sơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bứcsơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bức
Trang 1Ngày tháng 2 năm 2018
PHÊ DUYỆT CỦA CHỦ NHIỆM KỸ THUẬT
1 Phê duyệt giáo án: HUẤN LUYỆN KỸ THUẬT
Bài 2: Hệ thống bôi trơn động cơ ô tô
Của đồng chí: Trần Nguyên Đạo Cấp bậc: Thiếu úy
Chức vụ: Trợ lý huấn luyện kỹ thuật Đơn vị: Phòng kỹ thuật
2 Địa điểm phê duyệt:
a Thông qua tại:
- Địa điểm: Phòng giao ban Cơ quan Kỹ thuật
- Thời gian: giờ phút, ngày tháng 2 năm 2018
b Phê duyệt tại:
- Địa điểm: Phòng giao ban Cơ quan Kỹ thuật
- Thời gian: giờ phút, ngày tháng 2 năm 2018
3 Nội dung phê duyệt:
a Phần nội dung của giáo án:
b Phần thực hành huấn luyện:
4 Kết luận:
CHỦ NHIỆM KỸ THUẬT
Thượng tá Nghiêm Xuân Thành
Trang 22 Yêu cầu:
a Về kiến thức:
- Nắm được trọng tâm bài học
- Nắm chắc nội dung bài học, liên hệ với thực tế.
b Về thái độ
-Chấp hành nghiêm quy định lớp học
-Nghiêm túc, lắng nghe, ghi chép, phát biểu xây dựng bài
II NỘI DUNG
1 Nội dung chính của bài giảng:
- Nguyên lí hoạt động hệ thống bôi trơn động cơ
- Các bộ phận chính trong hệ thống bôi trơn
-Các hệ thống bôi trơn điển hình
2 Trọng tâm:
- Nguyên lí hoạt động hệ thống bôi trơn động cơ
- Các bộ phận chính trong hệ thống bôi trơn
-Các hệ thống bôi trơn điển hình
III THỜI GIAN
1. Thời gian chuẩn bị huấn luyện :
- Thời gian thông qua giáo án:
- Thời gian thục luyện giáo án :
- Thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị :
2. Thời gian thực hành huấn luyện :
- Tổng thời gian toàn bài : 135 phút
- Thủ tục huấn luyện : 5 phút
- Thời gian lên lớp lý thuyết : 120 phút
- Thời gian kiểm tra kết thúc huấn luyện : 10 phút
IV ĐỊA ĐIỂM
Trang 3Phòng học: 52 - 6
V TỔ CHỨC, PHƯƠNG PHÁP
1 Tổ chức: Lớp học tập trung thành một khối tại giảng đường.
2 Phương pháp: Thuyết trình, giảng giải, thảo luận, nêu vấn đề, đàm
thoại
a. Chuẩn bị huấn luyện:
- Chuẩn bị giáo án, bài giảng, vật chất huấn luyện, Power Point
b. Thực hành huấn luyện:
- Giáo viên lên lớp lý thuyết, thuyết trình kết hợp trình chiếu , nêu vấn đề
và phân tích, giảng giải từng nội dung
VI VẬT CHẤT BẢO
1. Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình Kết cấu động cơ đốt trong tập 2_Trường SQKT Quân Sự
2. Trang bị Vật chất :
- Giáo án, phấn bảng, mô hình tranh vẽ, bảng, học cụ trực quan, máy
chiếu
Trang 4Phần II THỰC HÀNH GIẢNG BÀI
A. MỞ ĐẦU
Trong quá trình hoạt động các chi tiết của động cơ chuyển động tương đốivới nhau xảy ra hiện tượng ma sát trong động cơ.Để khắc phục điều này hệthống bôi trơn đảm bảo động cơ làm việc êm dịu tránh xảy ra ăn mòn gio masát.Cần phải nắm được nguyên lí hoạt động, kết cấu các bộ phận chính trong hệthống bôi trơn để thuận tiện cho bảo dưỡng sửa chữa động cơ0 ô tô
B. NỘI DUNG
1.1 Nhiệm vụ của hệ thống bôi trơn.
Hệ thống bôi trơn của động cơ đốt trong có tác dụng: Chứa dầu, lọc sạch
và làm mát dầu để đảm bảo cho tính năng hóa, lý của dầu bôi trơn và đưa dầuđến các bề mặt ma sát để thực hiện các nhiệm vụ sau
1.1.1 Bôi trơn các bề mặt ma sát, làm giảm tổn thất ma sát.
Dầu bôi trơn đóng vai trò là chất liệu trung gian đệm vào giữa các bề mặt
ma sát có chuyển động tương đối với nhau khiến cho các mặt ma sát không trựctiếp tiếp xúc với nhau, giảm nhỏ lực ma sát
Hình 1-1 Dầu bôi trơn các bề mặt ma sát.
