Đại Việt sử ký toàn thư (chữ Hán: 大越史記全書), đôi khi gọi tắt là Toàn thư, là bộ quốc sử viết bằng văn ngôn của Việt Nam, viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê. Bộ sử này được khắc in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18, triều vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697. Đây là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều đời sử quan trong Sử quán triều Hậu Lê biên soạn. Bộ sử bắt đầu được Ngô Sĩ Liên, một vị sử quan làm việc trong Sử quán dưới thời vua Lê Thánh Tông, biên soạn dựa trên sự chỉnh lý và bổ sung hai bộ quốc sử Việt Nam trước đó cùng mang tên Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên. Hoàn thành vào niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479), bộ sử mới của Ngô Sĩ Liên gồm 15 quyển, ghi lại lịch sử Việt Nam từ một thời điểm huyền thoại là năm 2879 TCN đến năm 1427 (khi nhà Hậu Lê được thành lập) và mang tên Đại Việt sử ký toàn thư2. Sau đó, dù đã hoàn thành, Đại Việt sử ký toàn thư lại không được khắc in để ban hành rộng rãi mà tiếp tục được nhiều đời sử quan trong Quốc sử quán sửa đổi, bổ sung và phát triển thêm. Khoảng niên hiệu Cảnh Trị (1663 1671) đời vua Lê Huyền Tông, chúa Trịnh Tạc hạ lệnh cho một nhóm văn quan, đứng đầu là Tham tụng Phạm Công Trứ, sửa chữa bộ quốc sử của Ngô Sĩ Liên, đồng thời sai biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ đến năm 1662 đời vua Lê Thần Tông nhà Hậu Lê2. Bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, gồm 23 quyển, được đem khắc in để phát hành nhưng công việc chưa xong, phải bỏ dở. Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680 1705) đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh Căn lại hạ lệnh cho một nhóm văn quan, đứng đầu là Tham tụng Lê Hy, tiếp tục khảo đính bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, đồng thời biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1663 đời vua Lê Huyền Tông đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê2. Bộ quốc sử này lấy tên là Đại Việt sử ký toàn thư, theo đúng tên mà sử gia Ngô Sĩ Liên cách đó gần hai thế kỷ đã đặt cho bộ sử của ông, gồm 25 quyển, được khắc in toàn bộ và phát hành thành công vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18 đời vua Lê Hy Tông, tức là năm 16972. Sau khi xuất bản, Đại Việt sử ký toàn thư tiếp tục được tái bản bởi các hiệu in của chính quyền và tư nhân, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới, trong nhiều thế kỷ sau. Nửa cuối thế kỷ XX, ở Việt Nam xuất hiện các bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư ra chữ quốc ngữ, phổ biến nhất là bản dịch dựa trên cơ sở bản in Nội các quan bản hiện đang lưu giữ tại thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ ở Paris, do Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội phát hành lần đầu năm 1993. Đại Việt sử ký toàn thư là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, là di sản vô giá của văn hóa dân tộc Việt Nam, là kho tư liệu phong phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúp ích cho nhiều ngành khoa học xã hội khác 3 và cũng là một bộ sử có giá trị văn học. Các bộ quốc sử sau này của Việt Nam như Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục đều được biên soạn dựa trên cơ sở của Đại Việt sử ký toàn thư.
Trang 1Bän in Nµi Các Quan Bän Mµc bän kh¡c nåm Chính Hòa thÑ 18 (1697)
Trang 2
Chuy¬n sang ¤n bän ði®n tØ b·i: Lê B¡c, Công Ю, Ng÷c Thüy,
Tuyªt Mai, H°ng Ty, Nguy-n Quang Trung
2001
Ði«u hþp:
Ði«u hþp: Lê B¡c - bacle@hotmail.com 2001
Trang 3Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Quyển I [1a]
[1a] Triều Liệt Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp, Kiêm Sử Quan Tu Soạn, Thần Ngô Sĩ Liên Biên Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phắa Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt Vua Nghiêu sai Hy thị1 đến ở Nam Giao2 để định đất Giao Chỉ ở phương Nam Vua Vũ chia chắn châu3 thì Bách Việt4 thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy Từ đời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN] mới gọi là Việt Thường thị5, tên Việt b¡t đầu có từ đấy
K ỷ H ồ n g B à n g T h ị
K ỷ H ồ n g B à n g T h ị
Kinh Dương Vương Kinh Dương Vương
3 Theo thiên Vũ Cống trong Kinh Thư, chắn châu là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương Ung
4 Bách Việt: là từ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống ở miền nam Trung Quốc thời xưa Từ này lần đầu tiên thấy chép trong Sử Ký (Ngô Khởi Truyện của Tư Mã Thiên
5 Việt Thường Thị: tên nước thời cổ ở phắa Nam Trung Quốc có quan hệ với nhà Chu (hiến chim trĩ cho Thành Vương), lần đầu tiên được ghi trong sách Thượng Thư Đại Truyện Có nhiều giải thắch khác nhau, có thuyết nói rằng Việt Thường Thị ở miền quận Cửu Đức, tức miền Hà Tĩnh (Thủy Kinh Chú, Cựu Đường Thư); có thuyết nói Việt Thường thị ở vị trắ nước Lâm Ấp đời sau (Văn Hiến thông khảo, Minh Sử, Minh nhất thống chắ)
6 Thần Nông: theo truyền thuyết Trung Quốc, là một trong 5 vị đế thời thượng cổ, dạy dân biết cày bừa trồng trọt, cũng gọi là Viêm Đế
7 Theo Mục lục kỷ niên của Đại Việt Sử Ký và câu kết của Kỷ Hồng Bàng thị (NK1, 5b) thì từ năm Nhâm Tuất đến năm Quý Mão (258 TCN) cộng 2622 năm Vậy năm Nhâm Tuất là năm 2879 TCN Đó chỉ là một niên đại suy đoán trên cơ sở - như trong Phàm lệ đã nói
rõ - muốn đặt Kinh Dương Vương ngang với Đế Nghi
8 Ngũ Lĩnh: có nhiều thuyết khác nhau, đại khái chỉ 5 ngọn ở biên giới phắa nam của Trung Quốc Theo Quảng Châu ký, đó là các núi: Đại Dũ, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương
Trang 4Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long1 sinh ra Lạc Long Quân (Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Li-u Nghị tâu với Động Đình Quân Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi)
Lạc Long Quân Lạc Long Quân
[2a]
[2a] Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương
Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của Bách Việt Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa kh¡c nhau, chung hợp thật khó" Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khắ hóa ra, đó là Bàn Cổ thị Có khắ hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khắ âm dương cả Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh"2 Cho nên
có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi [2b][2b] Nhưng thánh hiền sinh ra, tất có khác thường, đó là do mệnh trời Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương3, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu4, đều là ghi sự thực như thế Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ (4)5 nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, l- nhạc chưa đặt mà như thế chăng?
1 Nguyên văn: "Thú Động Đình Quân nữ, viết Thần Long" Theo câu này thì phải hiểu Thần Long là tên người con gái của Động Đình Quân Nhưng ở đoạn dưới (tờ 2b), soạn giả lại viết: "Kinh Dương Vương lấy con gái của Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân" Như vậy tên của Động Đình Quân là Thần Long
2 Kinh Dịch: Hệ từ
3 Truyền thuyết Trung Quốc nói là bà Giản Địch (vợ thứ Đế Cốc) nuốt trứng chim huyền điểu, có mang, sinh ra ông Tiết, tổ của nhà Ân - Thương
4 Bà Khương Nguyên giẫm vết chân người khổng lồ, sinh ra ông Khi, tức Hậu T¡c, tổ nhà Chu
5 Thông giám ngoại kỷ: tức phần Ngoại Kỷ của sách Tư Trị Thông Giám (294 quyển) do Tư Mã Quang đời Tống soạn
Trang 5Hùng Vương Hùng Vương
[3a]
[3a] Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy)1, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)2 Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, b¡c đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải,
Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn
bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô3 Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng4) Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương Quan coi việc gọi là Bồ Chắnh, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo Vua các đời đều gọi là Hùng Vương Bấy giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi b¡t cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, [3b][3b] đến thưa với vua Vua nói: "Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình Từ đấy thuồng luồng trông thấy không c¡n hại nữa Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ b¡t đầu từ đấy
Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui được giặc Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, vua không phải lo gì" Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ Ninh5 Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả Đứa trẻ phi ngựa [4a][4a] lên trời mà đi Vua sai sửa sang chỗ vường nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng)
Thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN], nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ tr¡ng Chu Công nói: "Chắnh lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình", rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước
Cuối thời Hùng Vương, vua có con gái gọi là Mị Nương, nhan s¡c xinh đẹp Thục Vương nghe tiếng, đến cầu hôn Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng: "Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi" Thục Vương vì chuyện ấy để bụng oán giận Vua muốn tìm người xứng đáng để gả, bảo các bề
1 Nguyên bản in nhỏ hai chữ "khuyết húy", d- nhận lầm là khuyết húy của Lạc Long Quân Nhưng ở trên đã nói Lạc Long Quân húy Sùng Lãm Ở đây nói khuyết húy của Hùng Vương
2 Huyện Bạch Hạc thời Lê là một phần đất huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay
3 Việt Sử Lược chép nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc, trong đó có 10 bộ lạc giống tên như Toàn thư ghi trên đây (Giao Chỉ, Vũ Ninh, Việt Thường, Ninh Hải, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Cửu Đức, Văn Lang), và 5 bộ lạc với tên khác (Quân Ninh, Gia Ninh, Thang Tuyền, Tân Xương, Nhật Nam) Lĩnh Nam Chắch Quái cũng chép đủ tên 15 bộ, nhưng trong các bản hiện còn, tên các bộ ấy có nhiều sai khác chênh lệch Dư Địa Chắ của Nguy-n Trãi chép đúng tên các bộ như Toàn Thư đã ghi trên đây, nhưng không có tên bộ Văn Lang
4 Chữ "Hùng" và chữ "Lạc" chỉ khác nhau về phắa bên trái, d- đọc và chép lầm
5 Lĩnh Nam Chắch Quái chép Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân dưới núi Trâu Sơn, Sách Việt Sử Tổng Vịnh chú rằng núi Vũ Ninh thuộc huyện Quế Dương (nay thuộc đất Quế Võ, tỉnh Hà B¡c)
Trang 6tôi rằng: "Đứa con gái này là giống tiên, người nào có đủ tài đức mới cho làm rể" Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lạy dưới sân để cầu hôn Vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng một người là [4b][4b] Sơn Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi cả, nghe nhà vua có thánh nữ, đánh bạo đến xin lĩnh mệnh Vua nói: "Ta
có một người con gái, lẽ nào lại được cả hai rể hiền?" Bèn hẹn đến ngày hôm sau, ai đem đủ sắnh l- đến trước thì gả cho người ấy Hai người vâng lời, lạy tạ ra về Hôm sau, Sơn Tinh đem các đồ châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng đến dâng Vua y hẹn gả con cho Sơn Tinh đón vợ về ở ngọn núi cao trên núi Tản Viên Thủy Tinh cũng đem sắnh l- đến sau, giận tiếc là không kịp, bèn kéo mây làm mưa, dâng nước tràn ngập, đem các loài thủy tộc đuổi theo Vua cùng Sơn Tinh lấy lưới s¡t chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm1 để chặn lại Thủy Tinh theo sông khác, từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai2 rồi theo dọc bờ lên cửa sông Hát, ra sông lớn3 mà rẽ vào sông Đà để đánh Tản Viên, nơi nơi đào sâu thành vực thành chằm, chứa nước để mưu đánh úp Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi [5a][5a]4 người man đan tre làm rào ch¡n nước, lấy
nỏ b¡n xuống, các loài có vẩy và có vỏ trúng tên đều chạy trốn cả Rốt cuộc Thủy Tinh không thể xâm phạm được núi Tản Viên (Tục truyền Sơn Tinh và Thủy Tinh từ đấy về sau đời đời thù oán, mỗi năm mùa nước to thường vẫn đánh nhau)
Núi Tản Viên là dãy núi cao của nước Việt ta, sự linh thiêng rất ứng nghiệm Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước Đến đời cháu là Thục Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương đặt chư hầu để làm phên giậu, chia nước làm 15 bộ Ở 15 bộ ấy đều có trưởng và tá Vua theo thứ bậc c¡t đặt các con thứ để cai trị Nói 50 con theo mẹ về núi, làm sao biết không phải là như thế? Vì mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chúa một phương Cứ xem như tù trưởng người man ngày nay xưng là nam phụ đạo, [5b][5b] nữ phụ đạo (nay bản triều đổi chữ phụ đạo _ _ thành chữ phụ đạo _ _ thì có lẽ đúng như thế) Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi)
Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương, ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN]
Trang 7Bấy giờ Thục Vương đ¡p thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành2, lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành rất cao3) Thành này cứ đ¡p xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đ¡p lại
Bắnh Ngọ,
Bắnh Ngọ, năm thứ 3 [255 TCN], (Động Chu Quân năm thứ 1) Mùa xuân, tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ [6b][6b] vào thành, cười mà nói rằng: "Đ¡p đến bao giờ cho xong!" Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả lời: "Cứ đợi giang sứ đến" Rồi cáo từ đi ngay Sáng hôm sau, vua ra cửa thành, quả thấy
có con rùa vàng bơi trên sông từ phắa đông đến, xưng là giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai Vua mừng l¡m, để vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện Vua hỏi về nguyên do thành sụp, rùa vàng đáp: "Đó là do tinh khắ núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báp thù nước, nấp ở núi Thất Diệu Trong núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà tr¡ng, đó là dư khắ của tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành Nếu giết con gà tr¡ng để trừ tinh khắ ấy, thì thành tự nhiên được [7a][7a] bền vững Vua đem rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ Chủ quán nói: "Ngài là quý nhân, xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa" Vua cười nói: "Sống chết có mệnh, ma quỷ làm gì nổi ?" Rồi ngủ lại quán Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đến gọi mở cửa, rùa vàng liền quát m¡ng, quỷ không vào được, đến khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết Rùa vàng xin vua đuổi theo Tới núi Thất Diệu thì tinh khắ biến mất, vua trở về quán Sáng sớm, chủ quán tưởng vua
đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn Thấy vua vẫn vui vẻ cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói:
"Ngài làm sao được như thế, tất phải là thánh nhân!" Vua xin con gà tr¡ng giết để tế Gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khắ cổ và xương người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khắ mới mất hẳn Từ đấy, đ¡p thành không [7b][7b] quá nửa tháng thì xong Rùa vàng cáo từ
1 Về điều ghi Thục Phán người Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc), Cương mục có nhận xét: "Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh Vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì có vua nữa ? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc, Nhi-m Mang v.v cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy Văn Lang? Hoặc giả ngoài cõi Tây B¡c giáp với nước Văn Lang còn có họ Thục khác, mà sử cũ (tức Toàn Thư) nhận là Thục Vương chăng ?" (CMTB1,9) Hiện nay, có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Thục Phán, trong đó có thuyết coi họ Thục là thủ lĩnh của người Âu Việt (hay Tây Âu) ở phắa b¡c nước Văn Lang mà trung tâm là vùng Cao Bằng
2 Nay còn di tắch ở huyện Đông Anh, Hà Nội
3 Côn Lôn: tên dãy núi Trung Quốc (ở miền Tân Cương - Tây Tạng)
Trang 8ra về Vua cảm tạ, hỏi rằng: "Đội ơn ngài thành đ¡p đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy gì mà chống giữ
?" Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói: "Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà b¡n thì không phải lo gì" Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao Thông1) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên
là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ
Cao Vương nhà Đường [tức Cao Biền] dẹp nước Nam Chiếu, khi đưa quân về qua châu Vũ Ninh, đêm nằm chiêm bao thấy có người lạ tự xưng là Cao Lỗ, nói: "Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh lui giặc, bị Lạc hầu gièm pha, phải bỏ đi, sau khi chết, trời thương không có tội gì, ban cho một dải núi sông này, cho làm chức quản lĩnh đô thống tướng quân, làm chủ mọi việc đánh dẹp giặc giã và mùa màng cày cấy Nay theo minh công đi dẹp yên quân giặc, lại trở về bản bộ, không có lời từ biệt thì không phải l- Cao Vương thức dậy, nói chuyện lại với liêu thuộc, có làm bài thơ:
Mỹ hĩ Giao Châu địa,
Du Du vạn tải lai
Cổ hiền năng đ¡c kiến, Chung bất phụ linh đài
(Đẹp thay đất Giao Châu, Dằng dặc trải muôn thâu
Người xưa nay được thấy,
Tư lệ hiệu úy Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao3, uy danh chấn động nước Hung Nô Khi tuổi già, về làng rồi chết Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm đô
hộ Giao Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng giảng bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ ở cũ, rồi dựng đền thờ Khi Cao Vương đi đánh Nam Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức Cao Vương cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng] Lý hiệu úy Đề ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm)4
Đinh Hợi,
Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33) Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể [8b][8b] người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm (nay
1 Cao Lỗ, chép là Cao Thông trong các tài liệu của Trung Quốc như Giao Châu Ngoại Vực Ký (do Thủy Kinh Chú, q.14 dẫn), Thái Bình hoàn vũ ký (phần Nam Việt Chắ, q 170), v.v
2 Một số tài liệu Trung Quốc (như Quảng Dư Ký, Đại Thanh Nhất Thống Chắ, v.v ) chép là Nguy-n Ông Trọng, có lẽ vì dựa theo sử liệu Việt Nam đời Trần do kiêng húy đã đổi Lý thành Nguy-n
3 Lâm Thao: tên huyện Trung Quốc thời Tần, nay thuộc tỉnh Cam Túc
4 Tức đền Chèm ở huyện Từ Liêm, Hà Nội
Trang 9là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây)1, Nam Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam)2; cho Nhâm Ngao3 làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta (Chuế tế: con trai không có tiền nộp sắnh l-, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người ta, là vật thừa Lục Lương là người Lĩnh Nam phần nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tắnh người mạnh tợn (cường lương) nên gọi là Lục Lương)
Tân Mão,
Tân Mão, năm thứ 48 [210 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 37) Mùa đông, tháng 10, Thần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn Đà đóng quân ở núi Tiên Du, B¡c Giang4 đánh nhau với vua Vua đem nỏ thần ra b¡n, Đà thua chạy Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang (tức là [con sông] ở phủ [9a][9a] Đô hộ, sau lầm là Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay)5, vì phạm thổ thần nên bị bệnh, phải rút về Nhâm Ngao bảo Đà rằng: "Nhà Tần s¡p mất, dùng mưu kế đánh Phán thì có thể dựng nước được" Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn) trở lên phắa B¡c thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phắa Nam thuộc quyền cai trị của vua Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ, cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu Vua bằng lòng Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về B¡c thăm cha mẹ, bảo Mỵ Châu rằng: "Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam B¡c cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào
mà tìm thấy nhau?" Mỵ Châu nói: "Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng r¡c ở chỗ đường rẽ để làm dấu" Trọng Thủy về báo cho Đà biết
1 Quế Lâm: tên quận thời Tần, nay là vùng đất b¡c và đông tỉnh Quảng Tây, chứ không chỉ riêng huyện Minh Quý, nơi đóng trị sở của tỉnh ấy
2 Tượng Quận: tên quận đời Tần mà trước đây nhiều sách sử của ta và của Trung Quốc đều chú giải là quận Nhật Nam, hay bao gồm cả
ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam Thuyết đó là dựa vào một câu cước chú của Hán Thư (q.28 hạ, tr 11a) về quận Nhật Nam thời Hán: "Quận Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày trước" Nhưng từ cuối thế kỷ XIX, thuyết đó đã bị phê phán Chắnh Hán thư phần Bản Kỷ (q.7 tr.9a) chép rõ rằng: "Năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương (76 TCN), bãi bỏ quận Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha" Quận Uất Lâm là vùng Quảng Tây, quận Tường Kha ở phắa tây quận Uất Lâm và gồm một phần Quý Châu Vậy Tượng Quận là miền tây Quảng Tây và nam Quý Châu
3 Chữ có hai âm: "Hiêu" và "Ngao" Chúng tôi phiên theo âm đã quen gọi
4 B¡c Giang: tên đạo đời Đinh, tên lộ thời Lý, Trần và đầu Lê (nay là tỉnh Hà B¡c)
5 Cương mục (TB1, 16b) chú: "Bây giờ không biết con sông này ở đâu"
Trang 10Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng: "Trung tắn trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này" Cuối cùng vua vẫn chép Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng, hóa làm hạt minh châu Vua cầm sừng tê văn dài 7 tấc xuống biển mà đi (tức như ngày nay gọi là sừng tê rẽ nước Tục truyền núi Dạ Sơn xã Cao Xá ở Di-n Châu là nơi ấy) Trọng Thủy đuổi theo đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc ôm xác đem về chôn ở Loa Thành, hóa làm đá ngọc Trọng Thủy nhớ tiếc Mỵ Châu, trở lại chỗ Mỵ Châu [10b] [10b] t¡m gội trang điểm khi trước, thương nhớ không nguôi, cuối cùng nhảy xuống giếng
mà chết Người sau được hạt minh châu ở biển Đông, lấy nước giếng ấy mà rửa, s¡c ngọc càng sáng hơn
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? Chuyện thần giáng đất Sần1, chuyện đá biết nói2 cũng có thể là có Vì việc làm của thần là dựa theo người, thác vào vật mà nói năng Nước s¡p thịnh, thần minh giáng để xem đứa hóa; nước s¡p mất, thần cũng giáng để xét tội ác Cho nên có khi thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong An Dương Vương hưng công đ¡p thành có phần không dè đặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư? Nhưng thế cũng còn là khá Đến như lo họa hoạn về sau mà nài xin với thần, thì lòng riêng đã nảy Lòng riêng một khi nảy mầm thì lẽ trời theo đó mà mất, [11a][11a] sao thần lại chẳng gieo cho tai họa! Rùa vàng trút móng thiêng trao cho, bảo là có thể đánh lui được quân địch, đó là mầm họa chăng? Như chuyện thần ban cho nước Qu¡c ruộng đất mà sao
đó nước Qu¡c cũng mất theo Sau [An Dương Vương] quả nhiên như vậy Thế chẳng phải
là thần theo người mà hành động sao? Nếu không có lời nài xin [với rùa vàng], cứ theo đạo
lý mà làm, biết đâu quốc thống lại chẳng được lâu dài? Đến như chuyện Mỵ Châu r¡c lông ngỗng chỉ đường, thì chưa ch¡c đã có Nếu có thì chỉ một lần là phải, thế mà sau này con gái Triệu Việt Vương lại b¡t chước mà cũng nói như thế, là làm sao? Có lẽ người chép sử cho rằng nhà Thục và nhà Triệu mất nước đều do con rể, cho nên nhân một việc mà nói hai lần chăng? Thế thì việc ma quỷ làm đổ thành cũng đáng tin sao? Trả lời rằng: Đại loại cũng như chuyện Bá Hữu làm quỷ dữ, sau người nước Trịnh lập con cháu của Hữu, [hồn của Hữu] có chỗ nương tựa rồi thì hết3 Thế là trừ bỏ yêu khắ, quỷ không [11b][11b] có chỗ phụ vào nữa thì phải thôi Đến như sử chép An Dương Vương bại vong là do nỏ thần bị đỗi lẫy, Triệu Việt Vương bại vong vì mũ đâu mâu mất móng rồng, đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi Đại phàm việc giữ nước chống giặc tự có đạo lý của nó, đúng đạo lý thì được nhiều người giúp mà nước hưng, mất đạo lý thì ắt người giúp mà nước mất, không phải vì những thứ ấy
Trở lên là [kỷ] An Dương Vương, khởi từ năm Giáp Thìn đến năm Quý Tỵ là hết, tất cả 50 năm [257
2 Đá biết nói: Tả Truyện ghi việc năm thứ 8 đời Lỗ Ai Công ở đất Nguy Du nước Tấn có hòn đá biết nói
3 Bá Hữu: tức Lương Tiêu, đại phu nước Trịnh thời Xuân Thu bị chết oan, thường hiện hồn về quấy nhi-u Sau, Tử Sản cho con Bá Hữu
là Lương Chỉ làm quan, hồn Bá Hữu mới thôi không báo oán nữa (Tả Truyện, q.13)
Trang 11Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Quyển II [1a]
Họ Triệu, nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam, xưng
đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước tr
đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng.uyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng
Họ Triệu, tên húy là Đà, người huyện Chân Định2 nước Hán, đóng đô ở Phiên Ngung (nay ở tỉnh Quảng Đông)3
2 Nay là huyện Chinh Định, tỉnh Hà B¡c, Trung Quốc
3 Tức Quảng Châu ngày nay Ở Quảng Đông vẫn còn huyện Phiên Ngung
4 Theo Sử Ký (q 113: Nam Việt Liệt Truyện): "Khi nhà Tần đã bị diệt, Đà lập tức đánh lấy Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương" Ở đây, văn bản của Toàn Thư, do sao chép hoặc kh¡c in, đã nhầm lẫn từ Quế Lâm thành Lâm Ấp
Trang 12thao1 và con so bổ đôi2, thông sứ với nhau, bảo vua giữ yên đất Bách Việt, chớ cướp phá Khi sứ đến, vua ngồi xổm mà tiếp Lục Giả Giả nói: "Vương vốn là [2a][2a] người Hán, họ hàng mồ mả đều ở nước Hán, nay lại làm trái tục nước mình, muốn chiếm đất này làm kẻ địch chống chọi với nhà Hán, há chẳng lầm hay sao?
Vả lại, nhà Tần mất con hươu3, thiên hạ đều tranh nhau đuổi, chỉ có Hán Đế khoan nhân yêu người, dân đều vui theo, khởi quân từ đất Phong Bái mà vào Quan Trung trước tiên để chiếm giữ Hàm Dương, dẹp trừ hung bạo Trong khoảng 5 năm, dẹp yên loạn lạc, bình định bốn biển, đó không phải là sức người làm nổi, tức là trời cho Hán Đế nghe vương làm vua ở đất này, từng muốn quyết một phen được thua, nhưng vì dân chúng lao khổ vừa xong cho nên phải bỏ ý định, sai sứ mang ấn thao cho vương, đáng lẽ vương phải ra ngoài giao4nghênh đón bái yết để tỏ lòng tôn kắnh Nay đã không làm thế, thì nên s¡m l- mà tiếp sứ giả mới phải, sao lại cậy dân Bách Việt đông mà khinh nhờn sứ giả của thiên tử? Thiên Tử nghe biết, phát binh sang hỏi tội, thì vương làm thế nào?" Vua ra dáng sợ hãi, đứng dậy nói: "Tôi ở đất này lâu ngày [2b][2b] quên mất cả l- nghĩa" Nhân hỏi Giả rằng: "Tôi với Tiêu Hà, Tào Tham ai hơn?"5 Giả nói: "Vương hơn chứ" Lại hỏi: "Tôi với vua Hán ai hơn?" Giả nói: "Hán Đế nối nghiệp của Ngũ Đế Tam Vương, thống trị người Hán kể hàng ức vạn người, đất rộng hàng muôn dặm, vật thịnh dân giàu, quyền chắnh chỉ do một nhà, từ khi trời đất mở mang đến nay chưa từng có Nay dân của vương, chẳng qua mười vạn ở, ở xen khoảng núi biển, chỉ vắ như một quận của nhà Hán, vắ với Hán Đế sao được?" Vua cười và nói: "Tôi lấy làm giận không được nổi dậy ở bên
ấy, biết đâu chẳng bằng nhà Hán?" Giả ngồi im lặng, s¡c mặt tiu nghỉu Bèn giữ Giả ở lại vài tháng Vua nói: "Ở đất Việt này không ai đủ để nói chuyện được Nay ông đến đây hàng ngày tôi được nghe những chuyện chưa từng nghe." Cho Giả đồ châu báu giá nghìn vàng để làm vật bỏ bao Đến khi Giả về, lại cho thêm nghìn vàng nữa
1 NGuyên văn: "Tỉ thụ" = quả ấn và dây thao để buộc (và trang sức) quả ấn
2 Nguyên văn: "Phẫu phù" = vật bằng vàng bạc, ngọc đá, v.v cấp cho người được phong quan tước, khi cần xác định thì khớp hai nửa với nhau; tác dụng cũng như phù tiết, nhưng phù tiết thường là hình ống làm bằng tre gỗ, để cấp cho các viên quan đi thi hành mệnh lệnh
3 Dùng ai từ đồng âm (lộc là con hươu, và lộc là phúc lộc) để nói bóng việc nhà Tần mất nước
4 Giao: vùng ngoại ô đô thành
5 Tiêu Hà, Taò Tham: hai người có công đầu trong việc phò tá Hán Cao Tổ, nối tiếp giữ chức thừa tướng nhà Hán
6 Tước của Ngô Nhuế đời Hán Cao Tổ được phong làm phiên vương ở Trường Sa (nay là phần đất phắa đông tỉnh Hồ Nam)
Trang 13[3b] Mậu Ngọ,
[3b] Mậu Ngọ, năm thứ 25 [183 TCN], (Hán Cao Hậu năm thứ 5) Mùa xuân, vua lên ngôi hoàng
đế, đem quân đánh Trường Sa, đánh bại mấy quận rồi về
Canh Thân,
Canh Thân, năm thứ 27 [181 TCN], (Hán Cao Hậu năm thứ 7) Nhà Hán sai Lâm Lư hầu Chu Táo sang đánh Nam Việt để báo thù việc đánh Trường Sa Gặp khi n¡ng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bèn bãi quân Vua nhân thế dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việc và Âu Lạc ở phắa tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân), các nơi ấy đều theo về, từ đông sang tây rộng hơn vạn dặm Vua ngồi xe mui vàng, dùng cờ tả đạo1, cho là nghi vệ ngang với nhà Hán
