LỜI NÓI ĐẦUTheo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm “Đa dạng sinh học” biodiversity, biological diversity có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: c
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm “Đa dạng sinh học”
( biodiversity, biological diversity ) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống
ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,…; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa
các hệ sinh thái
Có thể coi thuật ngữ “đa dạng sinh học” lần đầu tiên được Norse và McManus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật) Ngoài ra đa dạng sinh học có thể là bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và quá trình sinh thái học mà chúng tham gia Mặt khác, như chúng ta đã biết sinh vật trên Trái đất rất đa dạng và phong phú, từ những dạng mà bằng mắt thường chúng ta không nhìn thấy được như: Virut, vi khuẩn… đến những dạng có kích thước lớn hơn như thực vật, động vật ; tất cả những sinh vật này tạo nên sự đa dạng sinh học (đây chính là đa dạng về loài)
Hiện nay, sự đa dạng sinh học đang giảm sút nghiêm trọng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng; có nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, nên để bảo vệ chúng hay bảo tồn sự đa dạng của các loài sinh vật
Xuất phát từ những vấn đề trên, nên việc nghiên cứu và tìm hiểu về số lượng loài sinh vật hiện có là rất cần thiết, từ đó chúng ta mới có biện pháp thích hợp để bảo tồn đa dạng sinh học
Được sự phân công của Cô giáo bộ môn, tôi được nghiên cứu và tìm hiểu
vấn đề “ĐA DẠNG SINH HỌC”.
Vì thời gian rất ngắn, hơn nữa đây là một vấn đề rộng, nên bản thân tôi chỉ
nghiên cứu và tìm hiểu một vấn đề rất nhỏ đó là: “ Tìm hiểu về thành phần loài của
lớp Bò sát ”.
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý và bổ sung của Cô Tôi xin chân thành cảm ơn
Quy Nhơn, ngày 18 tháng 12 năm 2008.
Học viên: Nguyễn Trung Thành
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu Trang 1 Nội dung Trang 3
I Khái niệm chung về đa dạng sinh học Trang 3
II Đa dạng loài Trang 4
A Lớp bò sát Trang 4
1 Bộ có vảy Trang 4
2 Bộ cá sấu Trang 10
3 Bộ r ùa Trang 11
B Đa dạng thành phần loài bò sát ở Việt Nam Trang 15 III Vai trò của đa dạng sinh học Trang 16
1 Những giá trị kinh tế trực tiếp Trang 16
2 Những giá trị kinh tế gián tiếp Trang 17 Kết luận Trang 18 Tài liệu tham khảo Trang 19
Trang 3NỘI DUNG
I Khái niệm chung về Đa dạng sinh học.
Theo công ước về đa dạng sinh học đưa ra năm 1992 tại Hội nghị Liên hợp
quốc về môi truờng và sự phát triển, đa dạng sinh học được định nghĩa là: toàn bộ
sự phong phú của các cơ thể sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong và giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái.
Có ba nhóm đa dạng sinh học cơ bản được tạo nên là:
+ Đa dạng về loài: bao gồm các bậc phân loại và các thành phần của nó, từ các cá thể đến các loài, chi và cao hơn
+ Đa dạng di truyền: bao gồm các thành phần của các mã di truyền cấu trúc
cơ thể ( nucleotit, genes) và sự biến đổi trong cấu trúc giữa các cơ thể của cùng một quần thể và giữa các quần thể khác nhau
+ Đa dạng hệ sinh thái: bao gồm các mức độ sinh thái khác nhau của quần thể, thông qua nơi ở và ổ sinh thái, đến sinh cảnh
Giới ( Kingdom ) Quần thể (Population) Sinh đới (Biome)
Ngành ( Phyla ) Cá thể (Individual) Vùng sinh thái
(Bioregion) Lớp ( Class ) Nhiễm sắc thể
(Chromosome)
Cảnh quan (Landscape)
Loài ( Species )
BẢNG CÁC MỨC ĐỘ ĐA DẠNG SINH HỌC
Một
số
hình
ảnh
về đa
dạng
sinh
học
Trang 4II Đa dạng loài.