1 Dầu bôi trơn; 2 Bạc ổ đỡ; 3 Lớp dầu bôi trơn; 4- Trục; 5- Ổ đỡ.
Trang 51.1.2 Làm mát ổ trục.
Trong quá trình làm việc, công do tổn thất ma sát chuyển biến thành nhiệtnăng sẽ làm nhiệt độ của các bề mặt ma sát tăng cao Nếu không có dầu bôi trơncác mặt ma sát bị quá nóng rồi hư hỏng, vì vậy dầu bôi trơn trong trường hợpnày đã đóng vai trò chất lỏng làm mát ổ trục, tải nhiệt lượng do ma sát sinh rakhỏi ổ trục, giữ cho ổ trục không bị quá nóng
1.1.3 Tẩy rửa mặt ma sát.
Trong quá trình làm việc, các mặt ma sát cọ sát với nhau gây nên mài mòn,mạt kim loại sinh ra bám trên mặt ma sát Do có dầu bôi trơn chảy qua mặt masát nên nó cuốn theo các tạp chất trên mặt ma sát, vì vậy mặt ma sát được làmsạch tránh được mài mòn do tạp chất cơ học
1.1.4 Bao kín các khe hở nhỏ
Bao kín khe hở giữa pít tông với xy lanh, giữa xéc măng với pít tông vv…Khiến cho khả năng lọt khí qua các khe hở này giảm đi
1.1.5 Bảo vệ các bề mặt của chi tiết trong động cơ không bị gỉ.
Với các chi tiết được màng dầu bảo vệ, dầu sẽ ngăn không cho không khítiếp xúc với chi tiết kim loại nên không xảy ra hiện tượng ôxy hóa (bị gỉ)
1.1.6 Rút ngắn quá trình chạy rà trơn động cơ.
Khi chạy rà dùng dầu bôi trơn có độ nhớt thấp, ngoài ra dầu còn pha một
số chất phụ gia đặc biệt có tác dụng làm mềm tổ chức tế vi kim loại một lớp rấtmỏng trên bề mặt chi tiết Do đó các chi tiết nhanh chóng rà khít với nhau, rútngắn thời gian và chi phí chạy rà trơn
1.2 Các phương pháp bôi trơn thường dùng trong động cơ.
Lựa chọn phương án bôi trơn nào tùy thuộc vào tính năng tốc độ, côngsuất, mức dộ phụ tải trên ổ trục và công dụng của động cơ và thường sử dụngcác phương án bôi trơn sau: Bôi trơn thủ công, vung té dầu, pha dầu bôi trơn vàonhiên liệu và bôi trơn cưỡng bức Trên động cơ ô tô thường chỉ sử dụng các
Trang 6phương pháp bôi trơn định kỳ, vung té, cưỡng bức (hay còn gọi là bôi trơn hỗnhợp), không sử dụng phương pháp bôi trơn bằng cách pha dầu bôi trơn vàonhiên liệu
1.2.1 Bôi trơn định kỳ (bôi trơn thủ công).
Phương pháp này chỉ áp dụng với những chi tiết chịu lực nhỏ, xa trung tâmđáy dầu, khó sử dụng các phương pháp bôi trơn khác và chỉ là phương pháp phụ
1.2.2 Vung té dầu.
Hình 1-2 Phương pháp bôi trơn vung té.
