõ
2 Phương pháp Tiệm Ngộ đi từ đơn giản đến phức tạp của kinh A-hàm, Phương Đẳng, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.
3 Phương pháp Mật Giáo là cách Phật dạy cho một người nhất định và chỉ người đó được lĩnh hội Phương
pháp này Phật dạy ở chốn đông người nhưng chỉ có một người trong số đó có thể lĩnh hội được.
4 Phương pháp Bất Định Phật dùng dạy cho nhiều người, nhưng mỗi người nghe và hiểu khác nhau.
[ Phương pháp 3, 4 được Phật áp dụng khi trình độ người nghe không đồng đều ]
Theo tính chất luận:
1 Tạng giáo giáo pháp Tiểu Thừa dành cho Thanh Văn và Độc Giác Phật.
2 Thông Giáo giáo pháp tổng quát bao gồm Tiểu Thừa và Đại Thừa dành cho Thanh Văn, Độc Giác Phật và Bồ
Tát cấp thấp.
3 Biệt Giáo là giáo pháp đặc biệt dành cho Bồ Tát.
4 Viên Giáo là giáo pháp Viên Mãn tức là giáo pháp Trung Quán phá bỏ mọi chấp trước.
[ Kinh Hoa Nghiêm đại diện cho giáo pháp 3 và 4 ]
Trang 25[ Kinh A-hàm là kinh của Tiểu Thừa ][ Kinh hệ Phương Đẳng chứa cả bốn giáo pháp ][ Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa chứa giáo pháp 2,3,4 ][ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa không thuộc đốn hay tiệm mà chứa đựng sự thật cuối cùng, giáo pháp Viên Mãn ]
● Hoa Nghiêm Tông đề cao “Lý sự vô ngại Sự sự vô ngại.”
→ Lý là mô)i tưong tác của mội sự vật vói nhaư trong Pháp giói ←
→ Sự vật trong Pháp giói không rời rậc vô trật tự ←
→ mà lưôn có qưan hệ gắn bó mật thiê)t vói nhaư bằ=ng các lực tưong tác ←
[ Các lực tương tác cơ bản: ][ Lực hấp dẫn có tác dụng kéo các vật chất lại với nhau tác dụng với mặt vĩ mô ]
[ Lực điện từ là sự tương tác giữa các vật chất chứa điện tích âm, dương, trung hòa hay không mang điện ]
[ Tạo ra từ trường ][ Lực tương tác mạnh là lực liên kết các hạt quark hình thành ra hạt proton và neutron ]
[ tạo nên sự bền vững của hạt nhân nguyên tử và giữ cho electron chuyển động theo một quỹ đạo nhất định ]
[ Lực tương tác yếu làm xuất hiện các hiện tượng phóng xạ, ][ tức là giải phóng một số proton và neutron khiến nguyên tử dần dần bị phân rã ]
[ Từ năm 1983 khi khám phá ra các hạt tương tác Boson W và Boson Z thì có thể gom thành một lực chung ]
[ đó là lực tương tác điện yếu ]
→ Các mối tương quan giữa các sự vật trong tự nhiên đều được ←
→ đúc kết qua nghiên cứu và kinh nghiệm thành quy luật, định luật như vật lý như ←
→ sinh lý, hình học, hóa học, số học, tâm lý học, luân lý hay đạo đức học… gọi chung là lý ←
→ “Sự” có hai hình thái là ←
→ vật chất như sông, núi, con người, động vật…←
→ và phi vật chẩ)t như tinh thẩ=n, tình cảm ( yêư, hận, hưyê)t thô)ng, qưê hưong…), lờng tự ái…]
→ Pháp giói là tù bao hàm cả hai hình thái của “Sự”, ←
