Cách định nghĩa này về tôn giáo hẹp hơn với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quan, thuyết bất khả tri...vì những hệ thống này không dựa vào chức
Trang 1Tìm hiểu sơ lược các tôn giáo trên Thế
Giới
❏ Vedic Religion ( Ấn Giáo Phệ Đà / Vệ Đà ) 6 -> 8
❏ Visnuism / Vaishnavism ( Ấn Giáo Tì thấp nô ) 10
❏ Jaina Giáo ( Jainism, Kì-na giáo ) 51 -> 53
Trang 2- Tín ngưỡng mang tính dân gian nhiều hơn tôn giáo.
- Không có hệ thống chặt chẽ bằng tôn giáo
- Không có hệ thống điều hành, nếu có thì cũng lẻ tẻ rời rạc
- Chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có truyền thuyết, huyền thoại, thần tích
+ Tôn giáo
● Từ “tôn giáo” xuất phát từ tiếng La-tinh: religio _ tiếng anh: religion
● Mang tính dân tộc, hệ thống tổ chức, lý luận chặt chẽ
● Ý nghĩa là “tôn trọng những điều linh thiêng” ; “ tôn kính thần linh” ; “bổn phận-sự gắn kết của con
người với thần linh”
● Có thể được hiểu là niềm tin vào một sức mạnh siêu nhiên mà con người và mọi vật có mặt trên thế
giới
● Ý niệm cơ bản của tôn giáo về thế giới gồm hai phần:
- Linh thiêng ( Như những nhân vật với quyền năng chi phối vạn vật, vùng đất của những nhân
quyền năng )
- Trần tục ( Con người và nơi con người sinh sống )
● Liên hệ giữa hai phần này là trước khi được sinh ra để sống, sự sống, quá trình sống, cái chết, sau khi
chết cùng các đấng siêu nhiên cai quản
→ Do sự linh thiêng với nhiều quyền năng “ban cho”, “tước đoạt” và “trừng phạt” ←
→ nên con người cung kính sùng bái và dùng những lời nói, vật phẩm thông qua nghi lễ ←
→ để dâng lên đấng siêu nhiên nhằm bày tỏ tấm lòng ←
→ cùng sự cầu xin ban phước ; đó là cơ sở của tôn giáo ←
● Từ đó giải thích tất cả những gì xảy ra mà con người chưa thể nắm bắt được trong thế giới tự nhiên
biến đổi vô thường, nguồn gốc của con người? của vũ trụ? vì sao lại là như thế này màkhông phải là
như thế kia? sự liên hệ giữa con người với vũ trụ? ý nghĩa của tất cả sự tồn tại là gì?.v.v
● Chính vì chiêm nghiệm về nhân sinh, vạn vật như vậy nên tư tưởng tôn giáo thường mang đầy tính
● Nhưng ngày nay chỉ còn một số ít tôn giáo tồn tại và phát triển
● Đôi lúc tập thể đó không nhận thức hoặc không thừa nhận đó là tôn giáo nơi tôn giáo của
họ thì lúc
Trang 3này, khái quát rộng hơn, tôn giáo được hiểu là “tổ chức tôn giáo”, một tập thể gồmnhiều cá nhân cùng ủng hộ niềm tin vào một quan điểm ( niềm tin tối thượng ).
● Tôn giáo chỉ là cách suy niệm của những người không có tôn giáo bao phủ thực tại nơi những người có
tôn giáo
2
Trang 4● Định nghĩa theo chức năng bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào có phong tục nào có chức năng đề cập đến
con người, đạo đức, cái chết, thần linh ( nếu có ) Tức là bao gồm tất ca những hệ thống
vô thần, đơn
thần, đa thần và những hệ thống không đề cập đến vấn đề này vì không có bằng chứng
● Định nghĩa theo lối hình thể: các tôn giáo xác định những điều không thể quan sát bằng cách của khoa
học và chỉ dựa vào chức trách hay kinh nghiệm với thần thánh Cách định nghĩa này về tôn giáo hẹp
hơn với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quan, thuyết bất khả
tri vì những hệ thống này không dựa vào chức trách hay kinh nghiệm nhưng dựa vào cách hiểu theo
tượng tự nhiên một cách căn bản
● Định nghĩa theo lối tổ chức, định nghĩa tôn giáo là các hội đoàn, tín ngưỡng, tổ chức, phong tục, và
luật đạo đức chính thức của tất cả các tôn giáo chính có tổ chức Nghĩa này đặt "tôn giáo" vào một vị trí trái ngược với "tinh thần", cho nên không bao gồm những luận điệu của "tinh thần" về việc tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh Tuy nhiên, trong nghĩa này tôn giáo và tinh thần không cần
phải "được cái này mất cái kia": một người sùng đạo có thể có tinh thần hay không tinh thần, và một người có tinh thần có thể có hay không sùng đạo Theo tương tự, ta có thể xem "tôn giáo" như là than, củi, hay xăng, và "tinh thần" là ngọn lửa
● Biển cả, núi, sông, cây cối.v.v tất cả đều có sức mạnh mà con người không
nhìn thấy được
→ Thường được gọi là thuyết vật linh ←
Trang 5● Xã hội săn bắn hái lượm chưa có tổ chức phức tạp nên đời sống tôn giáo chủ yếu
đình
● Địa vị pháp sư ( Shaman ) được trao một người như lãnh tụ của tôn giáo nhưng việc
chiếm toàn bộ thời gian của người đó
+ Giai đoạn chăn nuôi trồng trọt, niềm tin vào thần thánh dần được phát triển, hệ thống văn hóa đạo đức được
