1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TIEULUAN PHAN TICH WEB MYOWNBIKE

47 395 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề TieuLuan Phan Tich Web Myownbike
Tác giả Nhóm 10
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thương mại điện tử
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích trang web myownbike

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 8

1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành của TMĐT 8

1.1.1 Khái niệm: 8

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển TMĐT: 9

1.2 Đặc điểm và vai trò của TMĐT: 12

1.2.1 Đặc điểm: 12

1.2.2 Vai trò của TMĐT: 13

1.3 Các loại hình của TMĐT: 14

1.4 Các hình thức thanh toán điện tử: 16

1.4.1 Quá trình giao dịch thanh toán qua Planet payment: 16

1.4.2 Quá trình thanh toán thẻ tín dụng: 17

1.4.3 Hình thức thanh toán thông qua Ngân Lượng (nganluong.vn): 17

1.4.4 Thanh toán qua Onepay: 17

1.5 Lợi ích mà TMĐT mang lại: 18

1.5.1 Đối với doanh nghiệp: 18

1.5.2 Đối với người tiêu dùng: 20

1.5.3 Đối với xã hội: 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG TMĐT 21

2.1 Giới thiệu về Myownbike 21

2.2 Phân tích thực trạng ứng dụng TMĐT của Myownbike 22

2.2.1 Giới thiệu về hoạt động TMĐT tại Myownbike 22

2.2.2 Phân tích website của Myownbike 23

2.2.3 Phân tích quy trình đặt hàng của khách hàng 28

Trang 3

2.2.4 Phân tích quy trình thanh toán của doanh nghiệp: 32

2.2.5 Phân tích về e – marketing của doanh nghiệp: 35

2.2.6 Phân tích về việc hỗ trợ khách hàng: 36

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 37

3.1 Những điểm đạt được và chưa đạt được 37

3.1.1 Những điểm đạt được: 37

3.1.2 Những điểm chưa đạt được: 38

3.2 Định hướng phát triển Thương Mại Điện Tử của Myownbike: 39

3.3 Giải pháp cho hoạt động Thương Mại Điện Tử của doanh nghiệp .40 3.3.1 Những giải pháp: 40

3.3.2 Những kiến nghị đề xuất cho doanh nghiệp: 43

3.4 Bài học kinh nghiệm và những hạn chế của đề tài: 47

KẾT LUẬN 49

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện, thương mại tự do và lưu thông hàng hóa luôn

là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của sức sản xuất Sự phát triển của Cách mạngkhoa học và công nghệ, nhất là sự ra đời của mạng Internet đã làm thay đổi toàn bộ cáchthức hoạt động của con người, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội vàtạo ra một môi trường lý tưởng cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển Sự trao đổihàng hóa diễn ra nhanh chóng hơn, con người không bị bó buộc về không gian và thờigian… Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Internet đối với thương mại ngày càng nângcao, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT), kỹ thuật số hóa, dẫn đến sựxuất hiện một phương thức kinh doanh hoàn toàn mới, đó là Thương mại điện tử(E.commerce)

Vậy TMĐT là gì mà có tầm ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp hiện nay như vậy? Và các doanh nghiệp đã áp dụng TMĐT như thế nàovào hoạt động buôn bán của mình?

Để giải thích cho những vấn đề trên, nhóm chúng em đã quyết định chọn nghiêncứu đề tài: “ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦACÔNG TY MY OWN BIKE”

Thông qua đề tài , nhóm hy vọng sẽ có thể giúp mọi người hiểu hơn về sự hìnhthành và lợi ích của TMĐT đối với doanh nghiệp Từ đó, có thể thấy được tầm quantrọng của thương mại điện tử trong thời đại hiện nay Bên cạnh đó nhóm chúng tôi mongđược sự góp ý của giảng viên: Bùi Thành Khoa để nhóm có thể hoàn thành bài làm củamình một cách hoàn thiện nhất Thay mặt nhóm tôi xin chân thành cảm ơn thầy

2 Tính cấp thiết của đề tài:

Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, kinh doanh điện tử: Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán thông qua việc truyền dữ liệu giữa cácmáy tính Tại đây mọi dịch vụ thương mại trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàngđược tiến hành thông qua Internet Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất

Trang 5

E-cả các loại giao dịch được sử dụng công nghệ thông tin từ chào hàng, thỏa thuận đến kýhợp đồng

Nhờ có TMĐT mà các doanh nghiệp có thể giảm thiểu các chi phí như: chi phínhân công, chi phí sản xuất, chi phí quản lý… và nhiều loại chi phí khác đồng thời còngiúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và dễ dàng đưa các sản phẩm của mìnhtới các khách hàng ở mọi nơi trên thế giới… và chính điều này đã nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp ngày càng vững mạnh hơn và có uy tin hơntrên thị trường thế giới

Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn do TMĐT mang lại, và đề ra những biệnpháp khắc phục

Từ đó ta có thể thành lập riêng cho mình một trang web bán hàng riêng và tự vậnhành nó