→ Còn bao hàm cả sáu đường: ←
→ Trời _ Người _ A-tu-la _ Ngạ Quỷ _ Súc Sinh _ Địa Ngục, ←
→ bô)n loài: Thai sanh _ Noãn sanh _ Thẩ)p sanh _ Vi Khưẩn _ Hóa sanh, ←
→ ba cõi: Dực giói _ Sắc giói _ Vô giói ←
→ Các sự vật trong Pháp giói có giói hận, có sự phẩn cách giữa chúng vói nhaư, ←
trông như riêng biệt và độc lập, được phân biệt qua sáu tướng: ←
→ Tống tướng tức là sự được với đầy đủ những gì nên có, không bị khiếm khuyết ←
→ Biệt tướng nghĩa là tất cả những đặc điểm sinh học mặc định như cấu tạo giống nhau ←
→ ví dụ như loài người đều có khung xương, đầu, thân, tay chân, mắt, tai, mũi, lưỡi giống nhau ←
→ nhưng đặc điểm bên ngoài có thể khác nhau ←
→ ví dự là màư da, màư tóc, màư mắt, cao, thẩ)p, mập, ô)m, phong tực, tập qưán, ngôn ngữ…←
→ Đồ tướng là sự tương đồng của các chức năng hoạt động cơ bản ←
→ ví dụ hô hấp, tiêu hóa, đi lại, nhìn, nếm, bài tiết, lao động…←
→ Dị tướng nói đến sự khác biệt của chức năng hoạt động giống nhau ←
→ nhưng cách hoạt động cụ thể sẽ có khác nhau ←
→ ví dụ như người ăn gạo sẽ khác người ăn lúa mì, người ăn chay khác người ăn mặn ←
→ người đồng bằng sẽ khác với người vùng cao…←
→ Chung là những khác biệt do điều kiện và môi trường sống ←
→ Thành tướng là quá trình hình thành đến hoàn thiện của sự vật ←
→ Hoậi tưóng là qưá trình sưy tàn rô=i diệt vong của sự vật ← [ Ngoài con người thì tất cả mọi vật cũng đều có lục tướng ]
→ “Ngậi” là vộng tưởng, phẩn biệt, chẩ)p trưóc ←
→ cũng tức là nói sự phiền não, dục vọng chính là chướng ngại ←
→ Những chướng ngại trên tâm lý được buông bỏ thì trên việc không có chướng ngại ←
Trang 26[ Trong kinh Hoa Nghiêm, năm mươi ba Đồng Tham ][ Là năm mươi ba vị Phật, không phải là Bồ Tát ][ Tất cả đều dùng thân phận Đại Sĩ để xuất hiện ]
→ Đại Sĩ là người nội chứng, vẫn thị hiện, không phải là thật ←
→ Chân thật đều là Như Lai, nam có nữ có, già có trẻ có, thuộc tất cả các ngành nghề ←
→ Tù trong một nghê= nghiệp làm ra một tẩ)m gưong tô)t nhẩ)t, mô phậm tô)t nhẩ)t ←
→ Tu học là ở cuộc sống hằng ngày, không cần rời bỏ đời sống ←
→ Nê)ư như nói phát tẩm hộc Phật phải xã bở tẩ)t cả, qưy y xưẩ)t gia ←
→ Xuất gia nếu không gặp được duyên tốt thì tạo nghiệp càng sâu, càng nặng, ←
→ bị đọa vào A-tỳ Địa Ngục càng nhanh, càng thê thảm ←
“Lý sự vô ngại” ý nói giữa lý và sự không có sự mâu thuẫn gây trở ngại, sự do lý mà thành tựu.
Khi giữa lý và sự có mâu thuẫn không hợp nhau thì lý đó sai Một lý có thể đúng hay sai ở không - thời gian khác, hay
bị thay đổi do các tác nhân bên ngoài như độ cao hay do môi trường…
Điều khiến cho lý sự sự vô ngại là do bản chất ảo của chúng.