ủng hộ bằng việc công nhận thần thánh đồng thời tôn giáo tôn giáo vượt quakhỏi phạm vị gia đình, gắn vào xã
hội, chính trị, lãnh tụ ( thường được xem là vua và tăng lữ như các Pharaoh Ai Cập )
+ Trước cách mạng công nghiệp, tôn giáo đã rất phát triển và là nền tảng quan trọng của thể chế
xã hội ở khắp
các lục địa Thời gian này các tôn giáo cũng nảy sinh nhiều xung đột với nhau như:
● Kitô giáo với Hồi giáo qua các cuộc Thập Tự Chinh
● Ấn Độ giáo và Phật giáo ở thế kỷ 13
3
Trang 6+ Từ khi cách mạng công nghiệp nổ ra, tiến bộ của khoa học kỹ thuật khiến cho ảnh hưởng tôn giáo không được
mạnh mẽ như trước, tôn giáo dần tách biệt khỏi nhà nước Làn sống khoa học thay đổi nhiều thứ trong cuộc
sống như con người không còn quá dựa dẫm vào tôn giáo
Đặc điểm chung trong tư tưởng
+ Thượng đế: tính siêu việt hay bản chất của tồn tại hay cái được loài người nhận thức là tồn tại
hệ tương quan với con người
+ Con người: đạo đức, cách cư xử, niềm tin v.v
+ Tạo hóa: những tín ngưỡng về nguồn gốc của vũ trụ, trái đất, sự sống, nhân loại
+ Thần thánh: tín ngưỡng về sự tồn tại hoặc không tồn tại cùng bản chất của những gì linh
thần thánh, ông trời
+ Tin và tìm nhiều cách thức liên lạc với bậc siêu nhiên, với những linh hồn của tự nhiên hay
khi chết
+ Những cách để nhận dạng và ca ngợi những gì tốt đẹp hay khừ khử đẩy lùi thứ xấu xa hay
nghiệm thu được từ những tìm tòi qua những kinh kệ thần chú, ca tụng
+ Truy tìm nguồn gốc mục đích của cuộc sống, mục tiêu trong cuộc đời
+ Tìm ra cơ cấu đạo lý của đạo đức, khái niệm để phân biệt thiện
ác, tốt xấu… + Chỉ ra ranh giới giữa nhu cầu và dục vọng
+ Niềm tin vào những cõi sau khi chết như thiêng đàng, địa ngục, niết bàn và cách hay lý do vìsao vào cõi ấy… + Các tôn giáo đều có câu trả lời khác nhau cho những điều trên
Những điểm tương đồng trong tục lệ
+ Cầu nguyện
+ Thờ phụng
+ Họp mặt thường niên với những người
cùng giáo + Những người trông coi hoặc
lãnh đạo tôn giáo + Nghi lễ cúng bái
+ Kinh sách truyền bá tư tưởng triết lý, đạo đức và những
+ Tín đồ tin vào duy trì việc học và làm theo giáo luật và
giáo lý
Trang 74
Trang 8● Ấn Độ Giáo ( Hindu hay Hinduism )
pháp tu tập và tư tưởng hệ thần học khác nhau
+ Từ những cuộc khảo cổ các di tích thu được một số hiện vật như những con ấn bằng đá ở
● Bà La Môn Giáo ● Ấn Giáo Bất nhị Phệ-đàn-đa nhất
● Visnuism / Vaisnavism ( Ấn Giáo Tì nguyên
+ Có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các tôn giáo khác, được pháp luật Ấn quy vào Ấn Độ Giáo nhưng thế giới thì
công nhận là tôn giáo độc lập như:
● Sikh Giáo ( en.Sikhism )
● Jaina Giáo ( sa.Jaina, en.Jainism /
Jinism ) ● Phật Giáo
Trang 95
Trang 10- Vedic Religion ( Ấn Giáo Phệ Đà / Vệ Đà )
Nguồn gốc:
+ Tầm 35 thế kỷ trước, bộ tộc du mục từ vùng Âu - Ấn là Aryen đang mở mang và xâm chiếm cácvùng lãnh
thổ ở Tây Bắc Ấn và lan rộng đến hầu hết bán đảo Ấn Độ Dùng Vệ Đà phát triển thành
một tôn giáo là Brahmana ( Bà-la-môn ) và phân hóa xã hội thành bốn giai cấp chính:
● Bậc 1: Chủng tộc Brahmana ( Bà-la-môn ) là các bậc tăng lữ, đạo sĩ học hành uyên bác, giới hạnh
đoan nghiêm; Văn hóa học thuật của dân tộc đều nằm trong tay các vị ở bậc này Có thể xem là giai
cấp thống trị
● Bậc 2: Chủng tộc Ksatriya ( Sát-đế-lỵ ) là các nòi giống
vua chúa ● Bậc 3: Chủng tộc Vaisya ( Phệ-xá ) là thường
dân, thương buôn ● Bậc 4: Chủng tộc Soudra ( Thủ-đà-la )
là nô lệ
● Còn 1 chủng tộc nữa là Pariahs ( Ba-ly-a ) những dân tộc man rợ
+ Đây có thể được xem là tôn giáo cổ nhất Ấn Độ với Thánh Điển còn lưu truyền
lại đến nay + Có nhiều điểm tương đồng với tôn giáo cổ ở Iran
+ Qua tên của các Vị Thần ta thấy được mối liên quan với các tôn giáo La Mã, Hy Lạp và Điều Đốn( Người
Tư tưởng triết lý
+ Tôn giáo đa Thần ( Ppolytheism ).Tư tưởng phức tạp, nghiêng về thờ phụng nhiều Thần
● Upanishad_Áo Nghĩa Thư
+ Trong kinh là những bản ca ngợi các vị thần (thần sông, thần lửa, thần núi v.v ) và ca tụng
huy hoàng như phép mầu của sự sống trong vũ trụ
+ Chiêm nghiệm về nguồn gốc vũ trụ, huyền thoại, triết học Đưa ra những thuyết như
Thuyết Mạt Thế (
Eschatology ), Học Thuyết về Ngã ( Atman ) Tin vào luân hồi và các quan điểm thần bí về
Trang 11vũ trụ như cho
rằng tồn tại một bản chất của vạn vật gọi là:
● Brahman_Phạm Thiên có nghĩa: Đại Ngã / Thần Ngã / Thần Ngã Lớn /
Thượng Đế ● Tiểu Ngã hiểu là Chúng sinh, được Thượng Đế tạo ra
+ Theo luật Brahmana chỉ có các chủng tộc thuộc bậc 1, 2 và 3 là có quyền đọc kinh học