Dưới tác dụng của lực ly tâm (do các chi tiết quay) nên khi dầu rơi ra bịvung lên khi rơi xuống bám vào các bề mặt ma sát để bôi trơn Hoặc dầu đượcphun ra trên các lỗ khoan (thường bố trí trên đầu to thanh truyền) để bôi trơn chocác bề mặt ma sát
Phương pháp này thường kết hợp với bôi trơn cưỡng bức và để bôi trơnnhững vị trí khó bố trí đường dầu như bôi trơn pít tông, xi lanh, chốt pít tông,con đội vv… Hiện nay phương pháp này được sử dụng rất phổ biến trên cácđộng cơ ô tô
1.2.3 Bôi trơn bằng phương pháp pha dầu bôi trơn vào nhiên liệu
Phương pháp này được dùng ở động cơ xăng hai kỳ quét vòng dùng hộpcácte – trục khuỷu và píttông động cơ nén khí quét Dầu được pha với xăng theomột tỷ lệ nhất định từ 1/20 đến 1/25 Một số động cơ xe máy cỡ nhỏ nhưBabecta (Séc), simson (Đức) dùng dầu pha với tỷ lệ ít hơn trong khoảng 1/30
Trang 7đến 1/33 Các hạt dầu trong hỗn hợp xăng – dầu khi vào hộp cácte-trục khuỷu vàxilanh sẽ ngưng đọng trên các bề mặt chi tiết để bôi trơn các bề mặt ma sát Dầuđược pha theo các cách sau:
- Xăng và dầu được hòa trộn trước gọi là xăng pha dầu như thường bán ởcác trạm xăng dầu
- Dầu và xăng chứa ở hai thùng riêng rẽ trên động cơ Trong qua trình động
cơ làm việc, dầu và xăng được hoà lẫn song song, tức là dầu và xăng được trộntheo định lượng khi ra khỏi thùng chứa Một số xe máy hai kỳ như YAMAHA,SUZUKI dùng cách hòa trộn này
Một cách hòa trộn khác là dùng bơm phun dầu trực tiếp vào họng khuếchtán hay vị trí bướm ga Bơm được điều chỉnh theo tốc độ vòng quay động cơ và
vị trí bướm ga nên định lượng dầu hoà trộn rất chính xác và có thể tối ưu hóa ởcác chế độ tốc độ và tải trọng khác nhau
Cũng như bôi trơn vung té, phương pháp bôi trơn bằng dầu pha trong nhiênliệu rất đơn giản nhưng không an toàn do khó bảo đảm đủ lượng dầu bôi trơncần thiết Mặt khác, do dầu bôi trơn trong hỗn hợp bị đốt cháy cùng nhiên liệunên dễ tạo muội than bám lên đỉnh pít tông ngăn cản quá trình tản nhiệt khỏi píttông Dầu pha với tỷ lệ càng lớn, muội than hình thành càng nhiều dẫn đến píttông bị quá nóng, dễ xảy ra cháy sớm, kích nổ, bugi bị đoản mạch Ngược lại,pha ít dầu, bôi trơn kém dễ làm cho pít tông bị bó kẹt trong xi lanh
1.2.4 Phương pháp bôi trơn cưỡng bức.
Hầu hết các động cơ đốt trong ngày nay đều dùng phương pháp bôi trơncưỡng bức, dầu bôi trơn trong hệ thống bôi trơn được bơm dầu đẩy đến các bềmặt ma sát dưới một áp suất nhất định, do đó hoàn toàn đảm bảo yêu cầu bôitrơn, làm mát và tẩy rửa mặt ma sát của ổ trục
Hệ thống bôi trơn cưỡng bức của động cơ đốt trong thường bao gồm các
bộ phận cơ bản sau: Thùng chứa dầu hoặc đáy dầu, bơm dầu bôi trơn, bầu lọcthô và lọc tinh dầu bôi trơn, két làm mát dầu bôi trơn, các đường dẫn, đồng hồbáo áp suất và nhiệt độ của dầu bôi trơn
Trang 8Tùy theo vị trí chứa dầu bôi trơn, hệ thống bôi trơn cưỡng bức chia thành 2loại:
- Hệ thống bôi trơn đáy dầu (cacte) ướt hình 1-3, là loại đáy dầu vừa là nơihứng dầu và là nơi chứa dầu)
- Hệ thống bôi trơn đáy dầu khô hình 1-4, đây là loại đáy dầu là nơi hứngdầu, còn chứa dầu là nhờ thùng chứa riêng
Căn cứ vào hình thức lọc, hệ thống bôi trơn cưỡng bức lại phân thành 2loại:
- Hệ thống bôi trơn lọc thấm (như động cơ xe UAZ-31512)