4 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của TMĐT vàcách áp dụng TMĐT vào hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa của doanh nghiệp nóichung và của công ty MY OWN BIKE nói riêng Bên cạnh đó nó cũng giúp cho chúng tabiết cách thành lập một trang web bán hàng trên mạng là như thế nào Làm thế nào đểtrang web đó phát huy được hiểu quả cao nhất và mang được lợi nhuận cao nhất cho cácnhà doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

Đề tài sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu: thống kê mô tả, tổnghợp, so sánh, phân tích, phương pháp quan sát từ thực tiễn, để khái quát bản chất của cácvấn đề nghiên cứu Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các hình ảnh minh họa để làm cho bàitiểu luận thêm phần phong phú hơn Không những thế đề tài còn áp dụng các thông tintìm kiếm trên mạng internet để bài làm được hoàn chỉnh hơn, và có phần đa dạng hơn.

6 Kết cấu bài:

Lời mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về thương mại điện tử

Chương 2: Thực trạng ứng dụng TMĐT tại website www.myownbike.de

Chương 3: Giải pháp phát triển và đề xuất kiến nghị

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành của TMĐT

1.1.1 Khái niệm:

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “thương mại điện tử” nhưng tựu trunglại có hai quan điểm lớn trên thế giới xin được nêu ra dưới đây Thương mại điện tử theonghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợpquốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL): Thuật ngữ Thương mại cần được diễngiải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chấtthương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồmcác giao dịch sau đây:

Bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặcdịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; chothuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngânhàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác vềhợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đườngbiển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi củaThương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc muabán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mạiđiện tử

Tóm lại, theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử có thể được hiểu là các giao dịchtài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyểntiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng

Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiệnthông qua mạng Internet Các tổ chức như: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổchức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm về thương mại điện tử theo hướngnày Thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thức mua bán hàng hóa được bày tạicác trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng Có thể nóirằng Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức muasắm của con người

Trang 8

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất,quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạngInternet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũngnhư những thông tin số hóa thông qua mạng Internet.

Khái niệm về Thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của LiênHợp quốc đưa ra là: Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thươngmại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet

Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp Thươngmại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạngInternet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex

Qua nghiên cứu các khái niệm về Thương mại điện tử như trên, hiểu theo nghĩarộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liênlạc đã tồn tại hàng chục năm nay và đạt tới doanh số hàng tỷ USD mỗi ngày Theo nghĩahẹp thì Thương mại điện tử chỉ mới tồn tại được vài năm nay nhưng đã đạt được nhữngkết quả rất đáng quan tâm, Thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại đượctiến hàng trên mạng máy tính mở như Internet Trên thực tế, chính các hoạt động thươngmại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ Thương mại điện tử

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển TMĐT:

Năm 1910, 15 người bán hoa của Đức đã tập hợp lại cùng nhau để trao đổi theođường điện báo những đơn hàng hoa đặt mua từ ngoại thành Tổ hợp Điện báo Giao nhậncủa những người bán hoa nói trên, ngày nay là công ty FTD Inc., có thể đã là mạngthương mại điện tử thực sự đầu tiên

Tuy nhiên đối với các hệ thống thương mại điện tử được kết nối bằng máy tính,một yêu cầu quan trọng là cần có những tài liệu kinh doanh đã được chuẩn hoá để cácmáy tính ở mỗi đầu dây đều có thể hiểu được nhau Cội nguồn của loại hình thương mạiđiện tử này cũng bắt đầu rất sớm, từ năm 1948, khi Liên bang Xô Viết, kiểm soát ĐôngĐức cắt đứt đường thuỷ, đường sắt và đường bộ giữa Tây Đức và Berlin, phần lãnh thổ

do Mỹ, Anh và Pháp kiểm soát sau chiến tranh thế giới lần thứ II

Trang 9

Kết quả là Cầu hàng không Berlin ra đời Trong 13 tháng tiếp theo, hơn 2 triệu tấnthực phẩm và những đồ tiếp tế khác đã được chuyển vào Tây Berlin bằng đường hàngkhông Tuy nhiên, việc theo dõi hàng hoá mà việc bốc dỡ phải tiến hành thật nhanh, đãkhông thể tiến hành được với những bản kê khai hàng hoá vận chuyển theo những biểumẫu khác nhau và đôi khi được viết bằng những ngôn ngữ khác nhau.