chủng tộc còn lại chỉ là nô lệ phải phục vụ cho những chủng tộc ở trên
+ Trong thời gian trước khi Thích ca mâu ni thành đạo đã có rất nhiều trường phái tu luyện sinh
ra nhiều
hướng tư tưởng triết lý hay hành đạo khác nhau và đôi khi chống chọi phản bác nhau Các xu hướng triết lý
6
Trang 12phân hóa đa dạng như khoái lạc, ngẫu nhiên, duy vật, hoài nghi, mọi thứ, huyền bí ma thuật,
lên đồng, xem đó là Thần Thánh nhập và bản thân được ban cho những quyền lựcsiêu nhiên )
- Những Vị Thần được ca tụng nhiều nhất là Indra, Varuna và Agni
● Sama Veda ( Sa-ma Phệ-đà ) có một giá trị thực hành tương quan với nhau, vì nó bao gồm ca vịnh
dụng để hiến tế thần lửa Soma
● Yajur Veda ( Dạ-nhu Phệ-đà ) gồm những bài kệ lấy từ Lê-câu-phệ-đà chỉnh sửa với nhiều thể thức
văn xuôi từ nguyên bản chính
- Khác với nội dung của Sa-ma Phệ-đà, nội dung của Dạ-nhu Phệ-đà được xếp đặt theo thứ tự
và được áp dụng trong một chuỗi các công thức hàm chứa những nghi lễ khác nhau ( nghi lễ
dâng trăng tròn, nghi lễ dâng các vong nhân, dâng thần lửa, dâng bốn mùa, dângbội thu… ) vì thế nên còn được gọi là Phệ-đà của tế tự
● Atharva Veda ( A-thát-bà Phệ-đà ) được bắt đầu từ thời thượng cổ xa xưa nhưng để đạt được hình
thức hoàn thiện của hiện nay thì trễ hơn rất nhiều so với những bộ trên
Trang 13- Nội dung là triển khai ý nghĩa ba bộ kinh kia Gồm các bài thuyết giáo chứa đựng thông điệp
tâm linh căn bản của Ấn Độ Giáo
- Atharva Veda được lấy từ tên các vị tư tế xưa chuyên lo việc thờ cúng Thần Lửa gọi
là cácAtharva và những thần chú, bùa phép trừ ma yểm quỷ hay để cầu khẩn đếnthế giới Thần Linh, tràn ngập những ý niệm yêu thuật trong tầng lớp thườngdân
+ Bộ sa.Brahamana ( Phạm Thư ) biên soạn sau bản tập Phệ-đà, được viết dưới dạng văn xuôi
7
Trang 14● Vốn là một dạng văn học khá đặc biệt nhằm phát triển các lý giải mang
( theo Logical treatises )
● Nội dung thuật lại một cách tỉ mỉ chi tiết những nghi thức tụng
niệm, làm lễ ● Bàn luận về căn nguyên và ý nghĩa linh thiêng của
việc nghi thức, hành lễ ● Càng qua nhiều thế hệ thì các nghi lễ
càng trở nên phức tạp hơn
● Từ vấn đề trên nên cần có sự sắp xếp các nghi lễ theo chức năng cúng tế khác nhau,
phân chia chuyên trách trong tầng lớp Tăng Lữ
→ Đây là thời kỳ hệ thống giai cấp được thành hình ←
+ Bộ sa.Aranyaka ( Sâm Lâm Thư nghĩa là sách dạy trong rừng )
● Có lẽ là biên soạn cho những người lớn tuổi đã vào rừng để an dưỡng, không thể
nghi thức hiến tế tỉ mỉ )
● Phát triển từ Phạm Thư nói về sự phỏng đoán trong những vấn đề siêu hình
● Thiền định tập trung vào những biểu tượng ( tư duy triết học về bản chất của sự thật ) được xem là
công đức lớn nhất, dần thế chỗ cho những nghi thức hiến tế vốn là trật tự ưu việt
● xu hướng Thiền Quán lúc bình minh ( Usas ), sự phát triển của suy nghiệm mang đến cái thiện tối cao ● Dần tạo nên kết quả thay thế thực hành hiến tế của Phệ-đà và tạo nên yêu cầu thiền định mang tính
triết học, tự tri ( self-knowledge )
● đây là giai đoạn tư tưởng tự do đã nỗ lực từ từ để thoát khỏi vòng tế tự xiềng xích suốt thời gian dài
+ Bộ sa.Upanisad ( Áo Nghĩa Thư ) được Sâm Lâm Thư mở đường
● Áo Nghĩa Thư tiếp tục góp phần làm sống động thêm nền triết học suy nghiệm
● Phát triển thành cội nguồn của mọi triết học phát sinh từ thế giới quan của tư tưởng đạo Hindu
→ Được xem là những văn bản sa.Ruti ( Thiên Khải ) ←
→ có nghĩa là được trời khai mở cho thấy ←
→ và ảnh hưởng lớn đến các nhánh tôn giáo sau này ở Ấn Độ ←
→ Người Ấn Độ thời Phệ Đà cầu mong Thần Thánh ban con cái, sức khỏe, ←
→ phồn vinh, chiến thắng, sự sống trăm năm, ←
→ sự thứ lỗi cho những lần vi phạm quy luật vũ trụ hoặc sa.rta ( chân lý ) ←
→ và được về sa.svarga ( thiên đường ) sau khi qua đời ←
+ Trách nhiệm của người theo đạo là:
● Nghiên cứu kinh điển, giữ đúng nghi lễ
tế tự ● Tế tự Chư Thiên và Tổ Tiên
● Nuôi dưỡng con trai để lưu giữ truyền thống cúng tế
Trang 158
Trang 16- Bà-La-Môn-Giáo
Lịch sử phát triển:
+ Là một nhánh của tôn giáo Phệ-đà phát triển theo hướng nhấn mạnh sự thanh tịnh khi thực hiệncác nghi lễ
tế Thần Thánh, dần chuyển hóa khai sinh ra Đạo Bà La Môn vào khoảng 1000 - 500 TCN
+ Loại bỏ tầng lớp phía dưới ra khỏi việc thực hành tế lễ cũng như nghiên cứu Phệ Đà
+ Trong Bà La Môn, tế lễ trở thành một khoa học xử lý mối tương quan giữa Đại Vũ Trụ và Vi Quan
luật nhân quả ( Nghiệp_sa.Karman )