ý Trẫm là con vợ lẽ của Cao Đế, phải đuổi ra ngoài làm phiên vương ở đất Đại, vì đường sá xa xôi, kiến thức hẹp hòi quê kệch, nên chưa từng gửi thư Cao Hoàng Đế lìa bỏ bầy tôi, Hiếu Huệ Hoàng Đế qua đời, Cao Hậu tự lên trông coi việc nước, không may có bệnh, người họ Lữ chuyên quyền làm bậy, một mình khống chế ngự được, mới lấy con người họ khác nối nghiệp Hiếu Huệ Hoàng Đế Nhờ anh linh tông miếu
và sức lực của các công thần, đã giết hết bọn ấy Trẫm vì các vương hầu và quan lại không cho từ chối, không thể không nhận, nay đã lên ngôi Mới rồi nghe nói vương có gửi thư cho tướng [4b] [4b] quân Lâm Lư hầu, muốn tìm anh em thân và xin bãi chức hai tướng quân ở Trường Sa Trẫm theo thư của vương, đã bãi chức tướng quân Bác Dương hầu rồi, còn anh em thân của vương hiện ở Chân Định, trẫm đã sai người đến thăm hỏi và sửa đ¡p phần mộ tiên nhân của vương rồi Ngày trước nghe tin vương đem quân đánh biên giới, cướp phá mãi không thôi, dân Trường Sa khổ sở mà Nam Quận khổ nhất, nước của vương há được lợi riêng hay sao? Tất phải chết nhiều quân lắnh, hại các tướng lại tài giỏi, làm cho vợ góa chồng, con mồ côi, cha mẹ mất con, được một hại mười, trẫm không nỡ làm thế Trẫm muốn phân định đất phong xen kẽ để chế ngự lẫn nhau3, đem việc ra hỏi, bọn quan lại đều nói: "Cao Hoàng Đế sở dĩ lấy Trường Sa làm địa giới, vì [quá chỗ đó] là đất của vương, không nên tự tiện thay đổi" Nay dù lấy được đất đai của vương cũng không đủ lớn thêm, lấy được của cải của vương cũng không đủ giàu thêm, cõi đất từ Ngũ Lĩnh về nam, vương cứ việc trị lấy Tuy vậy, vương xưng là [5a] [5a] đế, hai đế cùng lập mà không có xe sứ thông hiếu, thế là tranh nhau Tranh mà không biết nhường thì người có nhân không làm Trẫm nguyện cùng vương đều bỏ hiềm trước, từ nay trở đi thông hiếu như xưa Vì vậy mới sai Lục Giả sang đưa tờ dụ, để tỏ với vương bản ý của trẫm Vương cũng nên nghe theo, chớ làm những việc cướp phá nữa Nhân gửi biếu vương 50 chiếc áo bông thượng hạng, 30 chiếc áo bông trung hạng, 20 chiếc áo bông hạ hạng Mong rằng Vương hãy nghe nhạc tiêu sầu và thăm hỏi nước láng giềng"
Khi Giả đến, vua tạ lỗi nói: "Kắnh vâng chiếu chỉ, xin làm phiên vương, giữ mãi lệ cống" Rồi đó vua
hạ chiếu rằng: "Trẫm nghe: hai người hùng không đứng cùng nhau, hai người hiền không ở cùng đời Hoàng
Đế nhà Hán là bậc thiên tử hiền tài, từ nay ta triệt bỏ xe mui vàng và cờ tả đạo là nghi chế của hoàng đế"
1 Tả đạo: loại cờ lớn trang sức bằng lông đuôi cừu, dựng trên xe nhà vua
2 Yết giả: chức quan đời Tần, Hán, giữ việc giao thiệp với nước ngoài
3 Nguyên văn: "định địa khuyển nha chi tương chế" (phân định đất đai theo kiểu xen kẻ như răng chó để chế ngự lẫn nhau) Nhà Hán c¡t đất phong kiểu cho xen lọt phần đất của phiên quốc nọ với phiên quốc kia để d- bề chế ngự
Trang 14Nhân viết thư rằng: "Man Di đại trưởng lão phu, thần Đà, mạo muội đáng chết, hai lạy dâng thư lên hoàng đế bệ hạ Lão phu vốn là lại cũ ở đất Việt, Cao Đế ban cho ấn [5b][5b] thao làm Nam Việt Vương Hiếu Huệ Hoàng Đế lên ngôi, vì nghĩa không nỡ tuyệt nên ban cho lão phu rất hậu Cao Hậu lên coi việc nước lại phân biệt Hoa - Di, ra lệnh không cho Nam Việt những khắ cụ làm ruộng bằng s¡t và đồng; ngựa, trâu, dê nếu cho thì cũng chỉ cho con đực, không cho con cái Lão phu ở đất hẻo lánh, ngựa, trâu, dê đã già Tự nghĩ nếu không s¡m l- vật cúng tế, thì tội thực đáng chết, mới sai nội sử Phan, trung úy Cao, ngự sử Bình, ba bọn dâng thư tạ lỗi, nhưng đều không thấy trở về Lại nghe đồn rằng, phần mộ của cha mẹ lão phu bị đập phá, anh em họ hàng đều bị giết Vì vậy, bọn lại bàn nhau rằng: "Nay bên trong không được phấn chấn với nhà Hán, bên ngoài không lấy gì để tự cao khác với nước Ngô" Vì vậy mới đổi xưng hiệu là đế, để tự làm
đế nước mình, không dám làm điều gì hại đến thiên hạ Cao Hoàng Hậu nghe tin cả giận, tước bỏ sổ sách của Nam Việt, khiến cho việc sai người đi sứ không thông Lão phu trộm ngờ là vì Trường Sa Vương gièm [6a]
[6a] pha, cho nên mới đem quân đến đánh biên giới Lão phu ở đất Việt 49 năm, đến nay đã ẵm cháu rồi, những vẫn phải dậy sớm, ngủ muộn, nằm không yên chiếu, ăn không biết ngon, m¡t không trông s¡c đẹp, tai không nghe tiếng chuông trống, chỉ vì không được làm tôi nhà Hán mà thôi Nay may được bệ hạ có lòng thương đến, được khôi phục hiệu cũ, cho thông sứ như trước, lão phu dù chết xương cũng không nát Vậy xin đổi tước hiệu, không dám xưng đế nữa Kắnh cẩn sai sứ giả dâng một đôi ngọc bắch tr¡ng, 1.000 bộ lông chim trả, 10 sừng tên, 500 vỏ ốc màu tắa, 1 giỏ cà cuống, 40 đôi chim trả sống, 2 đôi chim công Mạo muội liều chết, hai lạy dâng lên hoàng đế bệ hạ"
Lục Giả đem thư ấy về báo, vua Hán rất mừng Từ đấy Nam B¡c giao hảo, thôi việc binh đao, dân được yên nghỉ
Trang 15Mùa xuân, tháng giêng, vua Hán băng
Nhâm Dần,
Nhâm Dần, năm thứ 69 [139 TCN], (Hán Vũ Đế Triệt, Kiến Nguyên năm thứ 2) Mùa xuân, tháng giêng, ngày 30, nhật thực Mùa hạ, tháng 4, có sao to bằng mặt trời mọc ban đêm
Quý Mão,
Quý Mão, năm thứ 70 [138 TCN], (Hán Kiến Nguyên năm thứ 3) Mùa thu, tháng 7, sao Chổi mọc
ở phắa tây b¡c Tháng 9, ngày 30, nhật thực
Giáp Thìn,
Giáp Thìn, năm thứ 71 [137 TCN], (Hán Kiến Nguyên, năm thứ 4) Vua băng, thụy là Vũ Đế Cháu
là Hồ lên nối ngôi (Về sau, nhà Trần [8a] phong là Khai Thiên Thể Đạo Thánh Vũ Thần Triết Hoàng Đế)
Lê Văn Hưu nói: Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt
ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to l¡m vậy Người làm vua nước Việt sau này nếu biết b¡t chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương B¡c không thể [8b][8b] lại ngấp nghé được
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Truyện [Trung Dung] có câu: "Người có đức lớn thì ¡t có ngôi, ¡t có danh, ¡t được sống lâu" [Vũ] Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức
mà thôi Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói: "Biêt khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua" Vua chắnh hợp câu ấy
1 Sự việc ghi trong năm Canh Tý này (141 TCN), trước đã nói mùa đông, sau lại ghi việc mùa xuân, hẳn là việc ở hai năm khác nhau Hán Cảnh Đế ở ngôi 16 năm, chết năm Canh Tý (xem: Lịch đại đế cương miếu thụy niên húy phả) đúng như Toàn Thư ghi tại đây Vì vậy, điều ghi "mùa đông, tháng 10 " ở trên là ghi lại sự việc trong mùa đông năm trước Hoặc cũng có thể coi là văn bản Toàn thư
bỏ sót tiêu mục về năm Kỷ Hợi (142 TCN) mà sự việc về mùa đông đã ghi nhầm vị trắ như trên
Trang 16Văn Vương Văn Vương
Hoài Nam Vương [Lưu] An dâng thư can rằng:
"Việt là đất ở ngoài cõi Dân c¡t tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được Từ thời Tam đại thịnh trị, người Hồ, người Việt đã không nhận chắnh sóc, không phải là vì mạnh mà không hàng phục được, uy không chế ngự được, mà vì đất ấy không thể ở được, dân ấy không thể chăn được, không bõ làm phiền đến Trung Quốc vậy Nay họ đánh lẫn nhau mà bệ hạ phát quân đến cứu, thế là trái lại đem Trung Quốc mà [9b] [9b] phục dịch di dịch vậy
Vả người Việt khinh bạc, tráo trở, không theo pháp độ, không phải mới có một ngày Nay mới không vâng chiếu mà cất quân đi đánh giết, thần sợ sau này việc binh cách không biết đến lúc nào thôi Vừa rồi mấy năm liền không được mùa, sinh kế của dân chưa lại như cũ, nay phát binh lấy lương, đi mấy nghìn dặm lại thêm rừng sâu tre rậm, nhiều r¡n độc thú dữ, tháng hè mùa n¡ng, các bệnh thổ tả hoặc loạn phát ra luôn, tuy chưa từng ra quân đọ kiếm mà chết chóc tất đã nhiều rồi Thần nghe rằng sau việc quân lữ, tất là mất mùa, là bởi cái khắ sầu khổ phá sự điều hòa của khắ âm dương, cảm đến tinh khắ của trời đất, tai biến do đấy mà sinh ra Bệ hạ đức sánh trời đất, ơn đến cỏ cây, một người đói rét không được hưởng trọn tuổi trời
mà chết, bệ hạ cũng lấy làm thương xót trong lòng Hiện nay trong nước không có tiếng chó sủa báo động
mà khiến quân lắnh phải dãi dầu [10a][10a] ở đồng nội, ngấm ướt ở núi hang, khiến dân ở biên cương phải đóng cửa sớm mở cửa muộn, bữa mai không kịp bữa hôm, thần An trộm xin bệ hạ thận trọng việc đó
Vả người Việt nhân tài vật lực yếu mỏng không biết đánh bộ, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, thế mà không thể đem quân vào được, là vì họ giữ được đất hiểm, mà người Trung Quốc thì không quen thủy thổ
Thần nghe ở đường sá người ta nói rằng: Mân Việt Vương bị em là Giáp giết chết, Giáp cũng đã bị giết rồi, dân nước ấy chưa thuộc về ai Nếu bệ hạ sai trọng thần đến nơi thăm hỏi, ban đức cấp thưởng để chiêu dụ họ, thế tất họ sẽ d¡t trẻ dìu già theo về thánh đức Nếu [bệ hạ] không dùng đất ấy làm gì, thì nước
đã mất làm cho còn, dòng đã tuyệt khiến nối lại, phong làm vương hầu, như thế tất họ phải đem mình làm tôi, đời đời nộp cống Bệ hạ chỉ dùng cái ấn vuông một tấc, dây thao một trượng hai, mà trấn vỗ được đất ngoài, không phải nhọc mệt tên lắnh nào, không phải cùn một chiếc giáo nào, mà uy đức đều được cả Nay đem quân [10b][10b] vào đất họ, họ tất sợ hãi, trốn vào rừng núi; nếu ta bỏ về, thì họ lại họp đàn tụ lũ, nếu ta ở để giữ, thì hết năm này sang năm khác, quân lắnh mệt mỏi, lương thực thiếu hết, một phương có việc gấp, thì bốn mặt đều sợ Thần sợ rằng biến cố sẽ sinh, gian tà sẽ nổi, đều là b¡t đầu từ đấy cả
Thần nghĩ rằng: quân của thiên tử chỉ đi đánh kẻ dưới phạm lỗi, chứ không đi đánh nhau để tranh giành, vì là không ai dám đọ sức Nếu người Việt làm liều chống lại quan chấp sự mà trong quân kiếm củi
Trang 17đẩy xe có kẻ nào không về đủ thì dù có chém được đầu của Việt Vương, thần cũng lấy làm xấu hổ1 Bệ hạ lấy chắn châu làm nhà, sinh dân đều là thần thiếp cả, đất của di địch nào có đủ làm nhàn hạ được một ngày
mà phải phiền đến ngựa đổ mồ hôi mệt nhọc? Kinh Thi có câu: "Đạo vương tin thực, đất Từ theo về" Ý nói vương đạo rất lớn mà phương xa mến phục Thần An trộm lo rằng tướng lại đem 10 vạn quân đi chỉ làm cái trách nhiệm của một người [11a][11a] sứ giả mà thôi."
Khi ấy quân nhà Hán chưa qua đèo, Mân Việt Vương đã phát binh giữ chỗ hiểm để chống cự Em Mân Việt Vương là Dư Thiện cùng với người trong họ bàn nhau rằng: "Vì vương tự tiện đem quân đánh Nam Việt không xin phép nhà Hán, cho nên nhà Hán đem quân đến đánh Quân Hán nhiều và mạnh, dù may mà mình có đánh được chăng nữa sau họ lại kéo sang nhiều hơn, chung quy nước cũng bị diệt, chi bằng giết vương để tạ lỗi với nhà Hán mà xin bãi binh" Bèn giết Sắnh, sai sứ đem đầu nộp cho Vương Khôi Khôi liền cho đóng quân lại, bảo cho Hàn An Quốc, rồi sai sứ mang đầu Sắnh chạy về báo Vua Hán sai Trang Trợ sang tỏ ý cho vua biết Vua rập đầu nói: "Thiên tử vì quả nhân đem quân giết vua Mân Việt, quả nhân dù chết cũng không báo đáp được ân đức ấy" Mới sai thái tử là Anh Tề sang nhà Hán làm con tin Nhân bảo Trợ rằng: "Nước tôi mới bị cướp, sứ giả cứ về trước, quả nhân đang ngày đêm s¡m sửa hành trang để vào triều kiến thiên tử" Trợ về rồi, bầy tôi đều can [11b][11b] vua rằng: "Quân nhà Hán giết [Mân Việt Vương] Sắnh
là có ý muốn cảnh cáo nước Việt ta Vả lại tiên đế đã nói thờ nhà Hán cốt không thất l- thì thôi Tóm lại chớ nên tin lời nói khéo, vào chầu vua Hán thì không về được nữa, đó là thế mất nước đấy." Vua bèn nói thác là
có bệnh rồi không sang yết kiến nữa
Minh Vương Minh Vương
Ở ngôi 12 năm
Vua không cẩn thận mối vợ chồng, gây thành loạn cho quốc gia, không có gì đáng khen.Vua không cẩn thận mối vợ chồng, gây thành loạn cho quốc gia, không có gì đáng khen Tên húy là Anh Tề, con trưởng của Văn Vương
Đinh Tỵ, năm thứ 1 [124 TCN], (Hán Nguyên Sóc năm thứ 5) Lấy Lữ Gia làm Thái phó
1 Câu này có khác vài chữ so với nguyên văn bức thư của Lưu An: " thần do thiết vị Đại Hán tu chi": thần cũng trộm xấu hổ cho nhà Đại Hán (Hán thư, Hoài Nam Vương truyện)
Trang 18Tên húy là Hưng, con thứ của Minh Vương
Năm ấy, vua đã lên ngôi, tôn mẹ là Cù thị là thái hậu
Trước kia, thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng An Quốc là họ, Thiếu Quý là tên Năm ấy nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ vua và thái hậu vào chầu, như đối với các chư hầu ở trong, lại sai biện sĩ là bọn Gián nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ, dũng sĩ là bọn Ngụy Thần giúp việc, vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả Khi ấy vua còn ắt tuổi, Cù hậu là người Hán, Thiếu Quý đến, lại tư thông Người nước biết, phần nhiều không theo thái hậu Thái hậu sợ loạn nổi, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên vua và các quan xin nội phụ nhà Hán [13b] Bèn nhờ sứ nhà Hán dâng thư, xin theo như các chư hầu ở trong, cứ 3 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới Vua Hán bằng lòng, ban cho vua và Thừa tướng Lữ Gia ấn bằng bạc và các ấn nội sử, trung úy, thái phó, còn các chức khác được tự đặt lấy Bỏ hình phạt cũ thắch chữ, c¡t mũi, dùng pháp luật nhà Hán như các chư hầu ở trong Các sứ giả đều ở lại để trấn giữ vỗ về1
Kỷ Tỵ,
Kỷ Tỵ, năm thứ 1 [112 TCN], (Hán Nguyên Đỉnh năm thứ 5) Vua và thái hậu đã sửa soạn hành trang l- vật quý giá để vào chầu Bấy giờ Tể Tướng Lữ Gia tuổi đã nhiều, làm tướng trải ba triều, người trong họ làm trưởng lại đến hơn 7 chục người, con trai đều lấy con gái vua, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương ở quận Thương Ngô, trong nước rất được lòng dân hơn cả vua Gia nhiều lần dâng thư can vua, vua không nghe, nhân thế có lòng muốn làm phản, thường cáo ốm không tiếp [14a] [14a] sứ giả nhà Hán Các sứ giả nhà Hán đều chú ý đến Gia, nhưng thế chưa thể giết được Vua và thái hậu cũng sợ bọn Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết bọn Gia Bèn đặt tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu Em Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung Tiệc rượu mới b¡t đầu, thái hậu bảo Gia rằng: "Nam Việt nội thuộc [Trung Quốc] là điều lợi cho nước, thế mà
1 Nguyên bản in là: "dụng Hán pháp, tỷ nội chư hầu giả giai trấn phủ chi", cú pháp và ý nghĩa đều không ổn Ở Sử Ký (q.113 Nam Việt liệt truyện) câu này viết rõ là: " dụng Hán pháp, tỷ nội chư hầu Sứ giả giai lưu trấn phủ chi" Như vậy, văn bản của Toàn Thư ở câu trên đây bỏ sót hai chữ: sứ và lưu Chúng tôi dịch theo câu đã chỉnh lý