Đa dạng loài bao gồm tất cả các loài trên trái đất Mỗi loài thường được xác định theo một trong hai cách Thứ nhất, một loài được xác định là một nhóm các cá thể có những đặc tính hình thái, sinh lí, sinh hoá đặc trưng khác biệt với những nhóm cá thể khác Thêm vào đó sự khác biệt về ADN cũng được sử dụng để phân biệt những loài có đặc điểm hình thái bên ngoài gần như giống hệt nhau như các loài vi khuẩn Thứ hai, là một loài có thể được phân biệt như là một nhóm cá thể có thể giao phối giữa chúng với nhau để sinh sản thế hệ con cái hữu thụ và không thể giao phối sinh sản với các cá thể của các nhóm khác
Dưới đây là lớp Bò sát thuộc ngành Động vật có xương sống:
A LỚP BÒ SÁT (REPTILIA)
* Bò sát là lớp Động vật có xương sống đầu tiên thực sự ở cạn Chúng có những đặc điểm sau:
+Cơ thể hình dạng khác nhau, được bao phủ bởi vảy sừng hoặc bởi những tấm xương bì, ít tuyến da Vảy sừng phát sinh từ biểu bì, khác vảy cá phát sinh từ
bì Nhờ đó Bò sát không phụ thuộc vào độ ẩm của môi trường
+Bộ xương hóa cốt hoàn toàn Cột sống gồm 5 phần: cổ, ngực, thắt lưng, chậu và đuôi Sọ có một lồi cầu, có quá trình tiến hóa tiêu giảm xương bì của giáp
sọ, hình thành hố thái dương dùng làm nơi ẩn cho cơ nhai Có sườn chính thức Chi
5 ngón khỏe, thích nghi với vận chuyển nhanh Ở một số loài chi thoái hóa, mất hẳn
+Hệ thần kinh trung ương phát triển Não trước, tiểu não lớn, vòm bán cầu não có chất thần kinh làm thành não mới Đã có đủ 12 dây thần kinh não
+Cơ quan cảm giác hoàn chỉnh hơn ếch Mắt có hai mí trên, dưới và màng nháy bảo vệ mắt khỏi khô Tai trong phát triển Đa số có màng nhĩ và khoang tai giữa Riêng rắn không có tai giữa Âm thanh được truyền vào tai trong nhờ xương hàm dưới Cơ quan jacopson khá phát triển
+Cơ quan hô hấp hoàn toàn bằng phổi Mang chỉ có ở giai đoạn phôi Đường
hô hấp tách biệt với đường tiêu hóa Lỗ mũi trong lùi vào sau miệng do hình thành khẩu cái thứ sinh
+Hệ tuần hoàn: Tim 3 ngăn, trừ cá sấu 4 ngăn Đã có vách ngăn tâm thất chưa hoàn toàn Động mạch cảnh xuất phát từ cung chủ động mạch phải mang máu
Trang 5động mạch đi nuôi phần đầu của cơ thể Hai cung chủ động mạch trái và phải nhập một ở phía sau cơ thể tạo thành động mạch lưng đem máu đi nuôi phần sau cơ thể
+Bài tiết: hậu thận
+Bò sát là động vật biến nhiệt
+Phân tính Con đực có cơ quan giao cấu Thụ tinh trong Trứng lớn có vỏ dai hay vỏ thấm vôi Trong giai đoạn phát triển có sự hình thành các màng phôi, đặc biệt tạo thành các túi niệu (allantois), túi ối (amnios) và túi noãn hoàng
* Bò sát hiện tại có 4 bộ: Bộ Đầu mỏ, bộ Có vảy, bộ Rùa và bộ Cá sấu với khoảng gần 6500 loài