+ Sự sống trên Thiên Đường không còn là sự cứu rỗi, nơi đó vẫn chịu quy luật của nhân quả luân hồi vậy nên để
giải thoát không thể do Chư Thiên ban phát và cũng tế cũng không mang lại điều đó
+ Sự giải thoát chỉ có thông qua trí tuệ, mục đích cùng sự nhận thức để đạt được trạng thái
+ Với khái niệm như vậy, tôn giáo Phệ-đà đã vượt qua cái bóng của chính nó
+ Ý nghĩa của sự cúng tế được đặt nghi vấn
+ Mở rộng con đường cho phong trào phát triển của những tôn giáo cải cách mới như:
● Phật Giáo
● Kì-na Giáo
● Và những nhánh vô thần khác như số luận phái ( xem thêm Triết Học
Ấn Giáo ) ● Hệ sa.Advaitavedanta ( Bất Nhị Nhất Nguyên )
● Các tôn giáo thờ nhất Thần v.v
+ Những tôn giáo trên phản đối độc quyền thực hiện nghi lễ của Bà La Môn và chế độ sa.Varna( Chế độ chủng tính nói chung )
Trang 179
Trang 18- Visnuism / Vaishnavism ( Ấn Giáo Tì thấp nô )
Sự hình thành:
+ Tôn giáo nhất Thần, ở Bắc Ấn vào khoảng giữa thế kỷ 6 và 2 TCN, sự sát nhập một số vị thần
lễ phổ biến
+ Ở thế kỉ 6~7 Tì-thấp-nô giáo hấp thụ khá nhiều từ trào lưu thờ Thần Mặt Trời
+ Hai phân nhóm tiêu biểu là:
● Sa.Bhagavata ( Bạc-già-phạm ) tuân thủ giáo lý của
Bà-la-môn giáo ● Sa.Pancaratrin ( Ngũ Dạ ) bị xem là phi chính
thống
+ Từ vương triều Cấp-đa khoảng thế kỉ 5 thì ranh giới giữa hai nhóm này đã mờ dần Những
xuất hiện và tồn tại đến nay là:
● Srisampradaya có nguồn từ giáo lý sa.Visistadvaita ( Chế hạn bất nhị ) của
sa.Ramanuja
( La-ma-nã-già ) 1055 - 1137 cùng nhiều phân nhánh nhỏ khác nhau
● Brahmasampradaya theo học thuyết Nhị Nguyên sa.Dvaitadvaita
+ Ngày nay, Tì-thấp-nô và Thấp-bà là hai trào lưu tôn giáo quan
trọng nhất + Đồng hóa vị Thần sa.Visnu ( Tì-Thấp-Nô ) và vị Thần
sa.Narayana
( Na-la-diên-na _ Thần Siêu Việt )
+ Tì-thấp-nô Na-la-diên-na được tôn xưng sa.Bhagavat ( Bạc-già-phạm ) vị Thần Tối Cao, Đấng Sáng Tạo
+ Chú ý là việc tôn xưng sa.Krsna ( Hắc Thần ), sa.Balarama / Samkarsana ( một Thần Thể có nét
Âm Phủ
tương quan với phong tục tôn thờ rắn, được cho là anh của Hắc Thần, là một cặp thần cùngđược phụng thờ ) v.v cho thấy sự hòa hợp nhiều dạng tế lễ vào một đơn vị
Trang 1910
Trang 20- Sivaism ( Ấn Giáo Thấp-Bà )
Triết lý tư tưởng:
+ Phần lớn theo thể nhất Thần, có vài nhánh thiên về mối quan hệ Nhị Nguyên Thấp-bà ( Siva, dịch ý là cát
tường, thiện ), tính lực ( Sakti ) hoặc thừa nhận tính Đa Nguuyên với nhiều linh hồn vĩnh cửu.+ Xuất phát từ một vị Thần trong Thánh Điển Phệ-Đà là sa.Rudra ( Lỗ-đặc-la ), được miêu tả với
sự hung bạo,
nguy hiểm, cai quản bệnh tật và chữa trị ; là hiện thân của Thần Marut ( Phong Thần ) được coi là tùy tùng
của Ông Mũi tên của Ông là những điều âu lo của cấc vị Thần khác và những cơn bão tố
+ Theo giáo lý cao nhất thì Thấp-bà ở bậc tối cao sẽ không mang bất kì thuộc tính nào
( Nirguna ) và đồng nhất
với Phạm Thiên của hệ thống Phệ-đàn-đa
+ Về khía cạnh nhân cách thì Thấp-bà có thuộc tính Saguna bao hàm hai nguyên lý nam cũng như
nữ Nguyên
lý nữ được thể hiện qua tính lực Sakti, chủ động trong nhận thức, ý muốn, hành động, tự cheđậy và ban ân của Thượng Đế, nguyên lý nữ được xem là vợ của Thần Thấp-bà, dạng hiềnhậu tịch tĩnh là Tuyết Sơn Thần Nữ ( sa.Parvati, dạng phẫn nộ, tàn phá là Đỗ-nhĩ-ca
tối thượng bị những nhân tố như sau hạn chế tối đa:
● Thời gian ( Kala ) ● Giới hạn của cảm nhận ( Raga )
● Không gian ● Giới hạn của tri thức ( Vidya )
● Quy luật nhân quả ( Niyati ) ● Khả năng hành động ( Kala )
+ Qua sự vây phủ làm u tối tâm thức ( Tirobhava ) nên dị biệt và đa dạng của các hiện tượng xuất hiện, thay thế cái
đơn nhất trong tâm thức tối cao của tất cả những hiện hữu Diệt trừ cái thiên hình vạn trạng này
và như thế cũng
có nghĩa là diệt trừ thế gian qua ân sủng của thần Thấp-bà, được thực hiện bằng sự bộc phát của Tri Thức Giải
Thoát, phá huỷ tấm màn vô minh, giải phóng linh hồn của tín đồ ra khỏi vòng sinh tử
+ Đồ tượng quan trọng nhất của tín đồ Thấp-bà là Linga, được xem là biểu tượng của dương vật Thánh điển
bao gồm các bộ A-hàm ( Agama) và Đát-đặc-la ( Tantra )
+ Với thời gian, Thấp-bà giáo hấp thụ một loạt truyền thống sùng bái độc lập khác, trong đó có truyền thống
thờ cúng vị thần chiến tranh Skanda ( cũng được gọi là Karttikeya hay Kumara ) và Ganesa ( cả hai đều được
xem là con của Thấp-bà ), sự sùng bái rắn rồng, một phần của truyền thống tôn thờ Mặt Trời
Trang 2111
Trang 22sông Ấn nhưng chưa thuyết phục.