Để giải quyết vấn đề này, một sĩ quan quân đội Mỹ Edward A Guilbert và các sĩquan hậu cần khác đã phát triển một hệ thống kê khai chuẩn có thể truyền bằng telex,máy vô tuyến điện báo hoặc điện thoại Họ đã theo dõi hàng ngàn tấn hàng trong mộtngày cho đến khi các tuyến đường khác vào Berlin được mở lại vào năm 1949

Thương mại điện tử - con đường hình thành và phát triển Guilbert đã không quêngiá trị của những kê khai chuẩn Đầu những năm 1960, trong khi đang làm việc tại Công

ty Du Pont, ông đã phát triển một chuẩn dành cho các thông điệp điện tử để gửi thông tinhàng hoá giữa Công ty Du Pont và hãng vận chuyển Chemical Leahman Tank Lines.Năm 1965, hãng vận chuyển Steamship Line (liên doanh giữa một hãng của Mỹ và mộthãng của Hà Lan) bắt đầu gửi cho hãng vận chuyển Atlantic những bản kê khai chuyểnhàng dưới dạng những thông điệp telex mà sau đó có thể in ra giấy hoặc nhập vào máytính

Đến năm 1968, rất nhiều các công ty vận chuyển đường sắt, hàng không, đường

bộ và vận chuyển đường biển đã sử dụng những chuẩn kê khai điện tử liên ngành do Uỷban Phối hợp Truyền dữ liệu (Transportation Data Coordinating Committee - TDCC) của

Mỹ khởi xướng và vào năm 1975, TDCC đã xuất bản tài liệu đặc tả kỹ thuật thuật traođổi dữ liệu điện tử (EDI) đầu tiên của mình

Ngành lương thực và thực phẩm bắt đầu một dự án thử nghiệm về trao đổi dữ liệuđiện tử vào năm 1977 Đến đầu những năm 1980, Tập đoàn ô tô Ford Motor và Tập đoàn

ô tô General Motor yêu cầu những nhà cung cấp của họ sử dụng EDI Những nhà bán lẻlớn như Sears, Roebuck và Co và Kmart Corp cũng bắt đầu sử dụng EDI

Tuy nhiên, trong khi EDI tiết kiệm cho khách hàng rất nhiều tiền bạc bằng cáchloại bỏ tất cả các thủ tục giấy tờ, thì nó lại tỏ ra rất đắt đối với những nhà cung cấp Nóđòi hỏi nhà cung cấp phải sử dụng phần mềm đắt tiền và những mạng gia tăng giá trị

Trang 10

(VAN) Ngoài ra, những nhà cung cấp thường phải sử dụng những hệ thống EDI khácnhau cho các khách hàng lớn của mình vì không có khách hàng nào hoàn toàn tuân thủtập chuẩn con EDI trong ngành của mình Trước tình hình phần lớn khách hàng lớn đềuyêu cầu các nhà cung cấp phải sử dụng EDI, sự lựa chọn trở nên khá đơn giản: Không cóEDI, không có doanh thu.

Đến năm 1991, khoảng 12.000 doanh nghiệp Mỹ đang sử dụng EDI Đó cũng lànăm chính phủ Mỹ bãi bỏ hạn chế thương mại sử dụng Internet, và là năm Tim Berners-Lee đã tạo ra trình duyệt web đầu tiên Một kiểu thương mại điện tử mới, từ doanhnghiệp đến người tiêu dùng, trên web đã bùng nổ

Năm 1994, trình duyệt web Netscape Navigator, với tính năng hỗ trợ "cookies",những tệp dữ liệu nhỏ được lưu trên máy tính của người sử dụng đã tạo điều kiện choviệc tạo những cửa hàng trên Web có khả năng nhận dạng những khách hàng, tập hợp dữliệu về họ và cá nhân hoá việc bán hàng để phủ hợp với khách hàng

Hoạt động trực tuyến của TMĐT:

Trong khi những cửa hàng lớn trên mạng như Amazon.com Inc bán những sảnphẩm trực tuyến với giá thoả thuận và không cần phải cất giữ hàng hoá trong kho hàng,những doanh nghiệp kinh doanh truyền thống lại đổ xô như điên để tạo sự hiện diện củamình trên web Một cơ sở hạ tầng tổng thể đã phát triển và đủ độ chín để hỗ trợ nhữngcông ty dotcom: United Parcel Service Inc và FedEx Corp., chuyên về chuyển hàng; một

số công ty bên thứ ba cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng, những hệ thống tiền điện tử vàthậm chí American Express Co còn giới thiệu Blue, một "thẻ thông minh" đặc biệt đượcthiết kế cho việc mua hàng trên mạng

Internet cũng làm một cuộc cách mạng hoá nền thương mại điện tử doanh nghiệp đếndoanh nghiệp EDI thông qua Internet đã rẻ hơn rất nhiều so với VANs và những người

sử dụng EDI ở qui mô lớn đã phát triển những hệ thống giao dịch trực tuyến của họ dựatrên web dựa trên những ngôn ngữ đánh dấu tương thích với Web thay cho những tài liệuEDI cứng nhắc Năm 2001, một phiên bản của XML được thiết kế cho thương mại điện

tử, được gọi là ebXML, đã chính thức được chuẩn hoá và những người sử dụng ngày nay

Trang 11

đang tiến hành kết hợp những yếu tố tốt nhất của EDI và eb XML để tạo ra một loại hìnhthương mại điện tử hoàn hảo hơn

Tóm lại, toàn bộ câu chuyện về thương mại điện tử:

Đầu những năm 1960: Edward A Guilbert lần đầu tiên gửi những thông điệpgiống EDI về thông tin hàng hoá cho việc trao đổi hàng giữa Du Pont và ChemicalLeahman Tank Lines

Năm 1965: Hãng vận chuyển Steamship Line gửi những bản kê khai chuyển hàng dướidạng những tin nhắn qua telex và được tự động chuyển thành dữ liệu lưu trong máy tính.Năm 1968: Uỷ ban phối hợp truyền dữ liệu của Mỹ ra đời kết hợp các chuẩn kê khai hànghoá cho từng ngành: ngành vận tải hàng không, đường bộ, đường thuỷ và đường sắt.Năm 1969: chính phủ Mỹ sử dụng Internet trong các cơ quan chính phủ, các viện nghiêncứu, và trong các ngành khoa học

Năm 1970: có sự đổi mới đáng kể về công nghệ

Năm 1977: Ngành lương thực và thực phẩm khai trương một dự án EDI thử nghiệm.Năm 1982: GM và Ford yêu cầu những đại lý cung cấp sử dụng EDI

Năm 1991: Mỹ bãi bỏ những hạn chế về thương mại sử dụng Internet

Năm 1994: Netscape Navigator 1.0 có tính năng hỗ trợ "cookies"

Năm 1995: Amazon.com, do Jeff Bezos thành lập, khai trương cửa hàng bán sách và âmnhạc trực tuyến

Năm 1999: American Express giới thiệu Blue, một thẻ thông minh tích hợp thanh toántrên mạng và ví trực tuyến

Năm 2000: 3 nhà chế tạo ô tô lớn nhất nước Mỹ (Ford, GM and Daimler Chrysler) thiếtlập chương trình thanh toán thương mại điện tử B2B Covisint

Năm 2001: Chuẩn ebXML 1.0 được phê chuẩn

1.2 Đặc điểm và vai trò của TMĐT:

1.2.1 Đặc điểm:

Đế xây dựng khung pháp luật thống nhất cho Thương mại điện tử, chúng ta cầnnghiên cứu và tìm ra các đặc điểm của Thương mại điện tử So với các hoạt động Thươngmại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ bản sau:

Trang 12

 Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực tiếpvới nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.

 Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của kháiniệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trườngkhông có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) Thương mại điện tử trực tiếp tácđộng tới môi trường cạnh tranh toàn cầu

 Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham ra của ít nhất bachủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các

cơ quan chứng thực

 Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện đểtrao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thịtrường

1.2.2 Vai trò của TMĐT:

Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại hay còn gọi

là thương mại điện tử ra đời và đang trở thành xu thế mới thay thế dần phương thức kinhdoanh cũ với rất nhiều ưu thế nổi bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn

và không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…

Tuy nhiên, đối với một số nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêngTMĐT lại là một điều khá mới mẻ dẫu rằng việc nắm bắt xu thế và phát triển đã và đang

ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu Trong công tác quản lý nhà nước cũng chưa thực sự hoànthiện cho lĩnh vực này Trong công tác ứng dụng ở cả doanh nghiệp cũng như các cơquan, tổ chức cũng đang ở mức độ thăm dò và hỗ trợ cho hình thức kinh doanh truyềnthống hoặc kết hợp giữa hai hình thức này

Mặc dù đã có rất nhiều doanh nghiệp biết ứng dụng và phát triển TMĐT và trởthành điển hình trong lĩnh vực này như công ty Vietgo, công ty cổ phần vật giá với sàngiao dịch TMĐT :vatgia.com; công ty peaceoft solution với trang web: chodientu.vn, …vv

Tuy nhiên, việc khai thác và ứng dụng TMĐT luôn là hai mặt của một vấn đề: Thứnhất chúng ta đang ở giao thời giữa kinh doanh truyền thống và phương thức kinh doanh

Trang 13

TMĐT, do vậy luôn có sự so sánh thực dụng và ngắn hạn về tính hiệu quả giữa haiphương thức này.

Thứ hai TMĐT cũng đòi hỏi phải có cách nhìn nhận khác hơn, trí tuệ hơn và khóhơn (không theo lối tư duy cũ), việc ứng dụng và phát triển TMĐT đỏi hỏi sự nhận thứcsâu rộng trong xã hội và môi trường làm việc cũng như quản lý và hạn chế các mặt tiêucực như việc gian lận, niềm tin, phá hoại vv đã và đang ở trên rất khó kiểm soát vì tínhnhanh, mạnh và kỹ thuật cao của loại hình này

Phát triển TMĐT cũng giống như lịch sử phát triển của Thương mại truyền thống,bước đầu là tự phát khi mà mỗi cá nhân, doanh nghiệp hay một cơ quan, tổ chức nhậnthấy lợi ích của mình trong đó rồi sau đó trở nên hiện đại hơn và đa phương thức hơn.Tuy nhiên để mở rộng và phát triển ở tầm cao cũng như tạo nên lợi ích thực sự cho cộngđồng xã hội thì cần có “bàn tay của nhà nước” ở góc độ mà các đơn vị không thể hoặckhông muốn làm