So với những nước hay khu vực có diện tích tương tự thì Bò sát ở Việt Nam khá đa dạng Đến nay đã thống kê được khoảng gần 296 loài thuộc 3 bộ (theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Văn Trường, 2005) (trừ bộ Đầu mỏ)
Bảng 3: Sự đa dạng về loài của Bò sát ở Việt Nam
Bộ phụ Thằn lằn (Lacertilia) 94
1.Bộ có vảy (Squamata)
1.1 Đặc điểm
Bộ có vảy là nhóm Bò sát cũng thuộc lớp phụ Thằn lằn vảy (Lepidosauria), hiện tại gồm nhiều loài nhất, khoảng gần 6135 loài Việt Nam có khoảng 266 loài Chúng có những đặc điểm chung sau đây: Thân phủ vảy sừng hay tấm sừng, một số
ít loài còn vảy xương Đốt sống lõm trước Xương vuông khớp động với hộp sọ Sọ chỉ còn cung trên (thằn lằn) hoặc thiếu cả hai cung (rắn) Răng mọc trên xương hàm Khe huyệt thường nằm ngang Có đôi cơ quan giao cấu nhưng rất thay đổi
Đẻ trứng lớn có màng dai và thiếu lòng trắng, trừ trứng tắc kè, thạch sùng Một số
ít loài đẻ trứng thai (đẻ con ) Bộ có vảy phân bố khắp nơi trên lục địa
1.2 Phân loại
Bộ Có vảy chia ra 3 bộ phụ:
1.2.1 Bộ phụ Thằn lằn (Lacertilia )
Trang 6+Đặc điểm: Hình dạng cơ thể rất thay đổi, thường có 4 chân, một số ít chi
tiêu giảm hay thiếu hẳn, song vẫn còn di tích của xương đai, có xương ức; thích nghi với đời sống trên mặt đất, trên cây Mí mắt cử động Màng nhĩ phát triển Cơ quan giao cấu chẵn
+Phân loại: Bộ phụ Thằn lằn có khoảng 3300 loài thuộc 20 họ, phân bố rộng
rãi trên thế giới Việt Nam có khoảng 94 loài thuộc 7 họ Một số họ đáng chú ý:
-Họ nhông (Agamidae ) gồm những thằn lằn có cấu tạo thích nghi với chạy
nhanh trên mặt đất Đầuphủ vảy nhỏ Họ nhông phân bố ở vùng nhiệt đới, chủ yếu
ở châu Á
Ở Việt Nam: Ô rô (Calotes ), rồng đất hay tò te (Physignathus cocincinus ), Nhông cánh (Dacro), nhông cát (Leiolepis ) sống ở bãi cát vùng ven biển miền
Trung
-Họ thằn lằn bóng (Scincidae ) gồm những loài thằn lằn có vảy thân hình
tròn, nhẵn bóng Họ này phân bố rộng rãi trên thế giới, sống chủ yếu trên mặt đất
-Họ Tắc kè (Gekkonidae ) là nhóm thằn lằn cổ
nhất trong nhóm thằn lằn hiện tại Thân phủ vảy rất
nhỏ hình nốt sần Chuyên hóa với đời sống leo trèo,
ăn đêm Dưới các ngón chân có các giác bám nên
con vật có thể bám vào thân cây, tường thẳng đứng
và mặt dưới trần nhà nằm ngang
Đại diện ở Việt Nam: Tắc kè (Gekko gecko )
là loài dược liệu quý trong đông y Thạch sùng
(Hemidactylus frematus )
Hình : Tắc kè (Gekko gecko)
Hình : Tò te (Physignathus
cocincinus)
Hình : Nhông cánh (Dacro
maculatus)
Trang 7Đại diện ở Việt Nam: thằn lằn bóng đuôi dài (Mabuya longicaudata ), thằn lằn tốt mã (Eumeces ).
-Họ thằn lằn chính thức (Lacertidae ) gồm nhiều loài thằn lằn có vảy khiên
ở trên đầu và vảy hình chữ nhật ở bụng, phân bố ở châu Âu, châu Á, châu Phi
Đại diện ở Việt Nam: thằn lằn rắn (Ophisaurus harti ).