+ Từ những thế kỷ đầu CN, Ấn Giáo Tín Lực hòa nhập vào Thấp Bà Giáo, ở thế kỷ 6 quay lại vị thế quan trọng
qua sự hỗ trợ của truyền thống Bà-la-môn, sau được chủng Sát-đế-lợi xem là Thần Chiến Tranh và tôn thờ + Thời điểm mà Nữ Thần này được tôn thờ mạnh mẽ vượt tất cả các Nam Thầnkhác, kể cả Thần Thấp-bà là
vào khoảng từ thế kỷ thứ 10, rồi tiếp tục dung hòa cùng các truyền thống tôn sùng Durga / Kali ( Thiên Nữ
Đỗ-nhĩ-ca hoặc Ka-li ) ở nhiều vùng của Ấn Độ, kéo theo đó mối quan hệ nam nữ được đảo ngược
+ Phẩm vật cúng tế gồm súc vật ( cá, gà trống, trâu, bò kể và cả con người cho đến thời Đế Quốc Anh )
+ Nghi lễ Đát-đặc-la với Mantra ( chân ngôn ), những biểu tượng bí mật và đôi khi có sự giao hợp theo nghi
thức Mật Giáo
+ Hiện nay vẫn còn lưu giữ một vị trí quan trọng ở Ấn Độ song song với Tantra ( Đát-đặc-la ),
Lực và có những bộ Thánh Điển riêng
Trang 2312
Trang 24- Ấn Giáo Bất nhị Phệ-đàn-đa nhất nguyên
chỉ là hư huyễn, có giá trị tạm thời và chỉ là những hiện thực tương đối
+ Những đa dạng biến mất khi trí huệ dẫn dắt tâm thức cá nhân hòa hợp cùng Phạm Thiên
Trang 2513
Trang 26- Neo-hinduism ( Tân Ấn Độ Giáo )
mang đậm dấu ấn của hai nhà lãnh đạo Devendranath Tagore ( 1817 - 1905 cha của
và Rabindranath Tagore ) và Keshab Chandra Sen ( 1838 - 1884 )
- Brahma Samaj bác bỏ chế độ: chủng tính, hỏa thiêu góa phụ ( sati ), tôn thờ ThánhTượng
- Nhìn chung chịu ảnh hưởng mạnh từ Cơ Đốc Giáo
● Arya Samaj ( Thánh Hội ) hình thành bởi Dayananda Sarasvati ở năm 1875
- Độc duy dựa vào nền tảng Thánh Điển Phệ-đà nhưng có sự chọn lọc lại và áp dụnguyển
chuyển
- Không tôn thờ Thánh Tượng
- Dù có bị ảnh hưởng bởi Cơ Đốc Giáo nhưng được giải thích theo Phệ-đà
- Có vẻ như Arya Samaj dùng truyền thống tôn giáo tương đương, mang đặc thù của
Ấn Độnhằm đối đầu với những nhà truyền giáo đạo Cơ Đốc
● Ramakrsna ( La-ma Hắc Thần ) sáng lập bởi Svami Vivekananda ( 1863 - 1902 ), tại thời điểm năm
1897 để tưởng niệm đến tôn sư là Ramakrsna Paramahamsa ( 1836 - 1886 )
- Trên cơ sở Advaitavedanta ( Bất nhị Phệ-đàn-đa ), tất cả những tôn giáo đều được xem là con
đường dẫn đến mục đích tối hậu, mặc dù chúng còn bị xem là thấp vì cònvướng mắc vào những hiện thực cấp dưới
- Từ Cơ Đốc giáo, hiệp hội Ramakṛṣṇa hấp thụ thành phần tham gia công tác xã hội, nhưng lại
giải thích bằng những truyền thống Ấn Độ như chúng được ghi lại trong
Bhagavadgita ) và giáo lý nghiệp quả ( Karman )
● Những người gốc Ấn truyền đạo ở phương Tây được gọi là Gurus cũng có thể được liệt kê vào Tân Ấn
Độ giáo
Tư Tưởng
+ Tân Ấn Độ giáo nhánh chính có khuynh hướng dễ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Duy Vật
( Materialism ) và chủ nghĩa Bất Khả Tri ( Agnosticism ) của phương Tây hơn là hai giáo cótruyền thống lâu đời ở Ấn là Thấp-bà giáo và Tì-thấp-nô-giáo
Trang 2714
Trang 28gia không thống nhất hoàn toàn mà chia thành các nước nhỏ Gồm 4 vương quốc chính là:
● Kosala ( Kiêu-tát-la ) thủ đô là Sravati ( Xá-Vệ ), ở phía Bắc sông Hằng tiểu vương quốc
Pasenadi
● Phía Tây Nam Kosala là tiểu vương quốc Vamsa
● Ở miền Nam Kosala và Vamsa là tiểu vương quốc Avanti, trải dài tới tận phía
Nam sông Hằng ● Vương quốc Magadha ( Ma-kiệt-đà ) nằm ở phía Tây Avanti và
phía Nam sông Hằng
● Còn vài bộ tộc nhỏ ở Đông Kosala và Bắc Magadha
Sự xuất hiện
+ Có nhiều truyền thuyết về sự ra đời của Người sáng lập Phật Giáo và tranh cãi về ngày
Siddhartha chào đời,
xét theo năm Ngài nhập Niết Bàn khi 80 tuổi vào năm 543 TCN thì Ngài được sinh ra vào
+ Sau khi sinh bảy ngày thì hoàng hậu qua đời, được dì Mahaprajapati (
hv.Ma-ha-ba-xà-ba-đề ) chăm sóc + 16 tuổi thái tử theo lời cha kết hôn với Yasodhara ( hv.Da-du-đà-la ), Gapika( La-gia ), Urganika
( Lộc-giả ) Bà Già-du-đà-la sinh được một con trai đặt tên là La-hầu-la
+ Sau bốn lần ra cổng thành, thấy cảnh người già, người bệnh, người chết ( những cái khổ trong thế gian ) và
một vị tu sĩ, Ngài nhận ra sự tách biệt rõ ràng giữa các tầng lớp, giữa thái tử với những con người kia, lòng từ