- Hệ thống bôi trơn lọc ly tâm (như động cơ ZIL-130…)
1.2.4.1 Phương pháp bôi trơn cưỡng bức cácte ướt
Trong hệ thống này toàn bộ lượng dầu bôi trơn đều được chứa trong cactecủa động cơ
Bơm dầu được dẫn động từ trục khuỷu hoặc trục cam Dầu trong cácte (1)được hút vào bơm qua phao hút dầu (2) Phao (2) có lưói chắn để lọc sơ bộnhững tạp chất có kích thước lớn Ngoài ra phao có khớp tùy động nên luôn luônnổi trên mặt thoáng để hút được dầu, kể cả khi động cơ bị nghiêng Sau bơm,dầu có áp suất cao (có thể đến 10 kG/cm2) chia thành hai nhánh Một nhánh đếnkét (12), tại đây dầu được làm mát rồi trở về cacte Nhánh kia đi qua bầu lọc thô(5) đến đường dầu chính (8) Từ đường dầu chính, dầu theo đường nhánh (9) đibôi trơn trục khuỷu sau đó lên bôi trơn đầu to thanh truyền và chốt pittông vàtheo đường nhánh (10) đi bôi trơn trục cam Cũng từ đường dầu chính mộtđường dầu khoảng (15 – 20)% lưu lượng của nhánh dẫn đến bầu lọc tinh (11).Tại đây, những phần tử tạp chất rất nhỏ được giữ lại nên dầu được lọc rất sạch.Sau khi ra khỏi lọc tinh với áp suất còn lại nhỏ, dầu chảy về cacte (1)
Các chi tiết quan trọng chịu tải lớn cần được ưu tiên bôi trơn như bạc cổtrục khuỷu, bạc đầu to thanh truyền, các bạc trục cam, các ổ đỡ trục đòn bẩy của
cơ cấu phối khí được bôi trơn bằng áp lực, còn các chi tiết khác như pít tông
Trang 9và mặt gương xi lanh, con đội xu páp, thân xu páp và ống dẫn hướng được bôitrơn bằng dầu vung té.
Hình 1-3 Hệ thống bôi trơn cácte ướt.
1- Cacte dầu; 2- Phao hút dầu; 3- Bơm dầu; 4- Van an toàn bơm dầu; Bầu lọc thô; 6- Van an toàn lọc dầu; 7- Đồng hồ báo áp suất dầu; 8- Đường dầu chính; 9- Đường dầu bôi trơn trục khuỷu; 10- Đường dầu bôi trơn trục cam; 11- Bầu lọc tinh; 12- Két làm mát dầu; 13- Van khống chế lưu lượng dầu qua két làm mát; 14- Đồng hồ báo nhiệt độ dầu; 15- Nắp rót dầu; 16- Thước thăm dầu.
5-Van an toàn (4) của bơm dầu có tác dụng giữ cho áp suất dầu không đổitrong phạm vi tốc độ vòng quay làm việc của động cơ
Khi bầu lọc bị tắc, van an toàn 6 của bầu lọc thô sẽ mở, phần lớn dầu sẽkhông qua lọc thô lên thẳng đường dầu chính đi bôi trơn, tránh hiện tượng thiếudầu cung cấp đến các bề mặt cần bôi trơn
Khi nhiệt độ dầu lên cao quá (khoảng 80oC), do độ nhớt giảm, van khốngchế lưu lượng (13) sẽ đóng hoàn toàn để dầu qua két làm mát rồi lại trở về cacte.Khi động cơ làm việc, dầu bị hao hụt do bay hơi và các nguyên nhân khácnên phải thường xuyên kiểm tra lượng dầu trong cacte bằng thước thăm dầu(16) Khi mức dầu ở vạch dưới phải bổ sung thêm dầu
Trang 10Do toàn bộ dầu bôi trơn chứa trong cacte nên cacte phải sâu để có dungtích chứa lớn, do đó làm tăng chiều cao động cơ Ngoài ra, dầu trong cacte luônluôn tiếp xúc với khí cháy có nhiệt độ cao từ buồng cháy lọt xuống mang theohơi nhiên liệu và các hơi axit làm giảm tuổi thọ của dầu.
1.2.4.2 Hệ thống bôi trơn cacte khô
Hình1-4 Hệ thống bôi trơn cacte khô.
1- Cacte dầu; 2- Bơm chuyển; 3- Thùng dầu; 4- Lưới lọc sơ bộ; 5- Bơm dầu đi bôi trơn; 6- Bầu lọc thô; 7- Đồng hồ báo áp suất dầu; 8- Đường dầu chính; 9- Đường dầu bôi trơn trục khuỷu; 10- Đường dầu bôi trơn trục cam; 11- Bầu lọc tinh; 12- Đồng hồ báo nhiệt độ dầu; 13- Két làm mát dầu.