Vậy chúng ta phải phát triển và quản lý nó như thế nào để hạn chế tiêu cực và pháthuy tính tích cực để đạt được tính hiệu quả cac về mặt xã hội, cá nhân và cộng đồng ? Đểtrả lời câu hỏi này chúng ta sẽ từng bước phân tích ở cả hai góc độ: hỗ trợ để phát triển vàquản lý để kiểm soát: Về công tác hỗ trợ để phát triển: rõ ràng khi nhận thấy lợi ích thìcác DN, TC và cá nhân sẽ tự phát ứng dụng và phát triển nó

1.3 Các loại hình của TMĐT:

Dựa vào chủ thể của thương mại điện tử, có thể phân chia thương mại điện tử ra các loạihình phổ biến như sau:

- Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B (business to business);

- Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (business to consumer);

- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước - B2G (business togovernment);

- Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau - C2C (consumer to consumer);

- Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân - G2C (government to consumer).B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanhnghiệp Theo Tổ chức Liên hợp quốc về Hợp tác và Phát triển kinh tế (UNCTAD),

Trang 14

TMĐT B2B chiếm tỷ trọng lớn trong TMĐT (khoảng 90%) Các giao dịch B2B chủ yếuđược thực hiện trên các hệ thống ứng dụng TMĐT như mạng giá trị gia tăng (VAN); dâychuyền cung ứng hàng hoá, dịch vụ (SCM), các sàn giao dịch TMĐT… Các doanhnghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán quacác hệ thống này Ở một mức độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động.TMĐT B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm các chiphí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng các cơhội kinh doanh,…

B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phươngtiện điện tử Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tớingười tiêu dùng Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả,đặt hàng, thanh toán, nhận hàng Giao dịch B2C tuy chiếm tỷ trọng ít (khoảng 10%) trongTMĐT nhưng có sự phạm vi ảnh hưởng rộng Để tham gia hình thức kinh doanh này,thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hoá,dịch vụ; tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêudùng TMĐT B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Doanhnghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê ngườigiới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuậntiện vì không phải tới tận cửa hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùngmột lúc

B2G là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong đó cơquan nhà nước đóng vai trò khách hàng Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệpvới cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương tiện điện tử Cơ quan nhà nướccũng có thể thiết lập những website tại đó đăng tải thông tin về nhu cầu mua hàng của các

cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấptrên website Điều này một mặt giúp tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp, đồng thờigiúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công

C2C là loại hình giao dịch giữa các cá nhân với nhau Sự phát triển của các phương tiệnđiện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người

Trang 15

bán, người cung cấp dịch vụ Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanhnhững mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một số mónhàng mình có C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của thị trường.

G2C là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân Đây chủ yếu là cácgiao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của TMĐT Ví dụ khingười dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến, v.v

1.4 Các hình thức thanh toán điện tử:

Thanh toán điện tử trong việc mua bán, giao dịch hàng trực tuyến có nhiều hìnhthức khác nhau và đặc điểm cơ bản của hình thức này là người mua không nhất thiết phảigặp trực tiếp người bán để thanh toán; không bị giới hạn bởi không gian, địa lý, bất cứnơi đâu bạn cũng có thể mua được hàng

Hiện nay có 3 hình thức thanh toán phổ biến nhất là: thẻ tín dụng, định danh hay

ID hóa số và xe mua hàng điện tử nhưng phổ biến nhất là thanh toán thông qua thẻ tíndụng Đây là một hình thức thanh toán phổ biến và tương đối rộng rãi trên thế giới

1.4.1 Quá trình giao dịch thanh toán qua Planet payment:

Giao dịch được chuyển từ website của người bán tới máy chủ của Planet Payment.Planet Payment chuyển giao dịch sang trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế

Trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế sẽ hỏi ý kiến cơ sở dữ liệu phát hành thẻ tíndụng

Đơn vị phát hành thẻ sẽ khước từ hoặc chấp nhận giao dịch và chuyển kết quả, mã

số hợp pháp ngược trở lại cho trung tâm thanh toán thẻ tín dụng

Trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế sẽ chuyển kết quả giao dịch sang cho PlanetPayment

Máy chủ Planet Payment lưu trữ kết quả và chuyển trở lại cho khách hàng, ngườibán Trung bình các buớc này mất khoảng 3-4 giây

1.4.2 Quá trình thanh toán thẻ tín dụng:

Máy chủ Planet Payment tự động chuyển các đợt giao dịch sang trung tâm thanhtoán thẻ tín dụng quốc tế

Trang 16

Trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế gửi tới cơ sở dữ liệu đơn vị phát hànhthẻ tín dụng.