khiến cho sự bất mãn chế độ quá bất công ở hiện tại trở nên mãnh liệt, thêm vào ngộ được con người dù giàu
sang, quyền uy hay nghèo khổ, nô dịch đều không thoát khỏi Sinh, Trưởng, Suy, Diệt
+ Ngẫm nghĩ về kiếp sống của loài người, thái tử ngờ vực, buồn rầu vì chỉ có Ngài nhận ra trong khi bao nhiêu
người vẫn u mê sinh bao cảnh đời thương tâm…
+ Ngài chán nản cuộc sống tầm thường, khi 19 tuổi sự chán ngán đến cực hạn, quyết định ttừ bỏ ràng buộc thế
gian phát tâm rồi từ biệt hoàng cung ra đi tìm phương cứu đời
+ Thời gian đầu, Ngài tu khổ hạnh theo các vị đạo sư có danh tiếng là sa.Arada ( A-la-la Ca-lam ), sa.Rudraka
Ramaputra ( Ưu-đà-la La-ma-tử )
→ Nhưng chưa tìm được triết lý phù hợp mà mình cần nên quyết tâm tự tìm đường giải thoát ←
Trang 29+ Ngài gặp năm vị Tỳ-kheo Ajnata Kaundinya - Anna Kondanna ( năm anh em Kiều Trần Như tền đầy đủ là A
Nhã Kiều Trần Như ) đồng hành
+ Tiếp theo, Ngài vào ở ẩn trong dãy Tuyết Sơn ( là núi Già-xà-gaya trong sách Phật ngày sau gọi
là Khổ Hạnh
Lâm ) tu tập Thiền định suốt 6 năm, nhưng vẫn không ngộ ra được điều gì
→ Sau nhiều năm Tu Khổ Hạnh đến gần kề cái chết, ←
→ ông nhận ra đây không phải là phép Tu dẫn đến Giác Ngộ và ăn uống lại bình thường ←
15
Trang 30+ Ngài lại đi đến núi Tượng Đầu ( Gajasirsa ) bên sông Ni-liên-thuyền, tắm rửa xong, Ngài nhận bát sữa của
những nàng mục nữ cúng Ngài tĩnh tọa suy xét, thề rằng: “ Ta ngồi đây nếu không chứngđược đạo quả, thì dù có nát tan thân này ta quyết không bao giờ đứng dậy.”
+ Ngài ngồi định tâm dưới gốc cây Pippala ( Tất-bát-la, về sau còn gọi là cây Bồ-đề ) ở Giác Thành
sẽ không còn tái sinh
+ Ở trạng thái Giác Ngộ ( Bodhi ) Ngài hoàn toàn sống trong sự sáng suốt nhiệm màu của chân lý
Thích-ca )
+ Từ ngày hôm ấy Ngài chu du khắp lưu vực sông Hằng, thường lưu trú tại sa.Rajagrha
( Vương-xá ), sa.Savatthi ( Xá-vệ ), sa.Vaisali ( Phệ-xá-li ) dùng chân lý thức tỉnh được nhiềuchúng sanh khỏi mê muội, qui y Phật pháp tu hành diệt khổ, chứng đạo Niết Bàn
+ Người nghe Pháp ngày càng nhiều, đệ tử theo học ngày càng đông Nhóm đệ tử phân thành bốnphần:
● Tỳ-kheo ( nam tu sĩ ) ● Ưu-bà-di ( nữ cư sĩ )
● Ưu-bà-tắc ( nam cư sĩ )
● Tỳ-kheo-ni ( nữ tu sĩ )
+ Trước lúc lâm chung, lo sợ các đệ tử sẽ nghĩ lời mình giảng là chân lý chứ không phải chỉ là phương tiện đến
Giác Ngộ, ông tuyên bố mình chưa từng nói một lời nào
+ Ngài diệt tịch vào ngày rằm tháng hai ( có tài liệu là rằm tháng tư, rằm tháng mười một ) tại vườn cây phía
Nam thành Kusinagara ( Câu-thi-la ), nằm nghiêng về phía hữu, đầu hướng về phía Bắc, mặthướng về phía Tây và dần nhập Niết Bàn
+ Ngài được hỏa táng, thân xác ông có nhiều hiện tượng xảy ra, Xá-lợi của Phật được chia làm tám phần và
được thờ tại các tháp khác nhau
+ Sau khi ngài mất, trong các đệ tử đã có người cho rằng phải làm điều này, không làm điều nọ, không chịu
Trang 3116
Trang 32● Quy luật Nhân Quả ( Nghiệp )
● Và nhiều bài Pháp khác tại vườn
Lộc
Uyển ở Sarmath gần Ba-la-nại( Benares hay Varanasi )
Tư tưởng của Siddhartha
+ Chú tâm thoát khỏi tư tưởng tham ái, bất thiện
→ Đạt được sơ thiền → Nhị Thiền → Tam Thiền → Tứ Thiền ←
→ Những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta ←
● Canh một: Khi tâm được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng làm ô uế, nhạy bén, chắc chắn, bất
động, ta hướng tâm về những kí ức và nhận thức về các kiếp trước ( nhớ về nhiềutiền kiếp, nhớ về chu kì của thế giới ; Nơi đã sống, cái tên ta từng dùng, gia đình,nghề nghiệp, giai cấp xã hội của ta, cách ta chết đi, sự hiểu biết của ta.v.v )
● Canh hai: Tiếp đến chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh Với con mắt của chư thiên,
trong sáng, siêu việt, mọi giới hạn nhân thế.v.v
- Chúng sinh luân hồi theo nghiệp lực
- Chúng sinh tạo ra nghiệp lực bất thiện qua ba ải:
Thân Khẩu Ý
→ Sau khi qua ba ải, nếu tạo nghiệp bất thiện thì bị sa vào đọa xứ, địa ngục ←
→ Còn tạo thiện nghiệp tái sinh trong thiện đạo hoặc được lên cõi thiên ←
● Canh ba: Chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các sa.Asrava / pi.Asava ( Lậu Hoặc ) và nhìnnhận như
thật