Trang 19tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao?", cốt để chọc tức sứ giả Sứ giả còn đương hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì Gia thấy tai m¡t họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra Thái hậu giận, muốn lấy giáo đâm Gia, vua ngăn lại Gia bèn ra chia lấy quân lắnh của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả, ngầm cùng các đại thần mưu làm loạn Vua vốn không có ý giết Gia, Gia cũng biết thế, vì vậy đến mấy tháng không hành động gì Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi [14b] [14b] Vua Hán nghe tin Gia không nghe mệnh, mà vua và thái hậu thì cô lập, yếu ớt không chế ngự nổi, sứ giả thì nhút nhát không quyết đoán, lại thấy vua và thái hậu đã nội phụ rồi, chỉ một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng dấy quân, muốn sai Trang Sâm đem 2 nghìn người sang sứ Trang Sâm nói: "Lấy sự hòa hiếu mà sang, thì vài người cũng đủ, lấy vũ lực mà sang, thì 2 nghìn người không làm gì được" Sâm từ chối không nhận Vua Hán bèn bãi chức Sâm Tướng Tế B¡c cũ là Hàn Thiên Thu hăng hái nói: "Một nước Việt cỏn con, lại có vương và thái hậu làm nội ứng, chỉ một mình thừa tướng Lữ Gia làm loạn, xin cấp cho 3 trăm dũng sĩ, thế nào cũng chém được Gia về báo" Bấy giờ nhà Hán sai Thiên Thu và em Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2 nghìn người tiến vào đất Việt Lữ Gia bèn hạ lệnh cho trong nước rằng: "Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết [15a] [15a] đồ châu báu của Tiên Vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi b¡t bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã t¡c họ Triệu và lo kế muôn đời" Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua Vua bị giết, tên thụy là Ai Vương
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Tai họa của Ai Vương, tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực thì gây mầm từ Cù Hậu Kể ra s¡c đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước nhà người ta thì có nhiều manh mối, mà cái triệu của nó thì không thể biết trước được Cho nên các tiên vương tất phải đặt ra l- đại hôn1, tất phải cẩn thận quan hệ vợ chồng, tất phải phân biệt hiềm nghi, hiểu những điều nhỏ nhặt, tất phải chắnh vị trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất phải dạy đạo [15b][15b] tam tòng, thì sau đó mối họa mới không do đâu mà đến được Ai Vương ắt tuổi không thể ngăn giữ được mẹ, Lữ Gia coi việc nước, việc trong việc ngoài lại không dự biết hay sao? Khách của nước lớn đến, thì việc đón tiếp có l- nghi, chỗ ở có thứ
tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người, sao đến nỗI để thông dâm với mẫu hậu? Mẫu hậu ở thẳm trong cung, không dự việc ngoài: khi nào có việc ra ngoài, thì có xe da cá, có màn đuôi trĩ, cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với sứ khách được? Bọn Gia toan dập t¡t lửa cháy đồng khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ họa loạn từ khi chưa có triệu chứng gì có hơn không? Cho nên nói: Làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác; làm tôi không biết nghĩa Xuân Thu tất m¡c phải tội cướp ngôi giết vua, tức như là Minh Vương, Ai Vương và Lữ Gia vậy
Thuật Dương Vương Thuật Dương Vương
Trang 20Bấy giờ, mùa đông, tháng 11, Tể tướng Lữ Gia đã lập vua lên ngôi, mà quân của Hàn Thiên Thu đã vào cõi, đánh phá một vài ấp nhỏ Gia bèn mở một đường thẳng để cấp lương cho quân, [khi quân nhà Hán] đến còn cách Phiên Ngung 40 dặm, thì Gia xuất quân đánh, giết được bọn Thiên Thu Sai người đem
sứ tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ) dùng lời khéo để tạ tội, [một mặt] phát binh giữ chỗ hiểm yếu Vua Hán nghe tin, sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xuất phát từ Quế Dương, Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc xuất phát từ Dự Chương, Qua Thuyền tướng quân1 Nghiêm (sử chép thiếu họ) xuất phát từ Linh Lăng, Hạ lại tướng quân Giáp [16b] [16b] (sử chép thiếu họ) đem quân xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý2 (sử chép thiếu họ) đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội cả ở Phiên Ngung
Canh Ngọ,
Canh Ngọ, năm thứ 1 [111 TCN], (Hán Nguyên Đỉnh năm thứ 6) Mùa đông, Dương Bộc nhà Hán đem 9 nghìn tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn (Lữ Gia chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn) lấy được thuyền thóc của ta kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức Bác Đức nói vì đường xa nên chậm, rồi cùng với Lâu thuyền tướng quân hội quân tiến đến Phiên Ngung Bấy giờ [Lộ Bác Đức] có hơn 1 nghìn người cùng tiến [với quân Dương Bộc] Dương Bộc đi trước đến Phiên Ngung Vua và Lữ Gia cùng giữ thành Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng ở mặt tây b¡c Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại [quân Triệu], phóng lửa đốt thành Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ắt bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ Kẻ nào ra hàng đều cho ấn thao
và tha cho về để chiêu dụ nhau Lâu thuyền3 [17a] [17a] tướng quân Dương Bộc cố sức đánh, đuổi [quân Triệu] chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức Đến tờ mờ sáng thì trong thành đầu hàng Vua và Gia cùng với vài trăm người, đang đêm chạy ra biển Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Gia, bèn sai người đuổi theo Hiệu úy tư mã là Tô Hoằng b¡t được vua, quan lang Việt là Đô Kê (có bản chép là Tôn Đô) b¡t được Gia Bấy giờ quân của Hạ lại và Qua thuyền tướng quân, cùng quân Dạ Lang của Trì Nghĩa hầu chưa đến mà nước Việt ta đã bị Lộ Bác Đức và Dương Bộc dẹp yên rồi (Bấy giờ nước Việt ta sai ba quan sứ4đem 300 con trâu, 1.000 chung rượu và sổ hộ của 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đến xin hàng;
Lộ Bác Đức nhân đó cho ba người ấy làm thái thú ở 3 quận để trị dân như cũ) Từ đó [nhà Hán] lấy đất chia làm 9 quận là: Nam Hải (quận của nhà Tần, nay là đất Quảng Đông nhà Minh), Thương Ngô (nhà Đường gọi
là Ích Châu5, xưa là Âu Lạc, đất của nước Việt ta), Uất Lâm (nhà Tần là quận Quế Lâm, Hán Vũ Đế đổi làm tên này), Hợp Phố (nhà Tần là Tượng Quận, nay thuộc Liêm Châu), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đều là Tượng Quận thời Tần)6, Châu Nhai, Đạm Nhĩ (đều ở trong biển lớn) Từ đấy nhà Hán b¡t đầu [17b] đặt Thứ
sử, Thái thú Chế độ nhà Hán đặt Thứ sử cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận (quận là cấp dưới của châu)
1 Phục ba tướng quân, Lâu thuyền tướng quân, Qua thuyền tướng quân, Hạ lại tướng quân đều là danh hiệu cấp tướng quân đời Hán Vũ
Đế (phục ba: dẹp sóng, lâu thuyền: thuyền lầu, hạ lại: xuống thác) Riêng về tên hiệu Qua thuyền tướng quân, Trương An chú giải Sử
Ký viết: "Người Việt thường lặn dưới nước để lật úp thuyền, lại thường có thuồng luồng làm hại cho nên phải c¡m qua ở dưới thuyền, nhân đó mà đặt tên" (qua là một loại vũ khắ)
2 Từ Quảng chú giải Sử Ký ghi Trì Nghĩa hầu tên là Di
3 Nguyên bản thiếu tờ 17 a-b và đóng nhầm tờ 17 a-b của BK2, chúng tôi theo bản in khác để bổ sung tờ thiếu này
4 Ở năm Quý Mão (198 TCN), Toàn thư đã ghi Triệu Vũ Đế sai hai sứ coi giữ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân; ở đây lại nói sai ba quan
sứ đem sổ hộ của 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam Lời cẩn án của Cương mục (TB2,2b) dẫn sách Thủy Kinh chú của Lịch Đào Nguyên cũng chép việc tương tự để đắnh chắnh điều ghi trên đây: chỉ có hai sứ ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, không nói đến quận Nhật Nam
5 Thương Ngô là tên quận đặt thời Hán, nhà Đường đổi gọi là Ngô Châu (nay là huyện Thương Ngô, tỉnh Quảng Tây), chứ không phải là Ích Châu (nay là Tứ Xuyên) như người chú thắch nguyên bản đã nhầm
6 Xem chú thắch 3 tr.138
Trang 21Lê Văn Hưu nói: Lữ Gia can ngăn Ai Vương và Cù thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là biết trọng nước Việt vậy Song can mà không nghe, thì nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu cũng nghe ra mà tỉnh ngộ Nếu lại vẫn không nghe theo, thì nên tự trách mình mà lánh ngôi [tể tướng], nếu không thế thì dùng việc cũ họ Y1, họ Ho¡c, chọn một người khác trong hàng con của Minh Vương để thay ngôi, cho Ai Vương được như Thái Giáp2 và Xương Ấp mà giữ toàn tắnh mệnh, như thế thì không lỗi đường tiến thoái Nay lại giết vua để hả lòng oán, lại không biết cố chết để giữ lấy nước, khiến cho nước Việt bị chia c¡t, phải làm tôi nhà Hán, tội của Lữ Gia đáng chết không dung
[18a]
[18a] Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm cửa ngõ của nước cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Qu¡c Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia c¡t Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam-B¡c vậy Sau này các bậc Đế Vương nổi dậy, chỗ đất hiểm
đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong Sĩ Vương tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chắnh vị hiệu, sau khi chết lại mất hết; mà các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như vậy
Trở lên là họ Triệu, từ Vũ Đế năm Giáp Ngọ đến Thuật Dương Vương năm Canh Ngọ là hết, gồm 5 đời, cộng 97 năm [207
2 Xem chú thắch NK1, 8b
Trang 22Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Quyển III [1a]
[1a]
K ỷ T h u ộ c T â y H á n
K ỷ T h u ộ c T â y H á n
Tân Mùi
Tân Mùi, [110 TCN], (Hán Nguyên Phong năm thứ 1) Nước Việt ta đã thuộc về nhà Hán Nhà Hán cho Thạch Đái làm Thái Thú 9 quận (Chế độ nhà Hán lấy châu lãnh quận, trừ hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ đều ở giữa biển, còn 7 quận thuộc về Giao Châu, Đái làm châu Thái thú1 Thời Tây Hán, trị sở của Thái Thú đặt tại Long Uyên, tức là Long Biên, thời Đông Hán đặt tại Mê Linh tức là Yên Lăng2 Đến khi Đái chết, Hán Chiêu Đế lấy Chu Chương thay Đến cuối đời Vương Mãng, châu mục Giao Châu là Đặng Nhượng cùng các quận đóng chặn bờ cõi để tự giữ Tướng nhà Hán là Sầm Bành vốn quen thân với Nhượng, gửi thư cho Nhượng bày tỏ uy đức của nhà Hán Thế rồi [Nhượng] bảo Thái thú Giao Chỉ là Tắch Quang và Thái thú các quận là bọn Đỗ Mục sai sứ sang cống hiến nhà Hán Nhà Hán đều phong cho những người ấy tước hầu Bấy giờ là năm Kỷ Sửu thời Hán Quang Vũ năm Kiến Vũ thứ 5 [29] Tắch Quang người quận Hán Trung, khi ở [1b] Giao Chỉ, lấy l- nghĩa dạy dân Lại lấy Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân Diên là người Uyển [huyện] Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ Dân nghèo không có sắnh l- cưới vợ, Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra để giúp đỡ, cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người Diên coi việc được 4 năm thì bị gọi về Người Cửu Chân làm đền thờ Những người đẻ con đều đặt tên là Nhâm Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam b¡t đầu từ hai thái thú ấy
Trang 23Ở ngôi 3 năm
Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương, nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên công tái tạo
Tên húy là Tr¡c, họ Trưng Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh1, Phong Châu,
vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên2 (Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau Sách Cương mục tập lãm lấy Lạc làm họ là lầm) Đóng đô ở Mê Linh
Canh Tý,
Canh Tý, năm thứ 1 [40], (Hán Kiến Vũ năm thứ 16) Mùa xuân, tháng 2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu Định chạy về nước Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được [2b][2b] 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng
Tân Sửu,
Tân Sửu, năm thứ 2 [41], (Hán Kiến Vũ năm thứ 17) Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực Nhà Hán thấy họ Trưng xưng vương, dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy bị khổ, mới hạ lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta s¡p sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược
Nhâm Dần,
Nhâm Dần, năm thứ 3 [42], (Hán Kiến Vũ năm thứ 18) Mùa xuân, tháng giêng, Mã Viện theo ven biển mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phắa tây Tây Nhai của La Thành, gọi là Lãng Bạc)3 đánh nhau với vua Vua thấy thế giặc mạnh l¡m, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê, sử chép là Kim Khê) Quân cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy Quốc thống lại mất
[3a]
[3a] Lê Văn Hưu nói: Trưng Tr¡c, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương d- như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp
bá vương Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương B¡c, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi ! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy
Trở lên là Trưng Nữ Vương, b¡t đầu từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần thì hết, tất cả 3 năm [40
năm [40 42].42]
1 Huyện Mê Linh: thời thuộc Hán bao gồm phần đất tỉnh Vĩnh Phú và một số huyện thuộc ngoại thành Hà Nội ngày nay
2 Huyện Chu Diên: thời thuộc Hán ở miền lưu vực sông Đáy (thuộc một phần đất Hà Tây và Hà Nam Ninh)
3 Ở đây, Toàn thư cho Lãng Bạc là Hồ Tây (Hà Nội), nhưng như vậy là lầm Nhiều nhà nghiên cứu đã đoán định Lãng Bạc ở vùng huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà B¡c ngày nay
Trang 24K ỷ T h u ộ c Đ ô n g H á n
K ỷ T h u ộ c Đ ô n g H á n Quý Mão,
Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], [43], (Hán Kiến Vũ năm thứ 19) Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, [3b][3b] thế cô, đều thua chết Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán (Cột đồng tương truyền ở trên động Cổ Lâu1 châu Khâm Viện có câu thề: "Cột đồng gãy thì Giao Châu diệt" Người Việt ta đi qua dưới cột ấy, thường lấy đá chất vào, thành như gò đống, vì sợ cột ấy gãy Mã Tổng nhà Đường lại dựng hai cột đồng ở chỗ cũ của nhà Hán ghi công đức của Mã Viện để tỏ ra mình là dòng dõi của Phục Ba, nay chưa rõ ở chỗ nào Hai sông Tả Giang, Hữu Giang mỗi nơi có một cột) Viện thấy huyện Tây Vu có 3 vạn 3 nghìn hộ, xin chia làm hai huyện Phong Kê và Vọng Hải, vua Hán nghe theo Viện lại đ¡p thành Kiển Giang ở huyện Phong Khê Thành đ¡p tròn như hình cái kén, cho nên lấy [chữ Kiển]2 làm tên Nước Việt ta lại thuộc vào nhà Hán Ba năm sau, Viện trở về Người địa phương thương mến Trưng Nữ Vương, làm đền thờ phụng (đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc3, ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có)
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà [4a][4a] quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khắ khái anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc
gì là không linh ứng Cả bà Trưng em cũng thế Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khắ hùng dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khắ phách cương trực chắnh đại ấy ư ?