[ Theo cái thấy của Phật, Bồ Tát hay Tổ Sư như huệ năng thì không có một vật nào có thật _ Bổn lai vô nhất vật ]
[ Tất cả sự đều là ảo, tất cả lý cũng là ảo vì vậy nên không thể gây trở ngại cho nhau được ]
[ Ảo không phải là không có, có nhưng không thật, không bền vững ]
→ Đây chính là điểm khiến Phật giáo khác biệt với các tôn giáo khác ←
Tại sao sự vật không có thật?
Bởi vì vật chất không có thật thể mà hình dạng có được là từ sự liên kết của các hạt cơ bản nhất như là các hạt quark, proton, neutron, electron hợp lại tạo thành nguyên tử, chúng đều không thể độc lập mà tồn tại mà phải liên kết với nhau Cái ta thấy và gọi là nguyên tử không phải là vật, đó là ảo tưởng của tâm thức Và vì bản chất của lý và sự đều
là ảo nên các hình tướng tuy khác nhau nhưng bản chất thì giống nhau, hình tướng là do tâm sinh từ nhất niệm vô
minh.
[ Những gì nhìn thấy chỉ thể hiện sự liên kết của: ] [ Các hạt quark hình thành proton, neutron ][ Các proton, neutron lại cùng nhau cho ra hạt nhân ][ Hạt nhân kết hợp cùng electron trở thành nguyên tử ][ Khi các electron bị tách ra khỏi nguyên tử, bắt nó dừng lại để quan sát ][ thì nó sẽ tan biến ; Một dòng electron tự do tức là khi thoát khỏi nguyên tử chúng chạy trong dây dẫn ][ thì tạo ra dòng điện để chuyển đổi sang các dạng năng lượng khác và dòng điện cũng biến mất ][ Nếu có thể phá vỡ liên kết của porton hoặc neutron sẽ giải phóng ra các hạt quark, ]
[ nhưng cần có nguồn năng lượng cực kì lớn để làm được điều này ][ nên người ta gọi đó là hiện tượng giam hãm ( confinement ) ][ do hạt quark bị giam hãm vĩnh viễn trong proton và neutron ][ Đối với Phật giáo, điều này ứng với tâm cố chấp chấp của chúng sinh, ][ chứng ngộ trong Phật giáo cũng đồng nghĩa phá bỏ được chấp niệm ở tầng sâu vô thức của tâm thức ][ Tâm là một dạng năng lượng vô hạn, nên khi phá vỡ được chấp niệm sẽ giải phóng ra các hạt quark, ]
[ đưa vật chất trở về không hoặc sẽ được tái cấu trúc lại ][ thành nguyên tử khác, vật chất khác theo ý muốn ( còn được gọi là như ý thông ) ]
→ Các nhà khoa học cũng nhận ra điều này và họ đã đề cập đến khái niệm sự kết thúc của vật lý học: ←
→ Stẻphẻn Hawking công bô) bài giảng Godẻl & Thẻ ẻnd of Physics ( Godẻl và sự kê)t thúc của vật lý hộc ) ←
→ Cho thấy sự thay đổi lớn ở ông trong việc nhận thức về Lý thuyết cuối cùng của vật lý học ( Final Theory ), ←
→ khác xa với những gì ông đã trình bày trong cuốn lược sử thời gian vào 11 năm trước ←
→ Stephen Hawking đã chứng minh định lý bất toàn, ←
→ vật lý học sẽ không bao giờ đi đến lý thuyết cuối cùng nhằm giải thích tất cả mọi sự lý trong vũ trụ ←
→ Bởi vì lưôn có mẩư thưẩ$n phát sinh trong bẩ)t kì hệ thô)ng dưy lý nào, ←
→ dù nó có chậRt chẽ, như toán hay khoa hộc máy tính ←
→ Do sự mẩư thưẩ$n lưôn xưẩ)t hiện khiê)n cho việc hình thành lý thưyê)t cưô)i cùng ←
→ hay lý thuyết có thể giải thích được tất cả là không thể ←
Trang 27→ Nhà toán hộc David Hilbẻrt; Nhà khoa hộc thiên tài Albẻrt Einstẻin ←
→ cũng đành chịu thất bại trước việc tìm kiếm lý thuyết này ←
Cốt lõi ở việc Giác Ngộ, có đoạn được tham - sân - si? Có xã bỏ được dục vọng ngay trong cuộc sống? Chính ngay trong cuộc sống thành tựu vô lượng pháp môn, thành tựu vô thượng Phật Đạo, đó mới gọi là học Phật Tuyệt nhiên
không phải xã bỏ sự nghiệp của bản thân.