→ Đây là khổ, nguyên nhân của khổ Đây là phương pháp diệt khổ Đây là con đường tiêu diệt khổ ←
→ Khi nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh ←
→ Ta hiểu chân lí ta tái sinh đã đoạn ←
→ Cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm ←
→ Cuộc sống ( Khổ đau ) này ta đã vượt qua ←
+ Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: “ Tất cả pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học (
A-xà-thế ) xứ Magadha ( Ma-kiệt-đà )
● Vào mùa hạ năm Phật niết bàn
● Ngài Upali ( Ưu-ba-ly ) trùng tuyên Kinh
Trang 33● Bộ luật được trùng tụng là: Bát Thập Tụng
Luật
● Lý do kiết tập: Tỳ-kheo Bạt-nan-đà vui mừng khi nghe tin Đức Phật nhập niết bàn
17
Trang 34● Với phương pháp kiết tập là kể lại bằng trí nhớ và không có ghi
thành văn bản ● Những ghi nhận sau này được viết lại thành bốn bộ
kinh:
- Kinh Digha Agama ( Trường-a-hàm )
- Kinh Majjhima Agama ( Trung-a-hàm )
- Kinh Anguttara Agama ( Tăng-nhất-a-hàm )
- Kinh Samyutta Agama ( Tạp-a-hàm )
→ Tài liệu cổ nhất ghi lại cuộc đời Đức Phật và hoạt động của tăng đoàn ←
→ Đánh dấu bước đầu hình thành Kinh Tạng và Luật Tạng và là căn bản cho Phật Giáo nguyên thủy ←
+ Cuộc tập kết lần 2:
● Tại Vesali, vào khoảng sau 100 năm ( đầu thế kỷ thứ 5 TCN ), với 700 vị Tỳ-kheo
Dưới sự trợ giúp của vua Kalasoka
● Có ý kiến muốn thay đổi một số chi tiết trong Giới Luật Đại hội kiết tập lần 2 cốt là
này
● Ngăn không để tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào Giáo Lý của Đức Phật
● Trong lần họp này, có những người không đồng ý với việc giữ nguyên giới luật đã rời
hội nghị riêng và thành lập Mahasanghika ( Đại chúng bộ )
● Số còn lại vẫn kiết tập kinh điển hình thành Theravada ( Thượng Tọa Bộ )
- Ngay sau đó, ông gặp Sa di Nigrodha, ông theo Phật giáo cải hối và làm nhiều điềuthiện,
● Là người bảo trợ cho việc tập kết lần thứ 3
● Do phát triển mạnh trên diện rộng, bên trong Đạo có nhiều sự phân hóa, Tăng Đoàn bị nhiều người
trà trộn và lạm dụng, gây nhiều bất hòa nội bộ
● Hội nghị được tổ chức tại thành Pataliputta thuộc về đế chế Magadhan, vào khoảng năm
225 TCN,
kéo dài trong 9 tháng
● Chủ trì bởi Moggaliputta Tissa, có khoảng 1.000 Tỳ-kheo ưu tú được cử đến
Trang 35● Tam Tạng Kinh gồm:
→ Lần đầu tiên được hoàn thiện ←
● Cuối đại hội, chủ trì đã chỉ ra Kathavatthu ( những điểm dị biệt ) để bác bỏ luận thuyết không hợp lệ
của một số bộ phái
18
Trang 36● Hạn chế, chỉ thừa nhận giáo pháp của tông phái Thượng Tọa Bộ ( tông phái chiếm đa
số lúc bấy giờ ) ● Sau đại hội, con trai vua Asoka là Mahinda đem Tam Tạng Kinh cùng các chú giải đến Tích Lan Tiếp
theo sau được dịch sang tiếng Pali và còn nguyên vẹn đến ngày nay
+ Kiết tập lần thứ 4:
● Đến những lần này sự liệu không còn thống nhất với nhau về thời gian
và địa điểm ● Có hai thuyết đáng lưu ý:
- Thứ nhất: Vua Kanishka là tín đồ trung thành của Phật giáo, thích nghe giảng kinh văn, nhiều
lần mời nhiều tu sĩ Phật giáo đến giảng kinh và nhận thấy nhiều sự khác biệttrong kiến giải giáo lý nên phát tâm bảo trợ cho kì kiết tập lần 4
- Thứ hai, diễn biến kết quả: vào khoảng 400 năm sau khi Phật niết bàn ( tầm thế kỉ thứ 1 ), tại
vùng Kasmira miền Tây Bắc Ấn Độ gồm 500 học giả giỏi về Tam Tạng Kinh,
do Vasamitra chủ tọa với sự trợ giúp của Parsva
[ Các kì kiết tập khác đều của riêng bộ phái Theravada_Thượng Tọa Bộ, còn gọi Nam Truyền tiến hành ]
+ Lần 5:
● Vào 1871 kéo dài 5 tháng tại thủ đô của Miến Điện lúc bấy giờ là Mandalay
● Số người tham dự gồm 2.400 cao tăng dưới sự bảo trợ của vua Mindon
● Kết quả, ba Tạng Kinh hiệu đính lại khắc lên 729 phiến đá hình vuông và cất giữ
Kuthodaw
+ Lần 6:
● 17/05/1954 nhân lễ Phật Đản, kéo dài suốt hai năm
● Tại phía Bắc Yangon ( Ngưỡng Quang ) trên núi Nghệ Cố
● Do Giáo Hội Phật Giáo Miến Điện khởi xướng dưới sự bảo trợ của chính phủ Miến Điện
● Ủy nhiệm tôn giả Upali tuyên đọc giới luật của Đức Phật đã dạy cho các kheo và kheo ni ; sau
Tỳ-đó, mọi người có trong hội nghị nêu câu hỏi chất vấn để xác minh tính chính xác của lờitụng như Phật dạy cho ai? lúc nào, ở đâu?