Giáp Thìn,
Giáp Thìn, [44], (Hán Kiến Vũ năm thứ 20) Từ đây về sau, trải các đời Hán Minh Đế, Chương Đế, Hòa Đế, Thượng Đế, An Đế, gồm 5 đời, cộng 82 năm, duy thời Minh Đế có Lý Thiện người huyện Nam Dương làm Tháu thú Nhật Nam, làm việc chắnh sự có ân huệ yên dân, khiến cho người khác phong tục cũng mến chuộng tìm đến Sau Thiện đổi làm Thái thú Cửu Chân
Bắnh Tý,
Bắnh Tý, [136], (Hán Thuận Đế Bảo, Vĩnh Hòa năm thứ 1) Thái thú Chu Xưởng cho là Giao Châu ở ngoài chắn châu [4b][4b], ở rìa Bách Việt, dâng biểu xin đặt phương bá4 Vua Hán để cho Xưởng làm Thứ sử5, cai quản các quận huyện
Đinh Sửu,
Đinh Sửu, [137], (Hán Vĩnh Hòa năm thứ 2) Người man ở huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam (ở địa giới nước Việt Thường xưa), là bọn Khu Liên đánh phá quận huyện, giết trưởng lại Thứ sử Giao Châu là Phàn Di-n đem quân châu và quân Cửu Chân hơn vạn người đi cứu ứng, nhưng quân lắnh ngại đi xa Mùa thu, tháng 7, quân hai quận làm phản đánh phủ trị, thế chuyển thành mạnh
1 Chuyện cột đồng Mã Viện được chép trong một số tài liệu của Trung Quốc, nhưng đều không ăn khớp với nhau Cho cột đồng ở Cổ Lâu (Khâm Châu) chỉ là một thuyết, CMTB2, 13b chép là Cổ Sâm (theo Nhất Thống Chắ của nhà Thanh)
2 Kiển: ổ kén
3 Nay ở Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây
4 Phương bá: gọi chung quan đứng đầu địa phương, nhưng thường chỉ quan đứng đầu một châu như Thứ sử, Quan sát sứ thời Hán, Bồ chắnh sứ thời Minh - Thanh, v.v
5 Về việc Chu Xưởng dâng biểu, Cương mục ghi rõ: "Khoảng thời Hán Thuận Đế, Thái thú Giao Chỉ là Chu Xưởng xin lập đất Giao Chỉ làm một châu, triều đình bàn định không cho, nhưng phong cho Chu Xưởng làm Thứ sử Giao Chỉ" (CMTB2, 17b, dẫn Tấn Chắ) Như vậy nhà Hán chỉ cho Xưởng làm Thứ sử là chức quan chắnh thức của người cai quản một châu, còn việc lập riêng một châu (lĩnh các quận) thì mãi đến năm Kiến An thứ 8 (203) mới thực hiện
Trang 25Mậu Dần,
Mậu Dần, [138], (Hán Vĩnh Hòa năm thứ 3) Mùa hạ, tháng 5, Thị ngự sử Giả Xương cùng với các châu quận hợp sức đánh bọn Khu Liên không được, bị Khu Liên vây đánh hơn một năm, binh lương không thể tiếp tế được Vua Hán gọi các công khanh và thuộc lại bốn phủ để hỏi phương lược, các quan đều bàn nên sai tướng phát 4 vạn quân của bốn châu Kinh, Dương, [5a] [5a] Duyện, Dự đi đánh Lý Cổ bác đi, nói rằng:
"Các châu Kinh, Dương giặc cướp tụ họp chưa tan; Trường Sa, Quế Dương đã nhiều lần bị thu thuế b¡t lắnh, nay lại làm rối động, ¡t lại sinh họa nữa Người các châu Duyện, Dự phải đi xa muôn dặm, chiếu thư thúc bách, tất phải bỏ trốn Nam Châu1 thì trời n¡ng nực, ẩm thấp lại thêm lam chướng dịch lệ, 10 phần phải chết đến 4, 5 phần Đường xa muôn dặm, quân lắnh mỏi mệt, đến lúc tới Lĩnh Nam thì đã không kham nổi chiến đấu Quân đi mỗI ngày 30 dặm mà Duyện, Dự cách quận Nhật Nam hơn 9 nghìn dặm, phải 3 trăm ngày mới đến Tắnh lương một người ăn mỗI ngày 5 thăng, thì phải dùng đến 60 vạn hộc gạo, đó là không kể lương thực của tướng lại và lừa ngựa Đặt quân ở đấy, chết chóc tất nhiều, đã không đủ quân chống giặc, lại phải b¡t thêm Thế là xẻo c¡t lòng bụng để ch¡p vá cho chân tay Cửu Chân và Nhật Nam chỉ cách nhau 1 nghìn dặm, lại dân ở đó đi đánh còn không kham nổi, huống chi lại làm khổ quân lắnh ở bốn châu [5b][5b] để cứu nạn xa muôn dặm? Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu đánh người Khương làm phản ở Ích Châu, người Ích Châu có ngạn ngữ rằng: "Lỗ lai thượng khả, Doãn lai sát ngã" (Giặc đến còn khá, Doãn đến chết ta) Sau Tựu bị đòi về, đem quân giao cho Phán châu là Trương Kiều, Kiều vẫn dùng tướng lại của Tựu, chỉ trong khoảng mười hôm, diệt hết giặc cướp Thế là bằng chứng tỏ rằng sai tướng đi là vô ắch, mà châu quận
có thể dùng được Nay nên chọn người nào có dũng lược nhân huệ, có thể làm tướng súy được, cho làm Thứ sử, Thái thú, dời lại dân ở Nhật Nam đến nương dựa vào quận Giao Chỉ ở B¡c, trở lại chiêu mộ người Man Di, khiến họ đánh lẫn nhau, chuyển vận hàng lụa đến để cấp cho, kẻ nào có thể phản gián dụ hàng thì c¡t đất phong cho Thứ sử Tắnh Châu trước là Chúc Lương dũng mãnh quyết đoán, Trương Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, đều có thể dùng được Bốn phủ đều theo lời bàn của Cố Bèn cho Lương làm Thái thú Cửu Chân, Kiều làm Thứ sử Giao Châu [6a][6a] Kiều đến nơi, lấy lòng thành thật dỗ bảo, dân chúng đều hàng phục Lương đi một xe đến Cửu Chân, tỏ rõ uy tắn, người ra hàng đến vài vạn
Giáp Thân,
Giáp Thân, [144], (Hán Kiến Khang năm thứ 1) Mùa thu, tháng 8, vua Hán mất Mùa đông, tháng
10, người Nhật Nam lại đánh đốt quận ấp Thứ sử Cửu Chân là Hạ Phương gọi những kẻ ra hàng dỗ bảo họ Sau Phương đổi làm Thái thú Quế Dương, lấy Lưu Tảo thay
Canh Tý,
Canh Tý, [160] (Hán Hoàn Đế Chắ, Nguyên Gia năm thứ 2) Mùa đông, tháng 11, người quận Cửu Chân lại đóng giữ quận Nhật Nam, quân chúng trở nên mạnh hơn Khi ấy Hạ Phương đã đổi làm Thái thú Quế Dương, lại giao cho làm Thứ sử Phương vốn có tiếng về uy đức, khi đến Nhật Nam, dân chúng tụ họp hơn vạn người đem nhau đến đầu hàng Phương
Mậu Ngọ,
Mậu Ngọ, [178], (Hán Linh Đế Hoành, Quang Hòa năm thứ 1) Mùa hạ, tháng 4, người trong châu
và bọn Man Ô Hử2 làm loạn đã lâu, mục [6b][6b] thú là Chu Ngung không ngăn được, người châu là bọn Lương Long nhân đấy dấy binh đánh phá quận huyện, quân đến vài vạn người
Tân Dậu,
Tân Dậu, [181], (Hán Quang Hòa năm thứ 4) Vua Hán sai Huyện lệnh Lan Lăng là Chu Tuấn, người Thượng Ngu quận Cối Kê, sang cứu Ngung Đường đi qua quê nhà, Tuấn mộ thêm gia binh cùng với binh đem đi theo cộng 5 nghìn người, theo hai đường tiến vào Trước hết sai xem xét hư thực, tuyên dương
1 Nam Châu: châu ở phương Nam, chỉ Giao Châu
2 Ô Hử: tên tộc thiểu số ở vùng núi Ô Hử thuộc huyện Hoành, tỉnh Quảng Tây (CMTB2, 24a dẫn Hậu Hán Thư và Nam Châu Dị Vật Chắ cũng ghi Ô Hử ở phắa nam Quảng Châu, phắa b¡c Giao Châu) Nguyên bản in nhầm là Điểu Hử, chữ Ô d- nhầm với chữ Điểu
Trang 26uy đức để lay động lòng người rồi quân bảy quận1 tiến bức, giết được Lương Long, kẻ đầu hàng đến vài vạn người
Giáp Tý, [183], (Hán Trung Bình năm thứ 1) Đồn binh người châu b¡t Thứ sử Chu Ngung giết đi, sai người đến cửa khuyết kể tội trạng của Ngung Vua Hán nghe tâu, xuống chiếu chọn kỹ quan lại có tài Hữu ty tiến cử Giả Tông là người Liêu thành Đông Quận làm Thứ sử (Tông trước làm Ngự sử) Trước đây những người làm Thứ sử thấy [7a] [7a] đất châu có các thứ ngọc trai, lông trả, tê, voi, đồi mồi, hương lạ, gỗ tốt, nhiều người không liêm khiết, vơ vét của cải cho đầy, rồi lại xin đổi đi, cho nên lại dân đều làm phản cả Kịp khi Tông đến bộ2, xét hỏi tình trạng làm phản, người ta đều nói rằng chắnh lệnh trước thuế má nặng quá, trăm họ không ai không khốn khổ túng thiếu, Kinh sư thì xa, không biết tố cáo vào đâu, dân không sống nổi, nên tụ họp nhau để chống, chứ không thực sự làm phản Tông mới sai người chia đi các nơi để khuyên dỗ, khiến đều yên nghiệp làm ăn, dụ dỗ những kẻ lưu vong, tha bớt thuế khóa Rồi giết kẻ bạo ngược đầu sỏ, chọn quan lại tốt cho giữ quận huyện Trăm họ được yên, trên đường ngõ người ta có câu rằng: "Giả phụ lai vãn, sử ngã tiên phản Kim kiến thanh bình, bất cảm phục bạn" (Bố Giả đến muộn, khiến ta phản trước; Nay thấy thanh bình, không dám phản nữa) Tông coi việc 3 năm, được gọi về làm chức Nghị Lan Lý Tiến thay (Lý Tiến là người Giao Châu ta)
[7b] Bắnh Dần, [186], (Hán Trung Bình năm thứ 3)3
Lê Văn Hưu nói: Xem sử đến thời nước Việt ta không có vua, bị bọn thứ sử người B¡c tham tàn làm khổ B¡c Kinh đường xa, không biết kêu vào đâu, bất giác xen lẫn cảm thương hổ thẹn, muốn tỏ lòng thành như Minh Tông nhà Hậu Đường, thường th¡p hương khấn trời: xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà, để khỏi bị người phương B¡c cướp vét
Trở lên là thời thuộc Hán, từ năm Quý Mão đến năm Bắnh Dần, tất cả 144 năm [43
Trở lên là thời thuộc Hán, từ năm Quý Mão đến năm Bắnh Dần, tất cả 144 năm [43 186].186]
Trang 27Đinh Mão,
Đinh Mão, năm thứ 1 [187], (Hán Trung Bình năm thứ 4) Vương có ba em trai tên là Nhất, Vĩ4 và
Vũ Bấy giờ Thứ sử Chu [8b][8b] Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương bèn dâng biểu cử Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vĩ làm Thái thú Cửu Chân, Vũ làm Thái thú Nam Hải Vương độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kắnh trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người
Canh Thìn,
Canh Thìn, năm thứ 14 [200], (Hán Hiến Đế Hiệp, Kiến An năm thứ 5) Thứ sử Lý Tiến dâng lời tâu lên vua Hán rằng: "Kh¡p cả thiên hạ đều là bề tôi của vua, thế mà nay làm quan ở triều đình đều là sĩ phu ở Trung Châu5 cả, chưa từng khuyến khắch người xa" Lời lẽ thiết tha cảm động, lại viện dẫn nhiều bằng chứng Vua Hán xuống chiếu cho người châu ta ai được cử hiếu liêm mậu tài thì cho phép được bổ trưởng lại trong châu, không được bổ ở Trung châu Tiến lại dâng sớ nói: "Người được cử làm hiếu liêm xin cho được như bác sĩ ở mười hai châu, căn cứ theo nhân tài mà đối xử" [9a][9a] Nhưng hữu ty sợ rằng người phương
xa khoác lác mà chê bai b¡t bẻ triều đình, nên không chuẩn cho Bấy giờ người nước Việt ta là Lý Cầm làm túc vệ ở đài, bèn rủ người đồng hương là bọn Bốc Long 5, 6 người, giữa ngày đầu năm các nước triều hội,
1 Tác giả Toàn Thư theo quan điểm chắnh thống đương thời đề cao nho học, coi Sĩ Nhiếp là người có công đầu trong việc truyền dạy chữ Hán ở nước ta Cương mục (phàm lệ) có nhận xét: "Sĩ Nhiếp theo lệnh triều đình Trung Quốc phái sang làm Thái thú, không từng xưng vương bao giờ, thế mà sử cũ cũng chép riêng thành một kỷ, nay tước bỏ đi, chỉ chép thẳng công việc thời ấy để ghi lấy sự thực " Để tôn trọng tác giả, chúng tôi vẫn giữ đúng nguyên bản, nhưng chỉ phiên âm chữ "vương" chứ không dịch là vua như đối với các đế vương khác: hết kỷ Sĩ Vương thì dịch thẳng là Sĩ Nhiếp
2 Nguyên bản in chữ theo Khang Hy tự điển, đó là lối viết không chắnh thức (tục tự) của chữ _ Các tự điển cổ dẫn trong tự điển nói trên đều chua âm đọc hai chữ ấy là Tiếp (hoặc phiên: tô hiệp thiết; hoặc phiên: tất hiệp thiết) CMTB2, 29a cũng chua âm là Tiếp (tô thiếp thiết) Nhưng ở đây chúng tôi vẫn phiên là Nhiếp theo thói quen lâu nay
3 Liên Lâu: cũng thường đọc là Luy Lâu, ở Thuận Thành, tỉnh Hà B¡c, nay còn di tắch thành, theo nhiều nhà khoa học, thành Liên Lâu không phải là Long Biên
4 Sĩ VĨ, Toàn thư chép với chữ ; theo Tam quốc chắ [Sĩ Nhiếp truyện] tên đúng là chữ _ (đều âm Vĩ)
5 Tức nội địa Trung Quốc
Trang 28đến quỳ lạy ở sân điện tâu rằng: "Ơn vua ban không đều" Hữu ty hỏi vì cớ gì? Cầm nói: "Nam Việt ở xa không được trời che, đất chở, cho nên mưa ngọt không xuống, gió mát không đến" Lời ý khẩn thiết đau đớn Vua Hán xuống chiếu an ủi, lấy một người mậu tài nước ta làm Huyện lệnh Hạ Dương, một người hiếu liêm làm Huyện lệnh Lục Hợp (Cầm là người Giao Châu) Sau Lý Cầm làm quan đến Tư lệ hiệu úy, Trương Trọng làm Thái thú Kim Thành Như thế nhân tài nước Việt ta được cùng tuyển dụng như người Hán là mở đầu từ
Lý Cầm, Lý Tiến vậy (Trọng người quận Nhật Nam, khi trước đến Lạc Dương, gặp hội lớn tết Nguyên Đán, Tấn Minh Đế1 hỏi: "Ở quận Nhật Nam hướng về phắa b¡c để trông mặt trời phải không?" Trọng đáp rằng:
"Nay trong các quận, có quận gọi là Vân Trung (trong mây), là Kim Thành (thành vàng), không hẳn phải có thật Còn như phong khắ ấm áp, mặt trời đứng bóng trên đầu sinh dân [9b][9b] thì vẫn có thế" Xét: Khoảng niên hiệu Nguyên Gia [424-454] đời Tống Văn Đế, [quân Tống] đi đánh Lâm Ấp ở phương nam, tháng năm, dựng nêu để đo bóng, thấy mặt trời ở về phắa b¡c cây nêu 9 tấc 1 phân2 Giao Châu thì bóng ở về phắa nam cây nêu 3 tấc 3 phân Giao Châu cách Lạc Thủy hơn 6,7 nghìn dặm Chỗ dựng nêu tắnh đường dây thẳng thì nên bớt đi nghìn dặm Năm Khai Nguyên thứ 12 [724] thời Đường, đo ở Giao Châu vào ngày hạ chắ, bóng ở phắa nam cây nêu 3 tấc 3 phân, cũng giống số đo năm Nguyên Gia Sách Luận Hành của Vương Sung nói:
"Quận Nhật Nam ở cách Lạc [Dương] gần vạn dặm về phắa nam mặt trời." Lý Thuyên nói: "Từ phủ An Nam đến Trường An cách 7.250 dặm" Mạnh Quán nói: "Lấy bốn phương mà đo thì An Nam đứng vào đất cuối cùng của Trung Quốc")
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Người quân tử đối với lời nói không thể cho qua được Ngày xưa Tông Miệt3 nếu không có lời nói thì cùng với cỏ cây mục nát mà thôi Lý Cầm không có lời nói thì sao được dùng ở đời, mà người tài giỏi của nước Việt ta, người phương b¡c làm sao biết được? Lời nói không thể cho qua là vì vậy Tuy nhiên, đây chỉ nói riêng về nhân tài thôi, còn như Nhan [Hồi], Mẫn [Tử Khiên] thì không nói thế được
[10a] Đinh Hợi, năm thứ 21 [207], (Hán Kiến An năm thứ 12) Viên Huy nhà Hán gửi thư cho Thượng thư lệnh là Tuân Úc rằng: "Giao Châu Sĩ phủ quân4 đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chắnh trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn 20 năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân5 đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện Phàm những chỗ biên chép không
rõ ràng trong sách Xuân Thu Tả thị truyện, [tôi] đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ Lại như sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những
ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu,
ở lánh ngoài muôn dặm, uy tắn không ai hơn Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi
1 Về việc Trương Trọng giải thắch tên gọi quận Nhật Nam, lời chú thắch của Toàn Thư ở đây ghi là trả lời câu hỏi của Tấn Minh Đế 326) Cương mục căn cứ theo Lĩnh Nam di thư ghi là Trọng trả lời câu hỏi của Hán Minh Đến (58-76) chứ không phải Tấn Minh Đế
(323-Do đó, nếu kể nhân tài nước ta được tuyển dụng như người Hán thì phải kể Trương Trọng là người mở đầu (CMTB2, 27)
2 Nguyên văn trong Toàn thư: "Nhật tại biểu b¡c cửu thốn nhất phân" Câu này vô nghĩa vì mặt trời không thể ở phắa B¡c nêu 9 tấc 1 phân Tân Đường thư, q.31, Thiên văn chỉ chép rõ là: "Mặt trời ở phắa b¡c, bóng ở Giao Châu ở về phắa nam là 3 tấc, ở Lâm Ấp là 9 tấc 1 phân" Như vậy các số đo ở đây là của bóng cây nêu Ở Lâm Ấp cũng như ở Giao Châu, trong tháng năm, mặt trời đều ở phắa b¡c và bóng cây nêu đều đổ về phắa nam Nếu cây nêu dùng để đo cùng một kắch thước thì càng ở xa về phắa nam, như Lâm Ấp, bóng càng dài hơn
3 Tông Miệt: tự Nhiên Minh, người nước Trịnh, thời Xuân Thu, có tiếng là người hiền nhưng tướng mạo xấu xắ Khi Thúc Hướng nước Tấn sang Trịnh, Miệt đứng hầu dưới sân, chỉ nghe một lời bàn việc Thúc Hướng liền biết đó là Tông Miệt, bèn xuống thềm d¡t tay mời lên
4 Phủ quân: tức Thái thú Thời Hán, dinh Thái thú gọi là phủ, do đó gọi Thái thú là phủ quân
5 Nguyên văn: "ky lữ", chỉ người Hán tránh loạn ở Trung Quốc chạy sang nước ta
Trang 29vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ1 đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kắn, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo [10b][10b] hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà cũng không hơn được" (Huy bấy giờ ngụ ở Giao Châu) Sau vua Hán sai Trương Tân làm Thứ sử (Tân nhận chức năm Kiến An thứ 6 [221] thời Hán) Tân thắch việc quỷ thần, thường đội khăn đỏ, gảy đàn, đốt hương, đọc sách Đạo giáo, nói rằng có thể giúp việc giáo hóa, [sau] bị tướng là Khu Cảnh giết, châu mục Kinh Châu là Lưu Biểu sai Huyện lệnh Linh Lăng là Lại Cung thay Tân Vua Hán nghe tin Tân chết, gửi cho vương [Sĩ Nhiếp] bức thư có đóng dấu ấn nói rằng: "Giao Châu ở cõi xa, một dải sông biển ở phắa nam, ơn trên không truyền đến, nghĩa dưới bị nghẽn t¡c, thế mà nghịch tặc Lưu Biểu lại sai Lại Cung dòm ngó đất Nam2, nay cho khanh làm Tuy Nam trung lang tướng trông coi bảy quận, lĩnh Thái thú Giao Châu như cũ" Vương sai thuộc lại là Trương Mân mang đồ cống sang kinh đô nhà Hán Bây giờ thiên hạ loạn lạc, đường sá đứt nghẽn, nhưng vương vẫn không bỏ việc nộp cống Vua Hán lại xuống chiếu cho làm An Vi-n [11a][11a] tướng quân, phong tước Long Độ Đình hầu Sau Thái thú Thương Ngô
là Ngô Cự bất hòa với Cung, đem binh đánh đuổi, Cung chạy về Linh Lăng
Canh Dần,
Canh Dần, năm thứ 24 [210], (Hán Kiến An năm thứ 15) Ngô Vương là Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu Khi Chất đến, vương đem anh em đến vâng theo mệnh lệnh Ngô Vương cho vương làm Tả tướng quân Sau vương sai con là Ngẩm3 làm con tin ở nước Ngô, Ngô Vương cho làm Thái thú Vũ Xương Các con của vương ở Nam đều cho làm Trung lang tướng Vương lại dỗ bảo thổ hào ở Ích Châu là bọn Ung Khải đem dân chúng trong quận phụ thuộc xa với nước Ngô ở miền đông Ngô Vương càng khen, thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu Vương thường sai sứ sang nước Ngô dâng các thứ hương liệu, vải mịn, kể số hàng nghìn Các thứ quý lạ như ngọc trai, ốc lớn, lưu ly, lông trả, đồi mồi, sừng tê, ngà voi [11b] [11b] cùng các thứ quả lạ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không tiến, lại cống ngựa hàng mấy trăm con Ngô Vương viết thư ban cho rất hậu để yên ủi và đáp lại
Lê Văn Hưu nói: Sĩ Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kắnh trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt đến quý thịnh một thời Lại hiểu nghĩa, thức thời, tuy tài và dũng không bằng Triệu Vũ Đế, nhưng chịu nhún mình thờ nước lớn, để giữ vẹn bờ cõi, có thể gọi
là người trắ Tiếc rằng con nối không gánh vác nổi cơ nghiệp của cha, để cho bờ cõi nước Việt đã toàn thịnh mà lại bị chia c¡t, đáng buồn thay !