● Thiền Tông
- Phật giáo Đại Thừa.
- Xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 6, 7.
- Khởi phát từ đời tổ sư thứ 28 Bồ-đề-đạt-ma, truyền bá Thiền Tông và kết hợp với Đạo Lão, rồi dần phát triển lớn mạnh ở Trung Quốc.
Tây Thiên Nhị Thập Bát Tổ hay Nhị Thập Bát Tổ của Thiền Tông ở Ấn Độ:
1 Ma-ha-ca-diếp ( sa Mahakasyapa ).
2 A-nan-đà ( sa Ananda ).
3 Thương-na-hòa-tu ( sa Sanavasin ).
4 Ưu-bà-cúc-đa ( sa Upagupta ).
5 Đề-đa-ca ( sa Dhitika ).
6 Di-già-ca ( sa Misaka ).
7 Bà-tu-mật ( sa Vasumitra ), còn gọi Thế Hữu.
8 Phà-đà-nan-đề ( sa Buddhanandi ) hoặc
Phật-đà-nan-đề.
9 Phù-đà-mật-đa ( sa Buddhamitra ) hoặc
Phật-đà-mật-đa.
10 Bà-lật-thấp-bà ( sa Parsva ) hay Hiếp tôn giả.
11 Phú-na-dạ-xa ( sa Punayasa ).
12 A-na-bồ-đề ( sa Anabodhi ) hay Mã Minh
( sa Avaghosa ).
13 Ca-tì-ma-la ( sa Kapimala )
14 Long Thụ ( sa Nagarjuna ) còn gọi
Na-già-hạt-thụ-na.
15 Ka-na-đề-bà ( sa Kanadeva ) hay Đề-bà hoặc
Thánh Thiên ( sa Aryadeva ).
16 La-hầu-la-đa ( sa Rahulabhadra ).
17 Tăng-già-nan-đề ( sa Samghanandi )
18 Tăng-già-xá-đa ( sa samghayathata ).
19 Cưu-ma-la-đa ( sa Kumaralata ).
20 Xà-dạ-đa ( sa Sayata ).
21 Thế Thân ( sa Vasubandhu ) hoặc Thiên
Thân, Bà-tu-bàn-đầu.
22 Ma-noa-la ( sa Manorata ).
23 Cưu-lặc-na ( sa haklenayaśa ) hoặc
Hạc-lặc-na.
24 Sư Tử Bồ-đề ( sa Siṃhabodhi )
25 Bà-xá-tư-đa ( sa Basasita).
26 Bất-như-mật-đa ( sa Puṇyamitra).
27 Bát-nhã-đa-la ( sa Prajnadhara).
28 Bồ-đề-đạt-ma ( sa Bodhidharma).
Sáu vị tổ sư của Thiền Tông Trung Quốc:
Suốt quãng thời gian từ đời thứ nhất đến đời thứ sáu ở Trung Quốc, Phật giáo và Lão giáo đã có nhiều trộn lẫn với
nhau, nhất là trong phái Thiền Đốn Ngộ của Huệ Năng tai miền Nam Trung Quốc.