Đơn vị phát hành thẻ tín dụng xác minh giao dịch, chuyển kết quả, tiền sang trungtâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế

Trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế sẽ chuyển kết quả của quá trình giaodịch và tiền sang Planet Payment

Planet Payment chuyển kết quả giao dịch tới người bán và chuyển tiền tới tàikhoản ngân hàng của người bán

Bên cạnh đó thì hiện nay ở Việt Nam cũng đã có nhiều cổng thanh toán điện tửphổ biến như: cổng thanh toán onepay, Vnpay, Vinapay , Ngân lượng…

1.4.3 Hình thức thanh toán thông qua Ngân Lượng (nganluong.vn):

Ngân lượng là một trong những đơn vị thanh toán trực tuyến đầu tiên ở Việt Nam

và được xây dựng theo mô hình thanh toán trực tuyến của paypal

Mô hình hoạt động của Ngân Lượng là cho phép người mua nạp tiền vào tài khoảncủa mình để có thể nhận một khoản “ngân lượng” tương ứng với số tiền của mình để cóthể thực hiện các cuộc giao dịch mua bán thông qua mạng internet và ngược lại (1 VNĐtương đương 1 ngân lượng)

Khi khách hàng muốn mua một sản phẩm thông qua Ngân lượng, số tiền đó sẽchuyển từ tài khoản người mua tới tài khoản người bán thông qua các cơ sở tài chính củaNgân Lượng

1.4.4 Thanh toán qua Onepay:

Đây là sự phối hợp giữa công ty onepay và ngân hàng Vietcombank triển khaidịch vụ thanh toán điện tử trong đó Vietcombank đóng vai trò là ngân hàng thanh toán vàkhách hàng có thể thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc các thẻ ghi nợ như: Master,Americant express, JCB Vietcombank là ngân hàng thanh toán của doanh nghiệp cungứng hàng hóa dịch vụ (đơn vị chấp nhận thẻ) Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ cổng thanhtoán Onepay sẽ mở tài khoản tại Vietcombank để nhận doanh thu bán hàng

Trang 17

Người mua (chủ thẻ) sẽ thực hiện thanh toán trực tuyến bằng cách điền thông tinthẻ tại cổng thanh toán Onepay và sẽ được chuyển thông tin đến ngân hàng phát hànhthông qua hệ thống của tổ chức thẻ quốc tế đến ngân hàng phát hành để xin cấp phép giaodịch.

Kết quả giao dịch sẽ được trả ngược lại cho cổng thanh toán Onepay, đơn vị chấpnhận thanh toán thẻ và chủ thẻ Nếu kết quả giao dịch thành công, Vietcombank sẽ ghi cótạm ứng doanh thu vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ Vietcombank sẽthực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ với ngân hàng phát hành (ngân hàng của chủ thẻ)theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế

Và còn các loại thanh toán khác như trao đổi dữ liệu, truyền dung liệu, bán lẽ hữuhình…

1.5 Lợi ích mà TMĐT mang lại:

1.5.1 Đối với doanh nghiệp:

Thu thập được nhiều thông tin: TMĐT giúp người ta tham gia thu được nhiều

thông tin về thị trường, đối tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sảnxuất, tạo dựng và củng cố quan hệ bạn hàng Các doanh nghiệp nắm được thông tinphong phú về kinh tế thị trường, nhờ đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất vàkinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế.Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện nay đang đượcnhiều nước quan tâm, coi là một trong những động lực phát triển kinh tế

Giảm chi phí sản xuất

TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất: trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng

không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếmchuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn hầu như được bỏ hẳn); theo sốliệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30% Điềuquan trọng hơn, với góc độ chiến lược, là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏinhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợiích to lớn lâu dài

Trang 18

Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch: TMĐT giúp giảm thấp chi bán hàng

và chi phí tiếp thị Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giaodịch được với rất nhiều khách hàng, catalogue điện tử (electronic catalogue) trên Webphong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue in ấn chỉ có khuôn khổgiới hạn và luôn luôn lỗi thời Theo số liệu của hang máy bay Boeing của Mỹ, đã có tới50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và nhiều các đơn hàng về lao vụ kỹthuật), và mỗi ngày giảm bán được 600 cuộc gọi điện thoại

TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp: giảm đáng kể

thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc banđầu, g iao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán) Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch quabưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến20% chi phí thanh toán theo lối thông thường

Tổng hợp tất cả các lợi ích trên, chu trình sản xuất (cycle time) được rút ngắn, nhờ đó sảnphẩm mới xuất hiện nhanh và hoàn thiện hơn

Xây dựng quan hệ với đối tác:TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố

mối quan hệ giữa các thành viên tham gia vào quá trình thương mại: thông qua mạng(Internet/ Web) các thành viên tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan Chínhphủ ) có thể giao tiếp trực tiếp (lien lạc “ trực tuyến”) và liên tục với nhau, có cảm giácnhư không có khoảng cách về địa lý và thời gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và sự quản lýđều được tiến hành nhanh chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các cơ hội kinhdoanh mới được phát hiện nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực, toàn thếgiới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn

Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế trí thức: Trước hết, TMĐT sẽ kích thích sự

phát triển của ngành công nghệ thông tin tạo cơ sở cho phát triển kinh tế tri thức Lợi íchnày có một ý nghĩa lớn đối với các nước đang phát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cậnnền kinh tế tri thức thì sau khoảng một thập kỷ nữa, nước đang phát triển có thể bị bỏ rơihoàn toàn Khía cạnh lợi ích này mang tính chiến lược công nghệ và tính chính sách pháttriển cần cho các nước công nghiệp hóa

Trang 19

1.5.2 Đối với người tiêu dùng:

- Vượt giới hạn về không gian và thời gian

- Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ

- Giá thấp hơn

- Giao dịch nhanh hơn với các hàng hóa số lượng nhiều

- Thông tin phong phú, đa dạng và hàng hóa chất lượng cao

- Dễ dàng tham gia các dịch vụ như đấu giá

- Tham gia các cộng đồng thương mại điện tử

- Được miễm giảm thuế

1.5.3 Đối với xã hội:

- Hoạt động trực tuyến: TMĐT tạo ra môi trường để làm việc, mua sắm, giao dịch,

… từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn…

- Nâng cao mức sống: nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực giảm giá do

đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức sống mọi người

- Lợi ích cho các nước nghèo.

- Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn.

Trang 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG TMĐT TẠI DOANH

NGHIỆP MYOWNBIKE 2.1 Giới thiệu về Myownbike

Myownbike tọa lạc tại trung tâm của Dusseldorf Ở giữa Flingern , huyện trendiestDüsseldorf, Đức Được thành lập vào tháng 12, năm 2011 Địa chỉ 73 Birch,40233Dusseldorf

Myownbike là một cửa hàng trực tuyến hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xeđạp tuy nhiên Myownbike không cung cấp các loại xe đạp bình thường, Myownbikechuyên cung cấp các loại xe đạp tốc độ với phong cách độc nhất dành riêng cho kháchhàng với các linh kiện được thu thập từ khắp nơi trên thế giới và được tiến hành lắp rápngay tại Myownbike

Xe đạp thương hiệu Myownbike chỉ sử dụng một loại bánh răng duy nhất, kháchhàng có thể di chuyển một cách dễ dàng mà không cần lo lắng về chất lượng linh kiệnchính cũng như những phụ kiện liên quan

Doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ bảo trì miễn phí, khách hàng có thể thoải máilựa chọn từng bộ phận của xe để lắp ráp thành một chiếc xe đạp hoàn chỉnh mà khôngnhất thiết phải cùng kiểu dáng với những chiếc xe đạp đô thị với hình dáng lắp sẵn, chỉđơn giản tập trung vào những yếu tố cần thiết để hoàn thành chiếc xe đạp với hình dángtheo đúng mong muốn của khách hàng Myownbike là thế giới xe đạp hoàn hảo trong mơcủa mỗi khách hàng, đơn giản nhưng sắc sảo và độc đáo với phong cách của riêng mỗingười

Myownbike hợp tác trong việc xây dựng hình ảnh các loại xe với Richard Prattchủ sở hữu của nhãn hiệu xe đạp thể thao nổi tiếng Ricci và Düsseldorf Lighting,Myownbike luôn đảm bảo uy tín với khách hàng về chất lượng các loại xe Thời gian bảohành xe đến 5 năm

Myownbike của khách hàng được thiết kế bởi khách hàng và lắp ráp tạiDusseldorf, độc quyền và có chất lượng tốt nhất

Cửa hàng Myownbike trực tuyến cung cấp cho khách hàng loại phụ tùng, linh kiệncho phép lắp ráp, thiết kế và kết hợp các màu sắc của từng phần chỉ trong 3 bước Khi

Trang 21

đến với Myownbike khách hàng tự thiết kế cho mình hình mẫu ảo của chiếc xe đạp màtrong tương lai khách hàng sẽ nhận được

Myownbike luôn luôn tìm kiếm những tác phẩm có thiết kế tuyệt vời, mang lạicho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn, mẫu mã mới thu hút nhiềukhách hàng hơn

Khách hàng có thể đặt hàng thông qua website, Myownbike sẵn sàng cung cấp cho mọikhách hàng trong và ngoài EU với mức phí hợp lý nhất, thời gian giao hàng tối đa 14-21ngày

Myownbikes không chỉ cung cấp sản phẩm và thiết kế trực tuyến, khách hàng cóthể đến các cửa hàng Düsseldorf xem, kiểm tra ổ đĩa, tùy chỉnh thiết kế và đặt hàng tùythích

2.2 Phân tích thực trạng ứng dụng TMĐT của Myownbike

2.2.1 Giới thiệu về hoạt động TMĐT tại Myownbike

Internet ngày càng phát triền và trở nên phổ biến trên khắp thế giới, khách hàngchỉ cần ngồi tại nhà và click chuột lựa chọn sản phẩm mình cảm thấy ưng ý nhất màkhông cần phải tốn nhiều thời gian, chi phí cho việc đi lại cũng như tìm kiếm món hàng

mà mình yêu thích vì lẽ đó các doanh nghiệp kinh doanh thương mại lớn, nhỏ cũng nhưcác cửa hàng kinh doanh trực tuyến (bán hàng thông qua website) xuất hiện ngày càngnhiều

Với tiêu chí xây dựng trang web kinh doanh xe đạp trực tuyến mà hai tiêu chí

phong cách của riêng bạn và chiếc xe đạp tương lai của bạn được đặt lên hàng đầu.