Bắnh Ngọ,
Bắnh Ngọ, năm thứ 40 [226], (Hán Hậu Chúa Thiện, Kiến Hưng năm thứ 4; Ngô Tôn Quyền, Hoàng
Vũ năm thứ 5) Vương mất Trước vương ốm, đã chết đi 3 ngày, người tiên là Đổng Phụng cho một viên thuốc hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay [12a] [12a] động, mộc chốc lát mở m¡t động tay, s¡c mặt bình phục dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, 4 ngày lại nói được, rồi trở lại bình thường (Phụng tên tự là Xương Dị, người huyện Hầu Quan, sự tắch có chép trong Liệt tiên truyện Hầu Quan là tên huyện, thuộc Phúc Châu)
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nước ta thông thi thư, học l- nhạc, làm một nước văn hiến,
là b¡t đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đ¡p lại, người địa phương cho là thần, làm
1 Hồ nhân: chỉ các nhà sư Ấn Độ, Trung Á đến truyền đạo ở Liên Lâu, trị sở của bộ Giao Chỉ thời bấy giờ
2 Cuối đời Hán Hiến Đế, Lưu Biểu làm Thứ sử Kinh Châu, không thần phục nhà Hán
3 Lời chú của Cương mục nói: Con Sĩ Nhiếp là Hàm, sử cũ (tức Toàn Thư) chép sai là Ngẩm
Trang 30miếu để thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương" Có lẽ là khắ tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy (Đền thờ tại thành cũ Long Biên1)
[12b] Trở lên là [kỷ] Sĩ Vương, từ năm Đinh Mão đến năm Bắnh Ngọ, tất cả 40 năm [187[12b] Trở lên là [kỷ] Sĩ Vương, từ năm Đinh Mão đến năm Bắnh Ngọ, tất cả 40 năm [187 226]
1 Đền Sĩ Nhiếp ở thành Liên Lâu và Tam Á gần đó Toàn thư cho Liên Lâu là Long Biên nên chú như vậy
Trang 31Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Đ ạ i V i ệ t S ử K ý N g o ạ i K ỷ T o à n T h ư
Quyển IV [1a]
[1a]
K ỷ T h u ộ c N g ô , T ấ n , T ố n g , T ề , L ư ơ n g
K ỷ T h u ộ c N g ô , T ấ n , T ố n g , T ề , L ư ơ n g
Đinh Mùi
Đinh Mùi, [227], (Hán Kiến Hưng năm thứ 5; Ngô Hoàng Vũ năm thứ 6), Vua Ngô nghe tin Sĩ Nhiếp mất, thấy Giao Châu ở xa cách, mới chia từ quận Hợp Phố trở về b¡c thuộc vào Quảng Châu, cho Lữ Đại làm Thứ sử; từ quận Hợp Phố trở về nam thuộc vào Giao Châu, cho Đái Lương làm Thứ sử Lại sai Trần Thì làm Thái thú thay Sĩ Nhiếp Đại ở lại Nam Hải Lương và Thì cùng lên đường Đến Hợp Phố nghe tin ở Giao Châu con Sĩ Nhiếp là Huy đã tự làm Thái thú, đem tông binh ra chống cự (Cuối thời nhà Hán, tôn thất nổi loạn, người Nam cũng tụ họp họ hàng làm binh để tự vệ, cho nên gọi là tông binh) Lương ở lại Hợp Phố Thuộc lại của Sĩ Nhiếp là Hoàn Lân cúi đầu can Huy, xin đón Lương, Huy giận đánh chết Lân
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Từ xưa h- giết bề tôi can ngăn thì chưa từng không mất nước Nước Trần giết [1b] [1b] Tiết Dã, nước Tề giết Cô Huyên, việc nước Trần, nước Tề đáng làm gương soi, lấy đó làm răn Thế mà còn có người giết bề tôi căn ngăn như Sĩ Huy, nối nghiệp chưa kịp quay gót mà đã phải chết là đáng l¡m
Anh của Lân là Trị và con là Phát lại họp tông binh đánh Huy Huy đóng cửa thành để giữ Bọn Trị đánh mấy tháng không hạ được thành, bèn giảng hòa và đều bãi binh Kế đó Lữ Đại vâng chiếu nước Ngô đánh Huy, đem quân từ Quảng Châu, ngày đêm đi gấp đến Hợp Phố, cùng với Lương đều tiến, dụ con của Sĩ Nhiếp là Trung Lang Tướng Khuông1 bảo Huy ra chịu tội, tuy mất chức quận thú, nhưng bảo đảm không có
lo ngại gì khác Đại theo Khuông đến sau Anh Huy là Chi, em Huy là bọn Cán, Tụng sáu người cởi trần2đón Đại Đại mặc áo thường3 đi thẳng đến quận trị Sáng hôm sau, Đại bày màn trướng, mời anh em Huy theo thứ tự đi vào Tân khách đầy nhà, Đại đứng dậy cầm phù tiết đọc tờ chiếu kể tội Huy, tả hữu trói quặt [2a]
[2a] [anh em Huy] đưa ra ngoài, đem chém cả, lấy đầu đưa về Vũ Xương
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Sĩ Huy cha mất không xin mệnh mà đã tự lập, lại đem quân chống mệnh, theo nghĩa thì phải đánh Nhưng Lữ Đại đã dụ [Huy] ra hàng mà lại giết
đi là trái lẽ Giữ điều tin là báu của nước Huy đã hàng cứ trói giải về Vũ Xương, khiến cho việc sinh sát được quyết ở trên, mà uy tắn lan xuống kẻ dưới, há chẳng hay hơn ư? Tôn Thịnh nói: "Hòa với người phương xa, được lòng người ở gần, không gì hay hơn chữ Tắn"
Lữ Đại giết kể đầu hàng để cầu công, người quân tử lấy làm chê cười, xem thế mới biết họ
Lữ không được lâu là phải l¡m
1 Cương mục chép Sĩ Khuông là con Sĩ Nhất, tức là cháu chứ không phải con Sĩ Nhiếp (CMTB3,4a)
2 Nguyên văn: "nhục đản" nghĩa là để mình trần không mặc áo, tỏ ý xin chịu tội chết
3 Nguyên văn: "Đại vi phục " Theo Tam Quốc Chắ, q.5 "Đại từ chối, bảo mặc áo lại" (Ngô thư, Sĩ nhiếp truyện), ý nghĩa rõ ràng hơn:
Lữ Đại vờ tỏ cho anh em Sĩ Huy hiểu ý không bị tội nặng Cương mục (TB3, 4a) ngờ câu văn của Toàn Thư chép sai, đã sửa lại theo tài liệu đã dẫn
Trang 32Nhất, Vĩ và Khuông sau mới ra hàng, được Ngô Vương tha tội, cùng với con tin của Sĩ Nhiếp là Ngẩm, đều giáng làm thứ nhân Được vài năm, Nhất và Vĩ có tội bị giết, duy có Khuông ốm chết trước Đến khi Ngẩm chết, đại [2b] [2b] tướng của Huy là Cam L- và Hoàn Trị đem lại dân đánh Đại, Đại đánh tan được Bấy giờ mới bỏ Quảng Châu, đặt lại Giao Châu như cũ Đại tiến đánh quận Cửu Chân, chém và b¡t được kể hàng vạn người
Tân Hợi,
Tân Hợi, [231], (Hán Kiến Hưng năm thứ 9; Ngô Hoàng Vũ năm thứ 3) Người man Ngũ Khê ở Vũ Lăng nước Ngô làm phản Ngô Vương cho là đất miền Nam đã dẹp yên, gọi Thứ sử Lữ Đại về Thái thú Hợp Phố là Tiết Tống1 dâng sớ nói: "Ngày xưa vua Thuấn đi tuần phương nam, mất ở Thương Ngô, nhà Tần đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, thế thì bốn quận2 ấy nội thuộc đã lâu rồi Triệu Đà nổi dậy ở Phiên Ngung, vỗ về thần phục được vua Bách Việt, đó là miền đất về phắa nam quận Châu Nhai, Hiếu Vũ (nhà Hán) giết Lữ Gia, mở 9 quận, đặt chức Thứ sử ở Giao Chỉ, dời những người phạm tội ở Trung Quốc sang ở lẫn vào các nơi ấy, cho học sách ắt nhiều, hơi thông hiểu l- hóa Đến khi Tắch Quang làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân, dựng nhà học, dẫn d¡t bằng l- nghĩa Từ đấy trở đi, hơn 400 [3a]
[3a] năm, dân tựa hồ đã có quy củ Nhưng đất rộng người đông, núi rừng hiểm trở, d- làm loạn Thần từng thấy Hoàng Cái ở Nam Hải làm Thái thú Nhật Nam, khi đến nơi thấy đồ cung đốn, trần thiết không đủ, đánh chết người chủ bạ, nhưng rồi cũng bị đánh đuổi Thái thú Cửu Chân là Đam Manh vì bố vợ là Chu Kinh mà bày tiệc mời các quan to Khi rượu say cho cử nhạc, công tào Phan Hâm đứng dậy múa, rồi mời Kinh Kinh không chịu đứng lên, Hâm cứ thúc ép mãi Manh nổi giận giết Hâm Em của Hâm đem quân đến đánh Manh Thái thú Giao Chỉ trước là Sĩ Nhiếp sai quân đến đánh dẹp không được Bấy giờ Thứ sử Chu Phù phần nhiều cho người làng như bọn Ngu Bao, Lưu Ngạn chia nhau làm trưởng lại, vơ vét của dân, một con
cá vàng thu thóc mộc hộc Trăm họ oán ghét làm phản, kéo đi đánh phá châu quận, Phù phải chạy ra biển
Bộ Chất đã lần lượt làm cỏ, kỷ cương mới được chấn chỉnh lại Sau Lữ Đại bình được loạn Sĩ Huy, đổi đặt các trưởng lại, làm sáng tỏ kỷ cương của nhà vua, uy [3b] [3b] danh kh¡p muôn dặm, lớn nhỏ đều theo Do đó
mà xem thì giữ yên biên giới, vỗ về dân xa quả thật là ở tại người Bổ nhiệm các chức bá mục nên chọn người thanh liêm Ngoài cõi hoang phục thì họa phúc lại càng hệ trọng l¡m Nay Giao Châu tuy rằng tạm yên, nhưng còn bọn giặc lâu nay ở Cao Lương3 bốn quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Châu Nhai cũng chưa yên, trộm cướp thường tụ họp Nếu Đại không trở lại phương Nam nữa thì Thứ sử mới nên chọn người nào cẩn thận chu đáo, có phương lược mưu kế để vỗ về, mới có thể trị yên được Còn như hạng người thường, chỉ biết giữ phép thường, không có mưu kỳ chước lạ thì lũ ác nghịch4 ngày thêm nảy nở5" Ngô Vương lại cho Đại làm Trấn Nam tướng quân, phong tước Phiên Ngung hầu (có sách chép là phong Ngụy quận Lăng Lệ Công)
Mậu Thìn,
Mậu Thìn, [284], (Hán Diên Hy năm thứ 11; Ngô Vĩnh An năm thứ 1)6 Người Cửu Chân lại đánh hãm thành ấp, châu quận rối động Ngô Vương cho Hành Dương đốc quân đô úy Lục Dận (có sách chép là Lục Thương) làm Thứ sử kiêm hiệu úy [4a] [4a] Dận đến nơi, lấy ân đức tắn nghĩa hiểu dụ, dân ra hàng phục đến hơn 3 vạn nhà, trong châu lại yên Sau, người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩu tập họp dân chúng
1 Tức là Tiết Kắnh Văn, như đã chép trong Cương Mục (TB3, 5b)
2 Nguyên văn chép là "tứ quốc", hiểu là bốn quận (quận quốc)
3 Cao Lương: tên huyện, thuộc quận Hợp Phố
4 "Quần ác nhật tư" nguyên bản in nhầm chữ quần thành chữ _ quận
5 Lời sớ của Tiết Tổng chép trong Toàn Thư có khác một số chỗ với văn bản trong Tam Quốc Chắ, Ngô Thư q.8 Tiết Tống Truyện
6 Năm Mậu Thìn (248) đúng là niên hiệu Diên Hy thứ 11 đời Hán Hậu Thư chúa Lưu Thiện, nhưng các văn bản Toàn Thư đều in chữ Hy (trong tên niên hiệu) là _ đúng ra là chữ Lại về niên hiệu tương ứng của nhà Ngô, các bản đều ghi nhầm là Vĩnh An năm thứ 1, đúng ra là niên hiệu XÍch Ô năm thứ 11 đời Ngô Tôn Quyền
Trang 33đánh chiếm các quận huyện (Ẩu vú dài 3 thước, v¡t ra sau lưng, thường ngồi trên đầu voi đánh nhau với giặc) Dận dẹp yên được (Sách Giao Chỉ chắ chép: Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu,
vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ng¡n màu vàng, chân
đi giày mũi cong1, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần)2
Quý Mùi, [263], (Hán Viêm Hưng năm thứ 1, Ngô Vĩnh An năm thứ 16)3 Mùa xuân, tháng 3, lúc trước nhà Ngô lấy Tôn Tư làm Thái thú Giao Châu, Tư là người tham bạo, làm hại dân chúng Đến đây vua Ngô sai Đặng Tuân đến quận Tuân lại tự tiện b¡t dân nộp 30 con công đưa về Kiến Nghiệp Dân sợ phải đi phục dịch đường xa, mới mưu làm loạn Mùa hạ, tháng 4, quận lại là Lữ Hưng giết Tư và Tuân, xin nhà Tấn đặt Thái thú và cho binh (Xét sách Cương mục chép là xin nhà Ngụy đặt quan, nhưng đến năm sau Ngụy nhường ngôi cho Tấn, thì Ngụy cũng tức là Tấn) Các quận Cửu Chân, Nhật Nam đều hưởng ứng Năm ấy [4b]
[4b] nhà Hán mất