[ Phái này phát triển như một ngọn hải đăng soi sáng dẫn đường trên biển đêm ]
[ Nhất là ở thời nhà Đường, đầu đời nhà Tống ][ Xuất hiện nhiều bậc thiền sư danh tiếng như: ][ Mã Tổ Đạo Nhất ; Bách Trượng Hoài Hải ; Triệu Châu Tòng Thẩm ; Lâm Tế Nghĩa Huyền…]
[ Lan truyền sang các nước Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc…]
[ Phương pháp thiền đốn ngộ dần chia thành Ngũ Gia Thất Tông ][ Chỉ khác nhau về cách giáo hóa chứ không khác nhau về nội dung đích thực của Thiền ]
[ Gồm: ][ Tào Động Tông ; Vân Môn Tông ][ Pháp Nhân Tông ; Quy Ngưỡng Tông ; Hoàng Bá Tông ; Lâm Tế Tông ]
[ và hai bộ phái của Lâm Tế Tông là: ][ Dương Kì Phái ; Hoàng Long Phái ]
Trang 28Nguyên Hi Huyền, Minh Am Vĩnh Tây, Nam Phố Thiệu Minh
Hoàng Bá Tông do thiền sư Ẩn Nguyên Long Kì truyền bá sang Nhật, ngày nay không còn ảnh hưởng.
Vị thiền sư xuất chúng Bạch Ẩn Huệ Lạc thuộc dòng Lâm Tế là người khôi phục Thiền Nhật Bản trong thế kỷ 18.
Tại Việt Nam:
Phật giáo truyền vào Việt Nam trước cả Trung Quốc với trung tâm Phật giáo là ở Luy Lâu, theo sau Phật giáo, Thiền tông Ấn Độ được truyền vào Việt Nam do các thiền sư là Mâu Tử, Khương Tăng Hội, những vị này đã tu tập nhiều năm ở Việt Nam trước khi truyền đạo ở Trung Quốc, chứng minh cho sự phát triển rực rỡ của Thiền Tông từng có ở
Việt Nam ở thế kỷ 2 và 3 ( ? ).
Thiền tông Trung Quốc được truyền vào Việt Nam bởi thiền sư:
Đầu tiên là thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi _ sa Vinitaruci ( ? - 594 ), đắc pháp nơi Tam Tổ Tăng Xán ( ? - 606 ) Tiếp đến là đệ tử của thiền sư Bách Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông ( ? - 826 ) truyền tông chỉ Huệ Năng Rồi thiền sư Thạch Liêm ( 1633 - 1704 ) Tào Động tông đời thứ 29, là người đầu tiên truyền Tào Động Tông vào miền Trung Việt Nam, Thông Giác Thủy Nguyệt ( 1637 - 1704 ) pháp hệ 35 là người đầu tiên truyền Tào Động Tông vào
miền Bắc Việt Nam.
Lâm Tế Tông lần đầu truyền vào miền Trung nhờ vào vị thiền sư Nguyên Thiều ( 1648 - 1728 ) pháp hệ 33 và hòa
thượng Chuyết Công ( 1590 - 1644 ) là người truyền tông vào miền Bắc.
Vân Môn Tông do thiền sư Thảo Đường ( thế kỷ 11 ) là đệ tử của Tuyết Đậu Trọng Hiển truyền sang Việt Nam Còn phía Bắc có Tông phái thiền do Thần Tú chủ trương, nghĩa là ngộ theo cấp bậc, không kéo dài được lâu.
[ Thiền tuy bắt nguồn ở Ấn Độ nhưng đã trở thành tông phái độc lập ở Trung Quốc ][ Sau thời của lục tổ Huệ Năng, thiền tông đã hấp thụ cốt lõi của nền văn hóa triết lý Trung Quốc ]
[ Thiền tông xoay quanh thuyết Thật Tướng, khái niệm Vạn Pháp Duy Tâm ]
+ Đạo giáo triết học là Đạo học chủ trương tu tánh.
● Nghiêng về vấn đề giác ngộ, quay về với nội tâm tìm sự thanh tĩnh để đạt Đạo.