Hệ thống bôi trơn cácte khô (hình 1-4) khác cơ bản với hệ thống bôi trơncacte ướt ở chỗ, hệ thống có thêm (1) đến (2) bơm dầu chuyển dầu sau khi bôitrơn chảy xuống cacte, từ cacte qua két làm mát (13) ra thùng chứa (3) bên ngoàicacte động cơ Từ đây dầu được lấy đi bôi trơn giống như cacte ướt
Do phần lớn lượng dầu được chứa ở thùng (3) ngoài cacte động cơ nên hệthống bôi trơn cacte khô khắc phục được nhược điểm của hệ thống bôi trơncacte ướt Cụ thể cacte không sâu nên động cơ thấp hơn, tuổi thọ dầu được kéodài nên chu kỳ thay dầu dài hơn Ngoài ra động cơ có thể làm việc lâu dài ở địahình dốc mà không sợ thiếu dầu do phao không hút được dầu Tuy nhiên hệ
Trang 11thống này phức tạp hơn vì có thêm bơm chuyển Hệ thống bôi trơn cacte khôthường được sử dụng cho động cơ điêzel lắp trên xe tăng, thiết giáp, máy ủi,máy kéo, tàu thuỷ, Trên động cơ ôtô thường dùng loại hệ thống bôi trơn đáydầu ướt.
1.2.4.3 Các bộ phận kiểm tra và giữ an toàn cho động cơ
- Đồng hồ áp suất được nối với đường dầu chính để kiểm tra tình hình hoạtđộng của hệ thống, một số hệ thống bôi trơn của một số động cơ còn bố trí thêmđèn báo áp suất dầu
- Mức dầu trong cacte được kiểm tra bằng que thăm dầu khi máy ngừnghoạt động Đầu dưới của que thăm dầu có 2 khấc ngang, mức dầu đủ khi ở khấctrên, khi dầu ở khấc dưới phải bổ sung dầu mới cho động cơ hoạt động
- Trong hệ thống có các van:
Van quá tải (van áp suất) bố trí trên đường ra của bơm dầu, nhằm duy trì ápsuất bơm dầu luôn ở mức quy định Nhằm tránh nứt vỡ đường ống và đảm bảođưa dầu đến các bề mặt ma sát thực hiện nhiệm vụ của hệ thống bôi trơn
Van nhiệt bố trí trên nhánh đường dầu song song với đường dầu qua vàocủa két làm mát dầu Nếu dầu còn lạnh độ nhớt sẽ lớn làm tăng sức cản lưu độngcủa dầu qua két làm mát Nếu sức cản này lớn hơn lực lò xo của van thì van sẽbật mở cho dầu đi tắt đến đường dầu chính không qua két làm mát
Van xả dầu thừa được lắp trên đường dầu chính luôn giữ cho áp suất trênđường dầu chính đảm bảo để dầu bôi trơn dến đầy đủ các mặt ma sát Nếu vượtquá áp suất quy định thì van mở đưa dầu về cacte Khi động cơ còn tốt van nàythường hé mở ở mức độ nhất định
Ngoài ra trên các bầu lọc còn có các van thông qua, các van này mở khicác bầu lọc bị tắc hoặc khả năng thông qua kém và một số bộ phận cảnh báokhác
1.3 Kết cấu một số bộ phận chủ yếu của hệ thống bôi trơn
1.3.1 Bầu lọc dầu bôi trơn
Trang 12Trong quá trình làm việc, dầu bôi trơn động cơ bị phân hủy và nhiểm bẩnbởi nhiều loại tạp chất như: Mạt kim loại do các ma sát mài mòn Các tạp chất
có lẫn trong khí nạp như cát, bụi… Các tạp chất này theo không khí nạp vào xylanh, và buồng trục khủu rồi lẫn với dầu bôi trơn Muội than sinh ra trong cácquá trình cháy không tốt hoặc do dầu bôi trơn cháy bám trên xy lanh, theo dầubôi trơn xuống đáy dầu vv…