Giáp Thân, [264], (Ngụy Tào Hoán Hàm Hy năm thứ 1, Ngô Tôn Hạo Nguyên Hưng năm thứ 1) Mùa thu, tháng 7, nhà Ngô tách Giao Châu, đặt Quảng Châu Bấy giờ Ngô đã phụ vào Tấn Nhà Tấn cho
Lữ Hưng làm An Nam tướng quân đô đốc Giao Châu chư quân sự, cho Nam Trung giáp quân là Ho¡c Dặc
xa lĩnh4 Thứ sử Giao Châu, cho được tùy nghi tuyển dụng trưởng lại Dặc dâng biểu tiến cử Thoán Cốc (có sách chép là Phần Cốc) làm Thái thú, đem thuộc lại là bọn Đổng Nguyên, Vương Tố đem quân sang giúp Hưng, nhưng chưa đến nơi thì Hưng đã bị công tào là Lý Thống giết Cốc cũng chết (có sách chép Cốc ốm chết)
Ất Dậu, [265], (Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, Thái Thủy năm thứ 1, Ngô Cam Lộ năm thứ 1), Vua Tấn sai
Mã Dung người Ba Tây thay Hưng Dung ốm chết Dặc lại sai Dương T¡c người Kiện Vi thay Dung làm Thái thú
[5a] Mậu Tý,
[5a] Mậu Tý, [268], (Tấn Thái Thủy năm thứ 4, Ngô Bảo Đỉnh năm thứ 3) Nhà Ngô lấy Lưu Tuấn làm Thứ sử Tuấn cùng với Đại đô đốc Tu T¡c5 và Tướng quân Cố Dung trước sau 3 lần đánh Giao Châu [Dương] T¡c đều chống cự và đánh tan được cả Các quận Uất Lâm, Cửu Chân đều theo về T¡c T¡c sai tướng quân là Mao Linh6 và Đổng Nguyên đánh quận Hợp Phố, giao chiến ở Cổ Thành (tức là thành quận Hợp Phố), đánh tan quân Ngô, giết Lưu Tuấn và Tu T¡c, dư binh tan chạy về Hợp Phố, Dương T¡c nhân đó dâng biểu cử Mao Linh làm thái thú Uất Lâm, Đổng Nguyên làm Thái thú Cửu Chân
Kỷ Sửu,
Kỷ Sửu, [269], (Tấn Thái Thủy năm thứ 5, Ngô Kiến Hành năm thứ 1) Mùa đông, tháng 10, nhà Ngô sai Giám quân Nhu Phiếm, Uy Nam tướng quân Tiết Hủ và Thái thú quận Thương Ngô người Đan Dương là Đào Hoàng theo đường Kinh Châu sang; Giám quân Lý Đỉnh, Đốc quân Từ Tồn theo đường biển Kiến An sang, đều hội ở Hợp Phố để đánh [Dương] T¡c (Lý Đỉnh có sách chép là Lý Húc)
1 Nguyên văn chữ Hán: "xỉ lý"
2 Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử (thời Tống) cũng có chép sự tắch bà Triệu Ẩu với nội dung tương tự
3 Năm Quý Mùi (263), là niên hiệu Vĩnh An năm thứ 6 đời Ngô Tôn Hưu (Cảnh Đế), chứ không phải Vĩnh An năm thứ 16 như nguyên bản đã lầm
4 Nguyên văn: "Dao lĩnh", nghĩa là lĩnh chức cai trị ở một nơi xa mà không cần phải đắch thân đến đóng trị sở nơi ấy
5 Nguyên bản in là Thái đô đốc, nên sửa là Đại đô đốc, theo Thông giám và Tấn thư, Đào Hoàng truyện, CMTB3, 11b chép chức quan của Tu T¡c là Bộ đốc
6 Mao Linh: các tài liệu của Trung Quốc như Thông Giám cương mục, Tam quốc chắ - Tôn Hạo truyện, Tấn Thư - Đào Hoàng truyện đều chép là Mao Cảnh ; CMTB3, 11b cũng sửa là Mao Cảnh
Trang 34Tân Mão,
Tân Mão, [271], (Tấn Thái Thủy năm thứ 7, Ngô Kiến Hành năm thứ 3) Mùa hạ, tháng 4, Ngu Phiếm, Tiết Hủ, Đào Hoàng chống nhau với T¡c, đánh nhau [5b][5b] ở sông Phần1 Đào Hoàng thua, lui về giữ Hợp Phố, chết hai tướng Hủ giận bảo Hoàng: "Ngươi tự dâng biểu xin đi đánh giặc mà để chết mất hai tướng thì trách nhiệm ở đâu?" Hoàng nói: "Hạ quan không được làm theo ý mình, quân sĩ không hòa thuận, cho nên đến nỗi thua như thế" Hũ chưa nguôi giận, muốn đem quân trở về Đêm ấy, Hoàng đem mấy trăm quân đánh úp Đổng Nguyên, lấy được của báu, chở thuyền đem về Hủ bèn tạ lỗi, cho Hoàng lĩnh chức Tiền bộ đô đốc Giao Châu Hoàng lại theo đường biển, nhân khi bất ngờ, tiến thẳng đến châu Nguyên chống cự Các tướng muốn đánh, Hoàng ngờ bên trong chỗ cầu gãy có phục binh, bèn dàn riêng một đội quân giáo dài ở đằng sau Quân hai bên vừa mới giao chiến, Nguyên giả cách lui, Hoàng đuổi theo, phục binh quả nhiên kéo ra Quân giáo dài quay lại đánh, phá tan bọn Nguyên, giết Nguyên [tại trận], lấy những thuyền chở hàng hóa báu vật và mấy nghìn tấm thổ cẩm cướp được trước đây đem cho tướng giặc Phù Nghiêm là Lương Tề2 Tề đem [6a][6a] hơn vạn người đến giúp Hoàng Bấy giờ Dương T¡c lấy tướng của mình
là Vương Tố thay Nguyên Dũng tướng của Nguyên là Giải Hệ cùng ở trong thành Hoàng sai em [của Hệ]
là Tượng viết thư gửi cho Hệ, lại sai Tượng ngồi xe ngựa, đánh trống thổi sáp, dẫn đường cho mình đi theo Bọn Tố bảo nhau rằng: "Tượng như thế, Hệ tất có ý bỏ bọn ta để đi theo" Bèn giết Hệ Bọn Hủ và Hoàng bèn đánh lấy châu Nhà Ngô nhân đó dùng Đào Hoàng làm Thứ sử Hoàng là người có mưu lược, chu cấp
kẻ nghèo khốn, ưa bố thắ, được lòng người, ai ai cũng vui lòng giúp việc, đến đâu cũng có công trạng Trước đây vua Tấn cho Dương T¡c làm Thứ sử Giao Châu, Mao Miện3 làm Thái thú, ấn thao chưa gửi đến mà T¡c
và Miện đã thua chết rồi Nhân đó vua Tấn truy tặng T¡c, Miện, Tùng, Năng (Tùng, Năng không kê cứu được4) tước Quan nội hầu Công tào quận Cửu Chân là Lý Tộ giữ quận mà phụ theo nhà Tấn, Hoàng sai tướng đi đánh, không được Cậu của Tộ là Lê Hoàn (có sách chép là Lê Minh) theo quân [của Hoàng], khuyên Tộ hàng, Tộ gay g¡t trả lời: "Cậu [6b][6b] là tướng nước Ngô, Tộ là bề tôi nước Tấn, chỉ có thể dùng sức
mà đối xử với nhau thôi" Quân của Hoàng phải đánh, giờ lâu mới hạ được thành
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Bề tôi giữ đất, nếu ai cũng có lòng như lòng Lý Tộ thì có thể gọi là trung với chúa mình thờ
Vua Ngô cho Đào Hoàng làm Thứ sử trì tiết đô đốc Giao Châu chư quân sự Dưới thời các tướng quân châu mục trước kia, các quận Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương, địa thế hiểm trở, người Di Lão hung tợn,
đã mấy đời không chịu thần phục, Hoàng đi đánh, dẹp yên được, mở thêm đất, đặt 3 quận, và hơn 30 huyện
ở các nước phụ thuộc với quận Cửu Chân5 Sau vua Ngô lấy Hoàng làm Đô đốc Vũ Xương, cho Thái thú Hợp Phố là Tu Nguyên6 thay Dân địa phương đến hàng nghìn người xin lưu Hoàng lại, bởi thế cho Hoàng trở về nhiệm sở cũ Sau vua Ngô hàng nhà Tấn, tự tay viết thư sai Mã Tức Dung7 khuyên Hoàng quy thuận [nhà Tấn] Hoàng khóc mấy ngày, rồi sai sứ mang ấn [7a][7a] thao về Lạc Dương Vua Tấn xuống chiếu cho phục chức, phong cho Hoàng tước Uyển Lăng hầu, lại đổi làm Quán quân tướng quân Hoàng ở châu 30
1 Sông Phần: ở huyện Tân Hội, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc
2 CMTB3, 13a chép là Lương Kỳ
3 Mao Miện nói ở đây (và ở 2 dòng tiếp theo) đúng ra vẫn là Mao Cảnh mà ở tờ 5a Toàn thư đã chép nhầm là Mao Linh
4 CMTB3, 13b theo Tấn Thư q.57 chép đủ họ tên là Lý Tùng và Thoán Năng
5 Nguyên văn: " cập cửu quân thuộc quốc tam thập dư huyện" (và 30 huyện ở các nước phụ thuộc với 9 quận) CMTB3, 14b đã sửa lại cho đúng là "Cửu Chân thuộc quốc "
6 CMTB3, 14b Tấn Thư (Đào Hoàng truyện) đều chép là Tu Doãn (hai chữ: Doãn và Nguyên d- nhầm với nhau)
7 Mã Tức Dung: đoạn này Toàn Thư dùng sử liệu của Tấn thư, Đào Hoàng truyện, mà ở truyện ấy chép là: "khiển Hoàng Tức Dung "; Thông giám q.81 đã sửa lại là; "khiển Đào Hoàng chi tử Dung" (sai con của Đào Hoàng là Dung) Như vậy Mã Tức Dung nói đây đúng ra là Đào Dung, con của Đào Hoàng)
Trang 35năm, tỏ ra người có ân có uy, được người địa phương yêu mến Đến khi chết, cả châu khóc thương như mất cha mẹ hiền Vua Tấn lấy Viên ngoại lang tán kỵ thường thị là Ngô Ngạn làm Đô đốc thứ sử Khi Hoàng mới mất, các thú binh ở Cửu Chân làm loạn, đuổi Thái thú, người cầm đầu là Triệu Chỉ vây quận trị, Ngạn dẹp yên cả Ngạn giữ chức 25 năm, ân uy rõ rệt, dân trong châu yên ổn, sau dâng biểu xin cho người thay Vua Tấn cho Viên ngoại lang tán kỵ thường thị là Cố Bắ thay Bắ là người ôn hòa, nhã nhặn, cả châu yêu mến, không được bao lâu thì mất Người trong châu cố ép con của Bắ là Tham trông coi việc châu Sau Tham chết, em là Thọ trông coi việc châu, người châu không nghe Thọ cố nài, bèn được coi việc châu Rồi giết trưởng lại là bọn Hồ Triệu, lại toan giết đốc quân dưới trướng [7b][7b] là Lương Thạc Thạc chạy thoát được, dấy binh đánh, b¡t được Thọ Mẹ Thọ sai lấy thuốc độc giết chết Thạc bèn chuyên quyền (có sách chép là cả mẹ của Thọ cũng bị giết bằng thuốc độc), nhưng sợ dân tình không theo, bèn cho con trai của Hoàng là Uy [đang làm] Thái thú Thương Ngô về lĩnh chức Thứ sử [Giao Châu] Uy ở chức rất được lòng dân, được 30 năm1 thì chết Em trai Uy là Thục, con trai [của Uy] là Tuy2 nối nhau làm thứ sử Từ Cơ đến Tuy bốn đời đều làm Thứ sử Cơ là ông nội của Hoàng3
Mậu Dần, [318], (Đông Tấn Nguyên Đế Tư Mã Duệ, Đại Hưng4 năm thứ 1) Mùa đông, tháng 10, vua Tấn xuống chiếu cho Thứ sử Quảng Châu là Đào Khản làm Đô đốc Giao Châu chư quân sự
Nhâm Ngọ,
Nhâm Ngọ, [322], (Tấn Vĩnh Xương năm thứ 1) Vương Đôn nhà Tấn lấy Vương Lượng làm Thứ sử, sai đánh Lương Thạc Thạc đem quân vây Lượng ở Long Biên
[8a] Quý Mùi,
[8a] Quý Mùi, [323], (Tấn Minh Đế Thiệu, Thái Ninh năm thứ 1) Mùa xuân, tháng 2, Đào Khản sai quân đi cứu Vương Lượng, chưa đến nơi thì Lương Thạc đã lấy được Long Biên rồi Thạc đoạt lấy cờ tiết của Lượng, Lượng không cho, Thạc bèn chặt tay trái của Lượng, Lượng nói: "Chết còn không tránh, chặt cánh tay thì làm gì?" Được hơn 10 ngày thì Lượng chết Thạc chiếm châu, hung bạo mất lòng dân Đào Khản sai tham quân là Cao Bảo sang đánh, chém chết Thạc Vua Tấn cho Khản lĩnh chức Thứ sử Giao Châu, thăng hiệu là Chinh Nam đại tướng quân, được mở phủ riêng nghi thức như tam ti Không bao lâu, Thị lang Lại bộ
là Nguy-n Phóng xin làm Thứ sử, vua Tấn bằng lòng Phóng đến Ninh Phố gặp Cao Bảo, mời Bảo đến dự cơm, đặt phục binh muốn giết Bảo Bảo biết chuyện, liền đem quân đánh Phóng (Phong là cháu họ của Hàm) Phóng chạy thoát, đến châu được chốc lát thì khát nước quá mà chết
Quý Sửu,
Quý Sửu, [353], (Tấn Mục Đế San, Vĩnh Hòa năm thứ 9) Mùa xuân, tháng 3, Nguy-n Phu nhà Tấn làm Thứ sử Giao Châu Phu đánh [8b][8b] nước Lâm Ấp5, phá được hơn 50 lũy (Trước đây nhà Tấn khi đã bình được nhà Ngô, trưng binh ở Giao Châu6, Thứ sử Giao Châu là Đào Hoàng dâng thư nói: "Giao Châu ngoài cách Lâm Ấp chỉ vài nghìn dặm7 Tướng Di [Lâm Ấp] là Phạm Hùng đời đời trốn tránh làm giặc, tự xưng vương, nhiều lần đánh phá trăm họ Vả lại [nước ấy] liền với nước Phù Nam, rất nhiều chủng người,
bè đảng dựa nhau, cậy thế đất hiểm không chịu thần phục Khi trước còn thuộc nước Ngô thì nhiều lần