1.2.2 Bộ phụ Rắn (Serpentes )
- Đặc điểm: Rắn là một nhánh của bộ Có vảy biến đổi thích nghi với chuyển
vận bò bằng bụng và nuốt mồi lớn Cơ thể rắn dài Không có đai, chi và xương mỏ
ác như thằn lằn, trừ trăn còn di tích đai chậu Cột sống chỉ gồm hai phần: mình và đuôi Đốt sống có cấu tạo đồng nhất và mang sườn cử động, tựa mút vào tấm vảy sừng bụng Tấm sừng bụng có thể cử động nhờ cơ dưới da để giúp con vật chuyển vận Các xương của bộ hàm đều khớp với nhau và nối với nhau bằng dây chằng rất đàn hồi Hơn nữa, nhiều xương của sọ cũng khớp với nhau lỏng lẻo, nên sọ có thể cong, mất đối xứng theo kích thước con mồi mà rắn đang ngậm nuốt Nhờ đó rắn nuốt được mồi lớn hơn cả đường kính cơ thể chính nó Trong khi nuốt mồi chậm chạp, rắn vẫn hô hấp được Khí quản mở ra và đẩy về phía trước, nằm giữa hai mảnh hàm dưới Không khí đi qua khí quản vào phổi khi rắn đang ngậm mồi lớn
+ Xương hàm trên của nhiều loài rắn có răng độc với ống hay rãnh dẫn nọc độc Tuyến nọc độc là tuyến nước bọt biến đổi thành Trên thế giới có tới 1/3 loài rắn là rắn độc Rắn độc chia thành 4 nhóm theo cấu tạo răng độc như sau:
*Rắn hổ (Elapidae) : Răng độc lớn, ngắn, thẳng, ở phía trước hàm, rãnh dẫn
nọc độc khép thành hình ống (proteroglypha)
*Rắn lục (Viperidae ): Răng độc lớn ở phía trước hàm, cong và ống thông trong răng (solenoglypha )
-Họ kỳ đà (Varanidae ) gồm những loài
thằn lằn cỡ lớn có đuôi dài, lưỡi dài chẻ đôi,
phân bố ở vùng Đông Nam Á, châu Phi, châu
Úc Kì đà sống trên đất, nhưng leo trèo được và
nhiều loài bơi lặn giỏi, ăn thịt
Đại diện ở Việt Nam: Kì đà hoa
(Varanus salvator ) và kì đà vân (Varanus
nebulosus ) đều là những loài quý hiếm và ở
mức độ đe dọa sắp nguy cấp
Hình : Kì đà hoa (Varanus
salvator )
Trang 8*Rắn biển (Hydrophiidae ): Răng độc có rãnh dẫn nọc.
*Rắn nước (Colubridae): chỉ có vài loài rắn độc với người Răng độc mọc phía trong hàm
+ Tuyến độc của rắn do tuyến nước bọt môi trên biến đổi Chất độc tác động đến thần kinh mắt dẫn đến mù, đến thần kinh cơ hoành dẫn đến tê liệt hô hấp, làm phá vở hồng cầu và thành mạch
+ Cơ quan cảm giác của rắn phát triển Mí mắt không cử động Giác mạc được bảo vệ bởi màng trong suốt Mắt rắn nhìn kém Một số rắn leo cây mắt tinh hơn, nhìn được cả hai mắt giúp chúng tìm đựơc mồi qua các kẽ lá
+ Khác với thằn lằn, khoang tai giữa và màng nhĩ tai rắn tiêu giảm Rắn hầu như điếc Rắn cảm nhận rung động từ mặt đất nên chúng có thể tiếp nhận âm thanh tần số thấp
+ Khứu giác của rắn kém phát triển, nhưng cơ quan Jacopson rất phát triển Rắn tìm kiếm mồi nhờ cảm giác hóa học Lưỡi thò ra thụt vào để cảm nhận mùi lạ chuyển tới cơ quan Jacopson Tín hiệu được truyền qua não bộ và được xử lí Một
số loài rắn có hố má ở trung gian giữa mắt và lỗ mũi Trong hố má có nhiều đầu mút thần kinh, có chức năng cảm giác nhiệt độ sai khác 0,20C ở cách xa hàng chục xentimet Nhờ đó rắn nhận biết con mồi máu nóng (thú, chim ) ở gần chúng
+ Rắn đẻ trứng có vỏ vôi, hình bầu dục Rắn cuộn thân trên ổ trứng để ấp Một số đẻ trứng thai Một số đẻ con
+Phân loại: Trên thế giới có khoảng hơn 2700 loài rắn, 11 họ Việt Nam có
172 loài thuộc 9 họ Một số họ rắn và đại diện chính ở Việt Nam:
-Họ rắn giun (Typhlopidae ) Hình dạng giống giun đất, mắt rất nhỏ và ẩn
dưới vảy Vảy thân đồng nhất
Đại diện: Rắn giun (Typhlops braminus ) -Họ trăn (Boidae ) gồm những loài rắn lớn,