● Tương tự phương pháp Đốn Ngộ của Phật giáo.
● Những đại diện cho phái này như:
Văn Thủy chân kinh Sáng lập khoa Tử Vi
Trang 29→ Thẻo lý tưởng của một thánh nhẩn, ←
→ thực hiện Đạo bằng cách giữ gìn một tâm thức nhất định ←
+ Đạo giáo tôn giáo
● Tôn giáo đa thần.
● Tìm cách đạt được Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp như tĩnh tọa ( khí công, thái cực quyền ), sự tập trung cao độ, thiết tưởng hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ, huyền học để tạo một thế giới vi quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - qua đó đạt được sự hợp nhất với vũ trụ
- Đạo giáo phù thủy ( có nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật ) dùng các pháp thuật trừ tà, trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh.
- Đạo giáo Thần Tiên, Tiên Học hay Đơn Đạo là phương pháp tiệm tu, thấp đến cao, thô tới tinh, hữu vi đến vô vi Dạy tu luyện, luyện đan theo đuổi trường sinh bất lão, chủ yếu cho các người giàu có hay giai cấp quý tộc
Tu tiên còn hai cách:
Nội tu bằng việc rèn luyện thân thể, tức là lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, từ
thần trở về hư vô ( Đạo )
[ Con người cũng như vạn vật, được sinh ra từ Đạo, vậy nên mục đích tu luyện là trở về với Đạo ]
Dùng các phương pháp như:
Tịch cốc ( nhịn ăn ).
Dưỡng sinh.
Khí công Ngoại dưỡng ( dùng thuốc gọi là đan dược, kim đan, linh đan.
Có được từ việc luyện qua các nguyên liệu ( từ khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng, thủy ngân kết
hợp cùng các loại thảo dược ) trong lò lửa qua một quãng thời gian mà thành.
[ Nhiều trường phái Đạo tìm cách tu tập để đạt được trường sinh bất tử ][ xuất phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo đã hòa nhập vào Đạo giáo triết học ][ Thủy ngân từng được sử dụng nhưng vì khi đó chưa có sự hiểu biết về thủy ngân và độc tính của nó ]
- Khổng Tử và Lão Tử từng gặp nhau ở Lạc Dương, tại nơi giữ sách mà Lão Tử coi quản Sau
đó cả hai thường xuyên trao đổi, tranh luận về các nghi lễ và phép tắc vốn là những nền tảng của Khổng Giáo.
[ Lão Tử cho rằng việc Khổng Tử dự định khôi phục lễ giáo của nhà Chu ][ với ý muốn từ đó giúp thiên hạ Thái Bình là không thực dụng ]
[ Truyền thuyết của Đạo giáo cho rằng ]
Trang 30[ những lần gặp và tranh luận đó có ích cho Khổng Tử nhiều hơn là sách trong thư viện ]
- Về sau, chính sự của đất nước trên bờ vực tan rã, ông quyết định ra đi.
- Ông cưỡi trâu, đi về phía Tây qua lãnh thổ nước Tần.
- Sự lưu truyền có nhắc đến lần gặp nhau giữa Lão Tử và Doãn Hỉ ở cổng Tây ải Hàm Cốc, là người đã thuyết phục Lão Tử viết lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc Vì cho đến thời điểm đó Lão Tử cũng chỉ nói các triết thuyết mà thôi, cũng như Giê-su, Thích-ca, Khổng Tử ( những văn tuyển của họ hầu như đều được các đệ tử hoàn thành ).
- Theo đề nghị của người lính đó, ông đã viết lại kiến thức rồi đặt tên là Đạo Đức Kinh và sau đó biến mất vào sa mạc rộng lớn.
Tư tưởng Lão Tử
+ Đạo: nguyên lý cơ sở của vạn vật trên thế gian, xuyên suốt vạn vật.
“Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh Uyên hề tự vạn vật chi tông.”
[ Đạo trống không, nhưng đổ và mãi không đầy Đạo sâu thẳm, dường như là tông tổ của vạn vật ]
+ Vô Cực sinh Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi ( Âm - Dương ).
● Một, hai, ba được gọi là Tam Thiên Vị Âm Dương thu nhận sinh quang từ Thái Cực.
+ Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, bát bát sáu mươi bốn quẻ.
→ Âm Dương vừa xung đột vừa hòa hợp để tạo thành thiên địa vạn vật ←
● Vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành.
● Thuyết về năng lượng ( chân khí ).
● Thuyết âm dương.
● Kinh dịch ( dự đoán sự biến chuyển của mọi sự mọi vật trong ngũ hành, âm dương thông qua sáu mươi bốn quẻ ).
+ Trong khoảng không bao la có một sinh chất huyền diệu gọi là Đạo, Đạo biến hóa sinh âm dương, tạo nên vạn vật, vật sinh ra, tác động với nhau, phát triển, suy yếu rồi tan rã, trở về trạng thái không hình tức là trở về cái gốc ban đầu là Đạo.
+ Tin rằng thật sự có trường sinh bất tử từ những huyền thuật ( bắt nguồn của khái niệm cổ xưa này từng được ghi chép trong Nam Hoa Chân Kinh của Trang Tử, một tác phẩm nổi tiếng của đạo giáo vào khoảng thế kỷ thứ 4 TCN, các vị tiên trường sinh bất tử tiêu biểu như Ngọc Hoàng Đại Đế, Tây Vương Mẫu Những hình tượng đã có trong từ thời nhà Thương vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 TCN ).
+ Sự trình bày của Lão Tử Đạo là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, có sẵn một cách tự nhiên:
“Người ta bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự Nhiên.”
Trang 31● Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật.
● Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức và từ Đức trở về trong Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần biện chứng
âm dương.
● Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lý, công bằng, chu đáo, giả như “bớt chỗ thừa bù vào chỗ thiếu”, mọi vật đều liên thông đan lại với nhau như một mạng lưới “lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát” và do vậy mà không tranh cũng thắng, không nói mà ứng nghiệm ấy là sự màu nhiệm.
“Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt”
→ Mội việc thưận thẻo tự nhiên ←
→ Mọi sự can thiệp thái quá hay bất cập đều trái với lẽ tự nhiên ←
● Triết lý sống tối ưu của Lão Tử là:
“Muốn làm việc gì phải từ điểm đối lập là vô vi.”
→ Vô vi túc là hoàn toàn không làm gì ngưộc vói tự nhiên, hờa nhập vói thiên nhiên, ←
→ không làm gì thái quá, không bị ràng buộc vào mục đích và dục vọng cá nhân ←
→ hành động theo nguyên lý vũ trụ ←
→ vì “vật cực tắc phản”, kết quả thu được có khi còn tệ hơn là hoàn toàn không làm gì ←
● Lý vô vi gồm:
- Vô cầu, giúp ta vô vọng, xa lìa vọng tưởng điên đảo.
- Vô tranh, giúp ta vô đại, xa lìa ý tưởng hơn thua, tranh chấp.
- Vô đoạt, giúp ta vô thủ, xa lìa ý tưởng có, không, được, mất.
- Vô chấp, giúp ta vô ngại, xa lìa ý tưởng trược thanh.
“Vô vi tức Đạo, Đạo thường vô vi nhi vô bất vi.”
→ Không làm tức là Đạo, Đạo thường không làm mà không gì không làm được ←
→ Từ chỗ không làm mà làm được tất cả, đó là bí quyết của Đạo ←
● Triết lý vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân “chỉ vì mình không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình”.
● Cách nhìn nhận các phương diện:
- Chính trị _ xã hội: Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói:
“Muốn dân yên ổn thì phải như kho một nồi cá nhỏ, cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho
không khuấy đảo, nếu như cạo, cắt khuấy chỉ làm cá thêm nát.”
“Thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì dân càng nghèo, dân nhiều lợi khí thì quốc gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo thuật
thì vật kỳ lạ càng xuất hiện, pháp luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.”
[ Người lãnh đạo nên dùng vô vi để trở về với đạo hay cái gốc tự nhiên ban đầu ( phản phục ) ]
[ thì mới có thể an bang tế thế ] [ chống lại chủ trương hữu vi: pháp luật cùng mọi ràng buộc của chuẩn mực đạo đức]
- Kiếp nhân sinh:
Trang 32● Đạo chẳng phải là gì khác ngoài triết lý tôn trọng tự nhiên ; Đức là phạm trù hóa luật âm dương biến đổi.
● Đạo Trời không thân ai, không sơ ai Trời Đất sanh ra muôn vật, rau cỏ, chim muôn, nhân loại, không phải cốt để chúng ăn thịt nhau, nhưng các sinh vật đều được dùng cái nó thích để sống.
● Lão Tử phàn nàn:
“Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ai làm.”
[ Khổng thì nhập thế hữu vi, Lão thì xuất thế vô vi ]
+ Tác phẩm nổi bật của Lão Tử_Đạo Đức Kinh
● Lão Tử được các đạo gia cho là tác giả của Đạo đức kinh.
- Chưa xác định được chính xác rằng có thật sự có một triết gia là Lão Tử hay không, thân thế ông có nhiều huyền thoại phủ vây nên còn gây tranh cãi trong giới học thuật.
- Tương truyền ông sống trong khoảng thế kỷ thứ 6 TCN, thời Chiến Quốc, thời của chiến tranh
và sự loạn ly, mất mát đau thương.
- Là thời kỳ xuất hiện nhiều nhà tư tưởng tìm cách giải hóa vấn đề để an dân lập quốc nên còn được gọi là thời kỳ “Bách Gia Chư Tử ( hàng trăm trường phái ).
- Đạo Đức Kinh dung hòa và bao hàm những tư tưởng đó, hướng đến những nhà cầm quyền và phương cách dê tạo hòa bình.
- Lão Tử phát triển khái niệm đạo như sau:
“Đạo” nghĩa là “con đường”, “đường đi”, còn có nghĩa là “nói” hoặc là “tên”, “đặt tên”.
“Đạo khả đạo phi thường đạo.”
“ Danh khả danh phi thường danh.”
“Vô danh thiên địa chi thủy,”
“hữu danh vạn vật chi mẫu.”
[ Đạo mà nói được thì không phải là đạo bình thường nữa ][ Tên mà đặt được thì không còn là tên bình thường nữa.]
[ Không tên là gốc của thiên địa, ][ Có tên là mẹ của vạn vật ]
→ Mở rộng nghĩa trở thành quy luật hay nguyên lý tuần hoàn của vũ trụ tác động lên vũ trụ ←
→ Đạo là cách thức của tự nhiên ←
- Gồm hai quyển với tám mươi mốt chương
● Không là một bộ kinh có kết cấu rất logic của một thế giới quan mà là tập hợp những ngạn ngữ huyền
bí, tối nghĩa, dường như muốn người đọc phải tự lý giải một cách chủ quan.
● Chính vì vậy mà người ta tìm thấy hàng trăm bản chú giải và dịch nghĩa của bộ kinh này.
● Nội dung liên quan rộng lớn đến nhiều vấn đề như:
- Quan hệ giữa người với người.
- Quan hệ giữa người với thiên nhiên.
“Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên.”
● Có ý kiến cho rằng Đạo Đức Kinh là sách hướng dẫn dành cho một vị vua cách cai trị quốc gia theo hướng ôn hòa hơn: cai trị bằng cách không cai trị.
“Không tán dương người quyền quý thì dân không tranh tụng.”