● Ngài Upali phải tụng hết 80 lần mới có kết quả thống nhất của hội nghị ( nên được gọi
→ Được xem là căn bản của giới luật, căn cứ vào đó triển thêm các bộ luật như: ←
→ Tăng Kỳ Luật, Tứ Phần Luật, Ngũ Phần Luật ←
Các bộ phái chính hiện nay
+ Tiểu Thừa hay Tiểu Thặng ( sa Hinayana_Cỗ Xe Nhỏ / Bánh Xe Nhỏ )
● Thượng Tọa Bộ ( Tiếng Pali: Theravada [ có nghĩa là: lời dạy của bậc trưởng thượng ] ; Tiếng Phạn:
Sthaviravada) Nhiều tài liệu còn gọi nhóm này là Trưởng Lão Bộ Còn được hiểu là Phậtgiáo nguyên
thủy hay Phật giáo Nam truyền
Trang 37● sa Sarvastivadin_Thuyết nhất thiết hữu bộ / Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Là
Tiểu Thừa tách ra từ Thượng Tọa Bộ
19
Trang 38- Hình thành ngay thế kỉ đầu tiên sau khi Thích-ca viên tịch.
- Thuật ngữ Hinayana chỉ được biết đến khi được đề cập đến trong bộ Diệu Pháp Liên Hoa
● Các tư tưởng Đại Thừa có từ thế kỉ thứ 1 TCN
● Xuất phát phần lớn từ hai nhánh của Tiểu Thừa là:
( sa Mahasanghika ) ( sa Sarvastivadin )
● Nhưng mãi đến sau Đức Phật 400 năm, vẫn chưa có khái niệm Đại Thừa, Tiểu Thừa
● Thuật ngữ Mahayana chỉ được biết đến khi được đề cập đến trong bộ Diệu Pháp Liên HoaKinh
● Mang xu hướng rộng rãi và tự do hơn các phép tắc ràng buộc của Thượng Tọa Bộ
● Hình tượng tiêu biểu của Đại Thừa là sa.Bodhisattva ( Bồ Tát ) với đặc tính vượt trội là
● Kinh văn đầu tiên của Đại Thừa là sa Astasahasrika Prajnaparamita ( Bát-nhã bát
thiên tụng ) ● Bên trong Đại Thừa phân thành vài trường phái khác như:
[ Ngày nay chỉ còn hai hệ Tiểu Thừa này trên thế giới ] [ Thuật ngữ Tiểu Thừa ít được dùng vì ][ một số người không thông hiểu pháp kỹ có thể thấy tổn thương ][ vào năm 1950, Hội Phật giáo Thế Giới ( WFB ) đã quyết định xóa bỏ danh từ này ]
[ do đó khái niệm Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông ][ Trước đó còn các hệ như pháp độc lập tiêu biểu là ][ sa.Akasa ( hư không ): sa.Apratisthita-Nirvana ( Niết bàn vô trụ ), sa.Pratisthita-Nirvana ( Niết bàn thường trụ ) ]
[ Hữu vi: sa.Rupadharma ( sắc pháp ), sa.Citta, vijnana ( tâm_thức pháp ) ][ sa.cetasikadharma ( tâm sở hữu pháp ), sa cittaviprayuktasaṃskara ( tâm bất tương ứng hành pháp ) ]
+ Mật Tông ( Tantrayana ) còn gọi Kim Cang Thừa ( Vajrayana )
● Khuynh hướng giữ bí mật thông tin nên khó xác định thời điểm ra đời, chi ước chừng là vào khoảng
thế kỷ thứ 6 hay có thể chính xác hơn là thế kỷ thứ 7
● Có nhiều pháp môn thực hành được gọi là phương tiện hay phương tiện thiện xảo như:
- Kim cương chử
Trang 39- Kiền trùy ( Ghanta nghĩa là
[ Chuông nhỏ ] )
20
Trang 40● Số lượng kinh thư khổng lồ chưa được công khai hết, những gì đã biết là:
- Tô tất địa kinh
- Du kì kinh+ Tịnh Độ Tông hay Tịnh Thổ Tông còn gọi Liên Tông
● Xuất hiện vào giữa thế kỉ thứ 4
● Do sự truyền bá của nhà sư Huệ Viễn
● Tư tưởng tịnh độ đã có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ, nhưng khi sang Trung Hoa đã
thành một tông phái
● Kinh điển của phái này là:
● Phương pháp tu học có ba nguyên tắc:
+ Thiền Tông _ Zen
● Có từ thời Thích-ca truyền giảng
● Tông phái được Bồ-đề Đạt-ma đưa vào Trung Quốc từ thế kỉ thứ 6
● Đến đầu thế kỉ 8, Thiền tông đã thực sự phát triển lớn mạnh và sâu rộng hơn những tông phái khác ● Có thể được xem là một nhánh của Đại Thừa, nhưng phương cách tu học nhấn mạnh việc tự nỗ lực để
phá bỏ các định kiến chấp trước
● Do sự lớn mạnh của mình tông phái này còn phân làm nhiều nhánh nhỏ như:
+ Một số phái khác như Luật Tông, Duy Thức Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Hiền Thủ Tông,
Thành Thật Tông, Chân Ngôn Tông…
+ Ấn Độ giáo là tôn giáo sẵn sàng tiếp thu các nguyên lý hay khái niệm của tôn giáo khác
● Một số tín đồ Phật giáo có gốc từ đạo Bà-la-môn nên các tư tưởng nề nếp của Ấn giáo
nhiều đến Phật giáo
● Ấn giáo mặc nhiên thu nạp các tư tưởng của Phật giáo thành tư tưởng của
Thích-ca là nhà tiên tri quan trọng của tôn giáo này )
● Sự pha trộn sâu rộng đến mức một người dân bình thường rất khó để phân biệt rõ
biệt giữa hai tôn giáo này
● Cùng đặc tính dễ thích nghi và phù hợp với nhu cầu thờ phụng của người dân bình
và đã dần trở thành tôn giáo của tầng lớp tri thức
+ Vào nửa cuối của thế kỉ 8, vua Ai-Mahdi ( 775 - 785 ) của vương triều Hồi giáo Abbasad đã đem quân tấn
công Ấn Độ