1.3.1.1 Nhiệm vu.
Lọc sạch tạp chất, bụi bẩn có lẫn trong dầu bôi trơn, để đảm bảo tính năng
lý hóa của dầu bôi trơn
1.3.1.2 Phân loại
Dựa vào mức độ lọc có thể chia thành 2 loại: - Bầu lọc thô, Bầu lọc tinh
Dựa vào kiểu, phương pháp lọc có thể chia thành: Bầu lọc thấm, Bầu lọc ly tâm
1.3.1.3 Yêu cầu
- Lọc sạch, Lực cản bầu lọc nhỏ, Dễ bố trí, chăm sóc, bảo dưỡng
Bầu lọc có thể lắp trực tiếp hoặc theo mạch rẽ với đường dầu Khi lắp trựctiếp, 100% dầu đều phải qua lọc, vì vậy sức cản của loại bầu lọc này không đượcquá lớn, độ chênh lệch áp suất trước và sau bầu lọc thường không được vượt quá0,1 MN/m2 (1 kG/cm2) Loại bầu lọc này chỉ được lọc các cặn bẩn có kích thướclớn hơn 0,03mm, vì vậy thường được gọi là bầu lọc thô Các bầu lọc tinh thườngphải lắp mạch rẽ vì sức cản bầu lọc rất lớn Lượng dầu phân nhánh của bầu lọctinh không được vượt quá 20% lượng dầu bôi trơn toàn mạch Các loại lọc tinh
có thể lọc sạch các tạp chất có kích thước rất nhỏ (0,1µ
m) Sau khi lọc tinh dầuthường trở về đáy dầu
1.3.1.4 Bầu lọc thấm
Bầu lọc thấm hiện nay được dùng khá phổ biến Khi làm việc dầu bôi trơn
có áp suất cao chui qua (thấm qua) các khe lọc nhỏ (khe có kích thước ≈ 0,1µ
Trang 13m) của phần tử lọc, do đó các tạp chất có đường kính hạt lớn hơn kích thước khelọc đều bị giữ lại vì vậy dầu được lọc sạch.
Phần tử lọc của bầu lọc thấm có thể là các tấm lọc kim loại, các dải lọc kimloại quấn quanh ống lõi; hoặc bằng giấy xốp, len, dạ…
Thông thường bầu lọc thô kiểu thấm dùng phần tử lọc là các tấm lọc kimloại, dải lọc kim loại, lưới lọc, những phần tử lọc loại này có khe hở lớn nhưng
có ưu điểm độ bền cao, dễ chăm sóc bảo dưỡng không phải thay lõi
Hình 1-6 Nguyên lý bầu lọc thấm lõi lọc bằng da dùng làm lọc tinh.
1- Thân bầu lọc; 2- Đường dầu vào; 3- Lõi lọc bằng da; 4- Nắp bầu lọc; 5- Đường dầu ra; 6- Trục bầu lọc.
Hình 1-7 Nguyên lý bầu lọc thấm tấm lọc kim loại dùng làm lọc thô.
1-Nắp bầu lọc; 2- Đường dầu ra; 3- Thân bầu lọc; 4- Đường dầu vào; Phiến lọc; 6- Phiến gạt; 7- Phiến cách.
Trang 145-Hình 1-8 Nguyên lý lọc thấm dùng lưới lọc.
1- Thân bầu lọc; 2- Đường dầu vào; 3- Nắp bầu lọc; 4- Đường dầu ra; Phần tử lọc; 6- Lưới của phần tử lọc.
5-Trên hình 1-9 giới thiệu bầu lọc thấm dùng tấm lọc kim loại
Hình 1-9 Kết cấu bầu lọc thô lọc thấm dùng tấm lọc kim loại.
1 và 2- Tấm lọc; 3- Trục lõi lọc; 4- Tấm gạt cặn bẩn; 5- Trục tấm gạt; Van an toàn; 7- Khoang chứa dầu sạch; 8- Đường dầu vào lọc; 9- Tay gạt.
Trang 156-Hình 1-10 Kết cấu bầu lọc dầu kiểu thấm ở động cơ KAMAZ-740.
1- Trục; 2, 13- Tấm đệm; 3- Nút có từ tính; 4- Vỏ; 5,7- Vòng hãm; 8- Long đen; 9- Cốc làm kín; 10- Đệm làm kín; 11- Phần tử lọc; 12- Bạc đỡ; 14- Thân bầu lọc; 15- Đệm; 16- Nắp van; 17- Vít đèn báo hiệu bầu lọc tắc; 18- Tiếp điểm tinh của công tắc đèn báo; 19- Đệm điều chỉnh; 20- Lò xo van; 21- Thân công tắc; 22- Tiếp điểm động của công tắc đèn báo; 23- Van an toàn; 24- Nút; 25- Lỗ
để dầu ra; 26- Cửa sổ để dẫn dầu vào từ khoang bơm của bơm dầu.