1 Tấn thư, Đào Hoàng truyện chỉ ghi "tam niên" (?)
2 Việt sử lược, q.1, 6a lại chép Tuy là con Thục
3 Tấn thư, Đào Hoàng truyện chép Cơ là cha của Hoàng
4 Đại Hưng: đúng tên niên hiệu này là Thái Hưng (318-321)
5 Tên nước Lâm Ấp được nh¡c đến từ thời Hậu Hán (Tấn thư, Lâm Ấp truyện) ở phần đất mà thời Hán gọi là huyện Tượng Lâm, phắa nam quận Nhật Nam Khoảng thời Đường, nước này được thư tịch Trung Quốc nh¡c đến với cái tên Hoàn Vương, sau đó là Chiêm Thành
6 Nguyên văn: "Sơ, Tấn bình Ngô, trưng Giao Châu binh" Theo Tấn Thư, Đào Hoàng truyện thì năm này vì đã bình được nhà Ngô, cho nên nhà Tấn giảm bớt số quân ở Giao Châu (giản Giao Châu binh), chứ không phải trưng binh ở Giao Châu Đào Hoàng vì muốn xin xét lại việc giảm quân đó, cho nên mới viết thư này
7 CMTB3, 16a theo Tấn Thư, Đào Hoàng truyện sửa là "chỉ bảy trăm dặm", hợp lý hơn
Trang 36cướp bóc dân lành, phá quận huyện, giết hại trưởng lại Thần trước kia được nước cũ [Ngô] dùng, cho đóng giữ phương Nam hơn 10 năm, tuy đã trừ được những tên đầu sỏ, nhưng ở chốn núi sâu hang cùng vẫn còn
có kẻ trốn tránh Lúc đầu số quân của thần trông coi là 8 nghìn Vì đất Nam ẩm thấp, có nhiều khắ độc, liền năm đánh dẹp, ốm chết hao hụt, hiện nay chỉ còn 2.400 người Nay bốn biển thống nhất, không còn lo kẻ nào không thần phục, đáng lẽ nên cuốn giáp hủy gươm [ ]1 Phàm việc phong trần, biến đổi thường xảy ra thình lình Thần là người sót thừa của nước đã mất, lời bàn không có gì khả thủ" Tấn Vũ Đế nghe theo, đến nay còn thấy hiệu nghiệm)
Canh Thìn, [380], (Tấn Vũ Đế2, Xương Minh, Thái Nguyên năm thứ 5) Mùa đông, tháng 10, Thái thú Cửu Chân là Lý Tốn chiếm châu làm phản
Tân Tỵ, [381], (Tấn Thái Nguyên năm thứ 6) Thái thú Giao Châu là Đỗ Viện chém được Lý Tốn, trong cõi lại được yên, thăng cho Viện làm thứ sử Giao Châu3 (Viện người Chu Diên nước ta Sách Giao Chỉ chắ chép vào mục nhân vật nước ta, xếp sau Sĩ Nhiếp)
[9a] Kỷ Hợi,
[9a] Kỷ Hợi, [399], (Tấn An Đế Đức Tông, Long An năm thứ 3) Mùa xuân, tháng 3, vua nước Lâm
Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân, rồi vào cướp Giao Châu Đỗ Viện đánh tan được
Tân Hợi,
Tân Hợi, [411], (Tấn Nghĩa Hy năm thứ 7) Mùa hạ, tháng 4, Thái thú quận Vĩnh Gia là Lư Tuần chạy sang [Giao Châu] Trước đó, khi Thứ sử Đỗ Viện chết (có sách nói Viện vốn người Kinh Triệu, ông là Nguyên, làm Thái thú Hợp Phố, nhân đó Viện mới đến ở Giao Chỉ), vua Tấn cho con là Tuệ Độ thay làm Thứ
sử Chiếu thư chưa đến nơi, Tuần đã đánh phá Hợp Phố, tiến thẳng đến Giao Châu Tuệ Độ đem các quan văn võ ở châu phủ chống nhau với Tuần ở Thạch Kỳ4, đánh tan được Quân của Tuần sống sót khoảng 2 nghìn người Dư đảng của Lý Tốn là bọn Lý Thoát kết tụ với dân Lý, Lạo hơn 5 nghìn người để ứng theo Lư Tuần, ngày Canh Tý kéo đến bờ nam Long Biên Tuệ Độ bỏ hết gia tài để thưởng quân sĩ, cùng Tuần giao chiến, ném đuốc đuôi trĩ đốt thuyền bè của Tuần, cho bộ binh áp bờ sông b¡n xuống Thuyền của Tuần cháy hết, [9b][9b] bèn tan vỡ Tuần biết thế nào cũng chết, bỏ thuốc độc cho vợ con chết trước rồi gọi các nàng hầu con hát hỏi rằng: "Ai có thể theo ta?" Phần nhiều đều trả lời: "Con sẻ, con chuột còn tham sống, chết theo thì khó l¡m" Cũng có người nói: "Quan còn phải chết, chúng tôi há lại muốn sống" Tuần bèn giết hết những kẻ không chịu chết theo, rồi gieo mình xuống sông mà chết Tuệ Độ sai nhặt xác đem chém đầu, cùng với vợ con của Tuần và bọn Thoát, đều lấy đầu đóng hòm đưa về Kiến Khang5
2 Sử đúng là Tấn Hiếu Vũ Đế
3 CMTB3, 22b dẫn Tống Thư và Lương Thư xác định Đỗ Viện làm Thứ sử Giao Châu năm Long An thứ 3 (399) và năm đó cũng có việc quân Lâm Ấp đánh phá Giao Châu Toàn Thư ở đây chép vào năm Tân Tỵ (381), sát liền trên mục năm Kỷ Hợi (399), có thể do sao chép văn bản sai vị trắ
4 Thạch Kỳ: tên trấn, ở phắa Nam phủ trị Giao Châu (CMTB3, 24a)
5 Kiến Khang: kinh đô nhà Đông Tấn, vốn là Kiến Nghiệp, vì kiêng húy Tấn Mẫn Đế, đổi thành Kiên Khang, tức Nam Kinh, Trung Quốc ngày nay
Trang 37Ất Mão, [415], (Tấn Nghĩa Hy năm thứ 11) Mùa đông, tháng 12, quân Lâm Ấp cướp Giao Châu Tướng châu đánh bại được
Canh Thân, [420], (Tấn Cung Đế Đức Văn, Nguyên Hy năm thứ 2; Tống Vũ Đế Lưu Dụ, Vĩnh Sơ năm thứ 1) Mùa thu, tháng 7, Tuệ Độ đánh Lâm Ấp, phá được, chém giết đến quá nửa Lâm Ấp xin hàng, Tuệ Độ cho Những người trước sau bị [Lâm Ấp] cướp b¡t [10a] [10a] đều được trả về cả Tuệ Độ ở Giao Châu, mặc áo vải, ăn cơm rau, cấm thờ nhảm, sửa nhà học, năm đói kém thì lấy lộc riêng để chẩn cấp, làm việc cẩn thận chu đáo cũng như việc nhà, lại dân sợ mà yêu Cửa thành đêm vẫn mở, ngoài đường không ai nhặt của rơi Khi Tuệ Độ chết, tặng chức Tả tướng quân, cho con là Hoằng Văn làm Thứ sử Năm ấy nhà Tấn mất
Đinh Mão, [427], (Tống Văn Đế Nghĩa Long, Nguyên Gia năm thứ 4) Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Tuất, vua Tống gọi Hoằng Văn về làm Đình Úy, cho Vương Huy Chi làm Thứ sử Bấy giờ Hoằng Văn đang
ốm, cố ngồi xe lên đường, có người khuyên chờ khỏi ốm hãy đi Hoằng Văn nói: "Nhà ta ba đời cầm phù tiết, thường muốn đem mình sang chầu sân vua, huống chi nay lại được gọi về" Bèn cứ đi, chết ở Quảng Châu
Lê Văn Hưu nói: [Dù khỏe như] Bôn và Dục1 mà lúc còn thơ ấu cũng không thể chống nổi người què, người thọt đã tráng niên Nước Lâm Ấp thừa lúc nước Việt ta không
có vua, đến cướp Nhật Nam và Cửu Chân rồi xin quản lĩnh cả [Giao Châu], có phải bấy giờ nước Việt ta không thể chống nổi nước Lâm Ấp ấy đâu! Chỉ vì không có người thống suất
mà thôi ! Thời không bĩ mãi, tất có lúc thái Thế không khuất mãi, tất có lúc duỗi Lý Thái Tông chém đầu vua nước ấy là Sạ Đẩu, Lý Thánh Tông b¡t vua nước ấy là Chế Củ, b¡t làm
tù dân nước ấy 5 vạn người, đến nay vẫn còn phải chịu làm tôi tớ, cũng đủ để rửa được mối hận thù hổ thẹn của mấy năm ô nhục này
[11a] Bắnh Tý,
[11a] Bắnh Tý, [436], (Tống Nguyên Gia thứ 13)2 Mùa xuân, tháng 2, vua Tống sai Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp Trước kia, vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại tuy sai sứ sang cống, nhưng vẫn không thôi việc cướp bóc, cho nên vua Tống sai Hòa Chi đi đánh Bấy giờ người quận Nam Dương là Tông Xác, nếp nhà đời đời Nho học, riêng Xác thắch việc võ, thường nói: "Muốn cưỡi gió lớn mà phá sóng muôn dặm" Đến khi Hòa Chi đi đánh Lâm Ấp, Xác hăng hái xin đi theo quân Vua Tống cho Xác làm Chấn
vũ tướng quân Hòa Chi sai Xác làm tiên phong Dương Mại nghe tin quân Tống sang, sai sứ dâng biểu xin trả lại những người dân Nhật Nam bị b¡t và nộp một vạn cân vàng, mười vạn cân bạc Vua Tống xuống chiếu bảo Hòa Chi: "Nếu Dương Mại thực có lòng thành, cũng cho quy thuận" Hòa Chi đến đóng ở đồn Chu Ngô (huyện Chu Ngô từ thời Hán đến giờ thuộc quận Nhật Nam, bấy giờ đặt đồn thú ở đấy), sai Hộ tào tham quân của phủ là bọn Khương Trọng Cơ (phủ là phủ thứ sử Giao Châu) đi trước [11b] [11b] đến gặp Dương
1 Theo truyền thuyết Trung Quốc, Mạnh Bôn là dũng sĩ thời Chiến Quốc, có thể nhổ được sừng bò; Hạ Dục, người nước Vệ thời Xuân Thu, có thể nhổ được đuôi bò
2 CMTB3, 27a sửa là năm Bắnh Tuất, niên hiệu Nguyên Gia thứ 23 (Theo Tống thư q.5 Đế kỷ, q.97 Nam Di Truyện) Nam Tề thư Lâm
Ấp truyện, chép việc này vào năm Nguyên Gia thứ 22 (445)
Trang 38Mại, bị Dương Mại b¡t giữ Hòa Chi giận, tiến vây tướng của Lâm Ấp là Phạm Phù Long ở thành Khu Túc1 Dương Mại sai tướng là Phạm Côn Sa Đạt đến cứu Xác lén đem quân đón đánh [Phạm] Con Sa Đạt, phá tan được Tháng 5, bọn Hòa Chi hạ thành Khu Túc, chém Phù Long, thừa th¡ng tiến vào Tượng Phố2 Dương Mại dốc sức cả nước ra đánh, lấy các vật che bọc mình voi, trước sau không hở Xác nói: "Ta nghe nước ngoài có giống sư tử, oai phục được trăm loài thú" Bèn làm hình sư tử để chống lại voi, voi quả nhiên sợ chạy Quân Lâm Ấp thua to Hòa Chi th¡ng được Lâm Ấp, Dương Mại cùng với con đều chỉ chạy thoát thân, thu được đồ châu báu lạ không biết bao nhiêu mà kể Riêng Tông Xác không lấy một thứ gì, ngày về nhà cũng chỉ có khăn áo xác xơ
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Có tài hữu dụng thì không thể không đem ra thi thố, há câu nệ vì thói đời [12a][12a]3 hay sao? Người ta lập chắ mỗi người một khác Người có chắ về đạo đức thì công danh không thể động được lòng, người có chắ về công danh thì phú quý không thể động được lòng Chắ của Tông Xác có lẽ ở công danh chăng ? Ngày trở về nhà, tài vật không lấy một thứ gì, đó thực sự là phú quý không thể động được lòng So với người có chắ về đạo đức, cố nhiên không thể kịp, nhưng so với người có chắ về phú quý thì hạng ấy còn kém xa
Đinh Sửu,
Đinh Sửu, [437], (Tống Nguyên Gia năm thứ 14) Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Ngọ, Đàn Hòa Chi bỏ quan về
Mậu Thân,
Mậu Thân, [468], (Tống Minh Đế Úc4, Thái Thủy năm thứ 4) Mùa xuân, tháng 3, Thứ sử Lưu Mục
ốm chết Người châu là Lý Trường Nhân giết những bộ thuộc của châu mục đem từ Trung Quốc sang rồi chiếm giữ châu làm phản, tự xưng là Thứ sử
Mùa thu, tháng 8, vua Tống lấy Nam Khang tướng là Lưu Bột làm Thứ sử Giao Châu Bột đến, bị Trường Nhân [12b][12b] chống cự, không bao lâu thì chết Tháng 11, Lý Trường Nhân sai sứ xin hàng và tự hạ xuống chức Hành Châu sự5 Vua Tống y cho
1 CMTB3, 26 chép tên thành là Khu Lật và dẫn Thủy kinh chú để chú thắch về thành này Vị trắ thành Khu Túc trước nay có nhiều ý kiến khác nhau Đào Duy Anh xác định đó là thành Lồi ở làng Cao Lao Hạ trên hữu ngạn sông Gianh (Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Khoa học xã hội, 1964, tr.54)
2 Tượng Phố: CMTB3, 28b chua là tên huyện, Đào Duy Anh (Bdc) đoán dịch là Cửa Đại, là cửa sông để vào kinh đô Lâm Ấp thời bấy giờ, ở khoảng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay
3 Nguyên bản thiếu tờ 12 a-b, chúng tôi dịch theo bản in Quốc tử giám tàng bản
4 Tống Minh Đế: tức là Lưu Úc, nguyên bản in sót nét, thành chữ Hoặc
5 Hành Châu sự: người chấp hành công việc của châu Thực tế Lý Trường Nhân được chuẩn cho đứng đầu cai quản Giao Châu, tương đương như Thứ sử, nhưng Nhân xin tự hạ chức danh chỉ gọi là "Hành châu sự"
6 Vũ Bình, Tân Xương: tên quận đặt từ thời Ngô: "Nhà Ngô c¡t đất huyện Mê Linh [thời Hán] mà đặt quận Tân Hưng, nhà Tấn đổi thành Tân Xương; c¡t đất các huyện Phong Khê và Chu Diên mà đặt quận Vũ Bình (theo Đặng Xuân Bảng, Sử học bị khảo)
Trang 39theo, bèn đem quân giữ nơi hiểm, không chịu thu nạp Thẩm Hoán Hoán lưu lại ở Uất Lâm, rồi chết Vua Tề bèn cho Thúc Hiến làm Thứ sử, vỗ yên đất phương Nam Năm ấy nhà Tống mất
Canh Ngọ,
Canh Ngọ, [490], (Tề Vĩnh Minh năm thứ 8) Mùa đông, tháng 10, Thứ sử là Phòng Pháp Thặng (thay Lưu Khải) chỉ thắch đọc sách, thường cáo ốm không làm việc, vì thế trưởng lại1 là Phục Đăng Chi được chuyên quyền [13b] [13b] thay đổi các tướng lại mà không cho Pháp Thặng biết Lục sự là Phòng Tú Văn mách với Pháp Thặng Pháp Thặng cả giận, giam Đăng Chi vào ngục hơn 10 ngày Đăng Chi hối lộ nhiều cho Thôi Cảnh Thúc, là chồng của em gái Pháp Thặng, nên được thả ra, rồi đem bộ khúc đánh úp châu trị, b¡t Pháp Thặng, bảo Thặng rằng: "Sứ quân đã có bệnh, thì không nên khó nhọc", rồi giam ở một nhà riêng Pháp Thặng không có việc gì, lại gặp Đăng Chi xin đọc sách Đăng Chi nói: "Sứ quân ở yên còn sợ phát bệnh, há lại còn xem sách?", bèn không cho, rồi tâu [với vua Tề] là Pháp Thặng bị bệnh động tim, không thể coi việc được Tháng 11, ngày Ất Mão, vua Tề cho Đăng Chi làm Thứ sử Pháp Thặng về đến Ngũ Lĩnh thì chết
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Phòng Pháp Thặng ham đọc sách mà bỏ việc quan đến nỗi
kẻ trưởng lại nhân đó chuyên quyên, thay đổi tướng lại, đó là cái lỗi nghiện sách quá Còn như giam [Đặng Chi] vào ngục mà [14a][14a] trừng trị, thế là biết sửa lỗi rồi Đến như nghe lời thỉnh thác [của em rể] mà bỏ qua không hỏi đến nữa, thì lỗi ấy to l¡m, bị [Đặng Chi] đánh
úp lại là đáng, không chết là may Cho nên phàm việc gì quá mức trung thì chưa từng không tai hại vậy
Bắnh Thân, [516], (Lương Thiên Giám năm thứ 15) Mùa đông, tháng 11, [vua Lương] xuống chiếu cho Lý T¡c làm Thứ sử, T¡c lại chém Lý Tông Lão là dư đảng của Nguyên Khải, lấy đầu chuyển về Kiến Khang, châu lại yên
[14b], Trở lên thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, từ năm Đinh Mùi đến năm Canh Thân, cộng 314 năm [227
cộng 314 năm [227 540] 540]
1 Nguyên bản in là trưởng lại; CMTB3, 31b sửa là trưởng sử (chữ _ lại và chữ _ sử d- viết nhầm) Trưởng lại chỉ là viên huyện quan có cấp bậc cao hơn các huyện quan khác Ở đây Phục Đăng Chi giúp việc thay cho Thứ sử, phải là chức Trưởng sử như Cương Mục đã ghi Nam Tề Thư (Đông Nam Di truyện), Việt Sử Lược (q.1) cũng chép là Trưởng sử Trưởng sử là chức quan có từ thời Hán, giúp việc cho Thừa tướng Nhưng từ thời Ngụy Tấn trở về sau, các viên thứ sử cai trị các châu thường là cấp tướng quân, cũng đặt chức Trưởng sử để giúp việc (Từ hải, tr 1399)
Trang 40K ỷ N h à T i ề n L ý
K ỷ N h à T i ề n L ý
Tiền Lý Nam Đế Tiền Lý Nam Đế
Tân Dậu,
Tân Dậu, năm thứ 1 [541], (Lương Đại Đồng năm thứ 7) Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu
Tư, vì hà kh¡c tàn bạo, mất lòng người Vua vốn con nhà hào trưởng, thiên tư lỗi lạc, làm quan không được vừa ý Lại có người là Tinh Thiều giỏi từ chương từng đến [kinh đô nhà Lương] xin được chọn làm quan Thượng thư bộ Lại nhà Lương là Sái Tôn cho rằng họ Tinh trước không có ai hiển đạt, nên chỉ bổ cho chức Quảng Dương môn lang Thiều lấy làm nhục, trở về làng, theo vua mưu việc dấy binh Vua bấy giờ làm chức Giám quân ở châu Cửu Đức4, nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Diên5 phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo về Tiêu Tư biết việc, đem của đến hối lộ cho vua, rồi chạy về Quảng Châu Vua ra chiếm giữ châu thành (tức là Long Biên)
Nhâm Tuất,
Nhâm Tuất, năm thứ 2 [542], (Lương Đại Đồng năm thứ 8) Mùa đông, tháng 12, vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng [15b] [15b] sang xâm chiếm Quýnh lấy cớ là chướng khắ mùa xuân đương bốc, xin đợi đến mùa thu Bấy giờ Thứ sử Quảng Châu là Tân Dụ hầu Hoán6 không cho, Vũ Lâm hầu cũng thúc giục Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết đến 6, 7 phần, quân tan rã mà về Tiêu Tư tâu vu [với vua Lương] rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi, đều bị buộc phải tự tử
3 Vị trắ của thành Long Biên đến nay vẫn chưa xác định được, có thể ở vùng gần thị xã B¡c Ninh, tỉnh Hà B¡c
4 Châu Cửu Đức thời thuộc Lương là Đức Châu, ở vị trắ huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay CMTB4, 1b sửa là Cửu Đức quận
5 Huyện Chu Diên thời Lương, thời Tùy, nay là phần đất tỉnh Hải Dương, huyện trị có thể ở vào khoảng huyện Phả Lại
6 Tân Dụ hầu Hoán _: theo Trần thư (Cao Tổ ký) nên sửa là Ánh _ (Tiêu Ánh)