Myownbike đã mang đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn vô cùng phong phú và đadạng, những lợi thế thương mại được áp dụng triệt để qua từng bố cục chi tiết mang lạicho khách hàng cảm giác thoải mái nhất khi tham quan trang web Các loại thiết bị, linhkiện xe đạp được tìm kiếm từ những nhãn hiệu chất lượng và nổi tiếng khắp thế giới đượcMyownbike tập hợp thành những bộ sưu tập độc đáo và đưa lên website cho mọi ngườicùng tham khảo

Đặc biệt khách hàng có thể lắp ráp cho mình chiếc xe đạp ảo trên chính trang webcủa Myownbike , Myownbike cung cấp cho khách hàng một hộp công cụ với nhiều chứcnăng mở rộng từ đó khách hàng có thể thiết kế xe đạp của mình, Myownbike cung cấp

Trang 22

giao diện trực quan mô hình xe đạp cùng với các tùy chọn màu sắc, kiểu dáng phong.Nếu khách hàng không tìm thấy linh kiện mong muốn,khách hàng có thể yêu cầuMyownbike, tất cả các yêu cầu đều có thể thực hiện và giá tiền cũng được hiển thị ngaybên cạnh, sau khi thiết kế xong cho mình chiếc xe đạp ưng ý khách hàng có thể nhìn thấyđược chiếc xe đạp mà sau này mình sẽ nhận được nếu đồng ý đặt hàng Đây là ưu điểmlớn mà các cửa hàng khác không có được.Ngoài ra khách hàng cũng có thể tham quanmột số mẫu xe đạp đã được thiết kế trước đó bởi chính cửa hàng hoặc các khách hàngkhác

Quy trình lựa chọn và mua một chiếc xe ảo trực tuyến được tiến hành nhanh chóngqua 4 bước:

Thiết kế nhỏ gọn gần như thành công hoàn hảo Một màu xám sáng, màu sắc sáng

về phía trung tâm, cho đến khi nó hoàn toàn màu trắng Như vậy, quan điểm của xe đạpđược đề cặp đến đây rõ ràng là trọng tâm

- Giao diện

Trang 23

Ấn tượng đầu tiên khi người dùng ghé thăm website là hình ảnh chiếc xe đạpđược đặt ngay tại trung tâm của giao diện giữa một quần sáng nhẹ tạo cảm giác nhẹnhàng và tò mò về sản phẩm Logo và menu được đặt ở phía trên cùng với tông màu xámsáng

Nội dung giới thiệu ngắn gọn được giới hạn trong khung nhỏ phía dưới, lần lượtcác câu hỏi what, how, where được giải đáp trong giới hạn khung, các tiêu đề tiếp theođược làm mờ đi và khách hàng không phải mở thêm cửa sổ mới mà chỉ đơn giản là clickchuột vào tiêu đề, nội dung sẽ được hiển thị rõ ràng

Các trang tiếp theo trong mục menu được thiết kế cùng tông màu với trang chủCác ô tùy chọn trong menu trên được thiết kế rõ ràng theo thứ tự : cấu hình, cửa hàngtrực tuyến, mua sắm, bộ sưu tập, liên hệ

Tương tự menu dưới cung cấp các thông tin về cửa hàng như: tin tức, giới thiệu,doanh nghiệp và bán lẻ, hỏi đáp, điều khoản luật và dấu ấn

Font chữ đơn giản, không màu mè, tạo cảm giác không rối rắm, thiết kế phù hợpvới mục đích kinh doanh của của hàng

Ngày đăng: 16/08/2013, 21:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh trưng bài phong phú, tập trung chủ yếu vào các sản phẩm như: linh kiện - TIEULUAN PHAN TICH WEB MYOWNBIKE
nh ảnh trưng bài phong phú, tập trung chủ yếu vào các sản phẩm như: linh kiện (Trang 24)
Hình ảnh cụ thể của chiếc xe đạp cơ bản đã được lắp ráp sẵn cùng với các nút tùy chọn thay đổi linh kiện theo ý thích, bảng giá động được hiển thị bênh cạnh và luôn chạy - TIEULUAN PHAN TICH WEB MYOWNBIKE
nh ảnh cụ thể của chiếc xe đạp cơ bản đã được lắp ráp sẵn cùng với các nút tùy chọn thay đổi linh kiện theo ý thích, bảng giá động được hiển thị bênh cạnh và luôn chạy (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w