Phần tử lọc (lõi lọc) gồm các tấm (1) và (2) sắp xếp xen kẽ nhau tạo thànhkhe lọc có kích thước bằng chiều dài của các tấm (2) Các tấm (1) và (2) lắp trêntrục (3), các tấm gạt (4) lắp trên trục (5) cố định trên nắp bầu lọc, khi động cơlàm việc dầu bẩn theo đường (8) vào không gian phía dưới của bầu lọc Dầu bôitrơn có áp suất cao chui qua khe lọc (theo chiều mũi tên trên hình vẽ) rồi lênkhoang (7) sau đó đi bôi trơn Khi xoay tay gạt (9) trên trục (3), lõi lọc quaytheo nên các phiến gạt (4) sẽ gạt sạch các tạp chất bám phía ngoài lõi lọc Nếulõi lọc bị tắc dầu bôi trơn không qua lọc được, lúc này dưới tác dụng của áp suấtdầu bôi trơn, van an toàn (6) mở ra để dầu bôi trơn đi thẳng vào đường dầu
Trang 16chính Loại bầu lọc thấm dùng tấm lọc kim loại thường dùng làm bầu lọc thô,lắp nối tiếp trên mạch dầu chính.
Nếu bầu lọc thấm dùng để lọc tinh thì phần tử lọc thường làm bằng len, dạ,giấy vv… ưu điểm là lọc sạch nhưng có nhược điểm là lực cản lớn, lưu lượngthông qua nhỏ, định kỳ thay thế, thường áp dụng trên xe đời mới Để đảm bảolưu lượng thông qua thì bầu lọc thường được chế tạo sao cho diện tích lọc đủlớn, hoặc dùng hai bầu lọc lắp song song
Trên hình (1-10) Giới thiệu bầu lọc kiểu thấm dùng trên động cơ
KamAz-740 Hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ-740 có hai bầu lọc tinh toàn phầnvới lõi lọc bằng bột gỗ thay thế được và một bầu lọc li tâm
Khả năng lọc tốt hơn nhiều so với loại lọc thấm dùng lõi lọc
Tính năng lọc ít phụ thuộc vào mức độ cặn bẩn lắng đọng trong bầu lọc.Khả năng thông qua không phụ thuộc vào số lượng tạp chất lắng đọngtrong bầu lọc
+ Nhược điểm: Cấu tạo phức tạp, khó bố trí
Tuỳ theo cách lắp bầu lọc ly tâm trong hệ thống bôi trơn người ta phân nóthành 3 loại: Bầu lọc ly tâm không hoàn toàn; Bầu lọc ly tâm hoàn toàn; Bầu lọc
ly tâm lắp bù
a Bầu lọc ly tâm không hoàn toàn
Trong hệ thống bôi trơn dùng lọc ly tâm không hoàn toàn thì bầu lọc ly tâmlắp song song với đường dầu chính bôi trơn Thường thì có một ngăn bơm dầucung cấp dầu riêng cho bầu lọc (như động cơ ZMZ-66)
Trang 17Dầu từ bơm vào đường dầu chính có thể lẫn dầu bẩn, không phải hoàn toàn
là dầu sạch
Dầu sau khi được bầu lọc dầu lọc sạch được phun qua lỗ phun rồi trở vềđáy dầu Cấu tạo của bầu lọc dầu loại này được giới thiệu trên hình vẽ (1-12)(dùng trên động cơ ZMZ-66)
Hình 1-11 Sơ đồ hệ thống bôi trơn dùng lọc ly tâm không hoàn toàn.
1, 2- Bơm dầu; 3- Bầu lọc ly tâm không hoàn toàn.
- Cấu tạo (hình 1-12)
Bầu lọc được lắp trên cụm nạp của động cơ thông qua trục bầu lọc (1) vặnren vào cụm nạp, phía trên là ốc tai hồng (14) và vỏ (9) bằng dập bằng thép.Rôto gồm có vỏ (8), đế rôto (6), ống chụm (7)
Rô to được giữ và quay trơn trên trục (1) nhờ ổ bi cầu chặn (2) Cả cụm rô
to được lắp chặt với nhau nhờ mối ghép ren giữa đai ốc chụp (12) và đầu mútcủa trục đế rôto Giữa vỏ và đế rô to có đệm làm kín bằng cao su Phía dưới đế
rô to có hai lỗ phun dầu, hai lỗ này bố trí ngược chiều nhau
Đầu dưới trục bầu lọc (1) được khoan rỗng và có ren ngoài để ăn ren vớicụm nạp, ở giữa có tiết diện thay đổi và có các lỗ khoan hướng kính để dẫn dầubôi trơn, đầu trên của trục có ren để ăn ren với ốc hãm
+ Nguyên lý hoạt động.