có loài dài tới 10m Đặc điểm của trăn khác với
các loài rắn khác là chúng có di tích chi sau thành
hình cựa ở bên hậu môn Trăn không có răng độc
và phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và
châu Mỹ
Đại diện ở Việt Nam: Trăn mốc hay trăn đất
(Python molurus ) phổ biến trên toàn quốc. Hình : Trăn đất (Python molurus)
Trang 9-Họ rắn mống (Xenopeltidae ) chỉ gồm một loài rắn mống (rắn nùng nục )
(Xenopeltis unicolor) ở Đông Nam Á, đuôi ngắn có hai phổi (các loài rắn chỉ có
một phổi) Ở Việt Nam rắn mống phân bố từ Bắc vào Nam
-Họ rắn hổ (Elapidae ) gồm những loài rắn có răng độc lớn ở phía trước
hàm, rãnh khép thành hình ống, phổ biến ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á
Đại diện có ở Việt Nam rắn cạp nong (Bungarus fasciatus ), rắn hổ mang
(Naja naja ), rắn cạp nia (Bungarus candidus ), rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah )
dài tới 4m
-Họ rắn nước (Colubridae ) gồm đa số
rắn trên thế giới, có tới hơn 1000 loài, có nơi ở
và đời sống thay đổi Nhiều loài ở đất, ở nước,
một số loài sống trên cây, một số nhỏ ở dưới
đất
Đại diện: Rắn bồng (Enhydris ) gồm một
số loài sống ở đáy nước, thân tù, đuôi ngắn
Rắn nước chính thức sống ở nước: rắn nước
(Xenochrophis piscator), rắn sãi thường
(Amphiesma stolata ) sống ở bờ các vực nước
Rắn ở cạn như rắn sọc dưa (Elaphe radiata),
rắn ráo (Ptyas korros ), rắn ráo trâu (Ptyas
mucosus ) Rắn chuyên ở cây có loài rắn dây
(Ahaetulla picta ) có thân và đuôi rất dài, mảnh,
màu xanh lục
Hình : Rắn sọc dưa (Elaphe radiata)
Hình : Rắn ráo (Ptyas korros )
Trang 10-Họ rắn lục (Viperidae ) bao gồm những loài rắn có răng độc lớn và ống
thông trong răng Đầu hình tam giác phủ vảy nhỏ hoặc có lẫn vảy lớn Trung gian mắt và mũi có hố má Hố má có chức năng cảm giác nhiệt độ, nhờ đó rắn có thể nhận biết con mồi (chim, thú ) Đa số đẻ trứng thai
Đại diện: Họ này phân bố ở châu Mỹ, Tây Bắc, Đông Nam châu Á Việt
Nam phổ biến rắn lục (Trimeresurus ).
1.2.3 Bộ phụ Amphibaenia:
+Đặc điểm: cơ thể dài, đuôi ngắn, không chân, trừ một giống có chân trước ngắn, chỉ có di tích đai Mắt ẩn dưới da Một phổi Đẻ trứng thai
+Phân loại: Bộ phụ được phân ra làm hai họ: Trogonophidae và
Amphisbaenidae.
2 Bộ cá sấu (Crocodylia )
2.1 Đặc điểm.
Cá sấu là nhóm Bò sát có cơ thể lớn nhất hiện nay, có cấu tạo tiến hóa cao hơn cả và chuyên hóa thích nghi với đời sống chủ yếu của nước Thân dài từ 1,5 đến 4 – 6m Đuôi khỏe, dẹp bên Chân ngắn, có màng bơi giữa các ngón Mõm dài Thân phủ giáp sừng Dưới giáp có nhiều tấm xương lớn Răng chỉ có ở xương gian hàm, xương hàm và xương răng Răng nhọn hình nón, đã phân hóa, cắm trong lỗ răng Lưỡi dày bất động Dạ dày phân hóa
Tim cá sấu 4 ngăn: hai tâm nhĩ và hai tâm thất Xoang tĩnh mạch tiêu giảm Cung chủ động mạch lưng do cung động mạch phải phát triển kéo dài, còn cung động mạch trái tiêu giảm, chỉ gắn với cung động mạch phải bằng mạch nhỏ Phổi lớn, cấu tạo phức tạp Khẩu cái thứ sinh phát triển nên cá sấu ngậm mồi trong nước vẫn thở được Con đực có cơ quan giao cấu lẻ Đẻ 20 – 25 trứng đến 100 quả, trứng
có vỏ vôi
Cá sấu sống ở các vực nước ngọt hay nước lợ vùng nhiệt đới trên toàn thế giới, chỉ bò lên cạn để nghỉ, đẻ trứng hay chuyển nơi ở Chúng ăn động vật có xương sống, chủ yếu là cá, chim, thú
2.2 Phân loại.
Bộ cá sấu gồm 21 loài, hai họ Ở Việt Nam chỉ có một họ với hai loài
-Họ cá sấu (Crocodylidae).