Trang 18Khi động cơ làm việc, dầu từ ngăn dưới tới lỗ khoan rỗng của trục bầu lọc,qua hai lỗ khoan hướng kính trên trục bầu lọc, qua lỗ khoan trên trục đế rôtođiền đầy khoang chứa dầu trước khi lọc (là khoang giới hạn bởi mặt trong vỏrôto, đế rôto và phía ngoài ống chụp), lên phía trên, chui qua lưới lọc (10) vàokhông gian dầu sau lọc (là khoang không gian giữa mặt trong của ống chụp (7)
và phía ngoài trục đế bầu lọc) xuống dưới 2 lỗ phun rồi phun ra ngoài Khi dầuphun ra, phản lực của nó tác dụng lên đế rôto tạo thành ngẫu lực làm đế rôtoquay với tốc độ có thể đạt (5000÷6000) vg/ph làm dầu trong rôto quay theo,dưới tác dụng của lực ly tâm, những cặn bẩn có trọng lượng lớn hơn dầu bị văng
xa tâm và bám chặt vào mặt trong vỏ rôto, ở khu vực gần tâm quay là dầu sạch.Dầu sạch tiếp tục lên trên chui qua lưới lọc, xuống dưới để phun ra 2 lỗ phun rồitrở về đáy dầu
Theo định kỳ bảo dưỡng cặn bẩn bám trong vỏ rôto sẽ được làm sạch
Trang 19Hình 1-12 Kết cấu bầu lọc dầu ly tâm bán toàn phần của động cơ ZMZ-66.
1- Trục bầu lọc; 2- Ổ bi cầu chặn; 3- Vòi phun; 4- Đế bầu lọc (cụm nạp động cơ); 5- Đệm làm kín; 6- Đế rôto; 7- Ống chụm; 8- Vỏ rôto; 9- Vỏ bầu lọc; 10- Lưới lọc; 11- Đệm làm kín; 12- Đai ốc chụp; 13- Đai ốc hãm; 14- Ốc hãm.
b Bầu lọc dầu ly tâm hoàn toàn.
Trong hệ thống bôi trơn lọc ly tâm hoàn toàn, bầu lọc lắp nối tiếp trênmạch dầu như sơ đồ trên hình (1-13) do đó toàn bộ dầu bôi trơn do bơm dầucung cấp đều đi qua bầu lọc
Trang 20Hình 1-13 Sơ đồ hệ thống bôi trơn dùng lọc ly tâm hoàn toàn.
1- Bơm dầu kiểu bánh răng; 2- Bầu lọc ly tâm; 3- Van an toàn.
Hình 1-14 Sơ đồ cấu tạo bầu lọc ly tâm toàn phần
1- Đế bầu lọc; 2- Đường dầu về cacte; 3- Dầu từ bơm đến; 4- Van thông qua; 5- Đường dầu đi bôi trơn; 6- Ổ bi chặn; 7- Rôto; 8- Thân bơm; 9- Vít chặn; 10- Trục; 11- Lỗ tia phun.
Hình (1-14) trình bày nguyên lý cấu tạo bầu lọc ly tâm toàn phần Dầu có
áp suất cao theo đường (3) vào rôto (7) của bầu lọc Rôto được lắp trên vòng bi
đỡ (6) và trên rôto có các lỗ phun (11) Dầu trong rôto khi phun ra các lỗ phun
11 tạo ra ngẫu lực làm quay rôto với tốc độ có thể đạt tới 5000- 6000 vg/ph sau
đó chảy trở về cacte theo đường 2 Dưới tác dụng của phản lực, rôto bị nâng lên
và tỳ vào vít điều chỉnh 9 Do ma sát với bề mặt trong của rôto nên dầu cũng
Trang 21quay theo Căn bẩn có trong dầu có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng của dầu sẽ văng ra
xa sát vách rôto (theo dạng đường parabol), nên dầu càng gần tâm rôto càngsạch Dầu sạch theo đường ống 10 đến đường 5 đi bôi trơn
Hình 1-15 Nguyên lý bầu lọc ly tâm toàn phần
1- Đế bầu lọc; 2- Lỗ tia phun; 3- Rãnh dẫn dầu;4, 5- Lỗ thông;
6-Đệm; 7- Trục rỗng; 8- Rôto; 9- Rãnh dẫn dầu sạch; 10- Jiclơ; R- Các thành phần phản lực ở lỗ tia; L- Khoảng cách giữ các thành phần phản lực.
- Cấu tạo, nguyên lý hoạt động của bầu lọc ly tâm toàn phần lắp trên động cơ ZIL-130 (hình 1-16).
Cấu tạo:
Bầu lọc ly tâm hoàn toàn xe ZIL-130 (hình 1-16)