1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập nhóm hình sự 2

6 517 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 79,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời Trả lời: Hành vi của A cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tình tiết định khung tăng nặng là làm chết người theo Điểm a, Khoản 4 Điều

Trang 1

Đề bài: A (17 tuổi) và B (18 tuổi) có mâu thuẫn từ trước nên hẹn nhau lên bờ

đê để “nói chuyện” Do không giải quyết được mâu thuẫn, A, B to tiếng cãi nhau rồi đánh nhau Khi A, B đánh nhau, A xô mạnh làm B bị trượt chân ngã đập đầu xuống đường và tử vong

1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A.

Trả lời Trả lời: Hành vi của A cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tình tiết định khung tăng nặng là làm chết người theo Điểm a, Khoản 4 Điều 134 BLHS

Trước tiên, “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong

Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” (khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 sửa đổi,

bổ sung 2017)

Trên cơ sở đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác Thực chất

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hai tội được quy định trong một điều luật tuy nhiên do hành vi và hậu quả của chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên hai tội này được các nhà làm luật xếp vào cùng một điều luật

Để xác định được tội danh đối với hành vi phạm tội của A chúng ta cần hiểu dấu hiệu pháp lí của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói chung

Thứ nhất, Khách thể của tội phạm là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức

khỏe của con người

Trang 2

Thứ hai, Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái

Hành vi khách quan là hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đó là các hành vi có khả năng gây thương tích hoặc tổn thương khác làm tổn hại đến sức khỏe của con người Những hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội ( đâm, chém…) hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội,…

Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích và hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ nhân thân,

quyền được bảo vệ về sức khỏe con người Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất, hậu quả thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác

Trong yếu tố mặt khách quan của tội phạm thì hậu quả thiệt hại là do hành vi

khách quan gây ra Giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại phải có quan hệ nhân quả với nhau Hành vi của người phạm tội được thực hiện do cố ý, tức là nhận

thức rõ được hành vi của mình nhất định hoặc có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác, mong muốn hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy

ra So với tội giết người thì cố ý gây thương tích mức độ nguy hiểm thấp hơn vì người phạm tội chỉ mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe chứ không mong muốn nạn nhân chết

Thứ ba, Chủ thể của tội phạm là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

theo luật định Tuy nhiên, chủ thể từ 14 tuổi đến 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3-4 và khoản 5 điều này

Thứ tư, Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý Có thể là lỗi cố ý trực tiếp

hoặc cố ý gián tiếp Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là có thể gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra đó xảy ra Ở dây, người phạm tội chỉ có ý thức và mong muốn để mặc cho hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe xảy ra chứ không phải hậu quả chết người

Trang 3

Trong tình huống trên, A và B có mâu thuẫn từ trước nên hẹn nhau lên bờ đê

để “nói chuyện” Do không giải quyết được mâu thuẫn, A và B to tiếng cãi nhau rồi đánh nhau Khi A, B đánh nhau, A xô mạnh làm B bị trượt chân ngã đập đầu xuống

đường và tử vong Các hành vi của A trong tình huống trên đã cấu thành tội cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tình tiết định khung tăng nặng là làm chết người theo Điểm a, Khoản 4 Điều 134 BLHS

* Mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan: Do không giải quyết được mâu thuẫn nên A và B đã to tiếng cãi nhau rồi dẫn tới đánh nhau Hành vi của A được thực hiện do cố ý, tức là

A nhận thức rõ được hành vi của mình nhất định hoặc có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho B Hay chúng ta có thể hiểu trong quá trình hòa giải A va

B không giải quyết được mâu thuẫn và dẫn tới đánh nhau A mong muốn cho B bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe chứ không mong muốn B chết

Hậu quả của tội phạm: Khi A, B đánh nhau, A xô mạnh làm B bị trượt chân ngã đập đầu xuống đường và tử vong Như vậy, A

- Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả: đây là một dấu hiệu quan trọng trong CTTP của tội này Trong tình huống trên, A đã có hành vi đánh nhau gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người Hậu quả này do chính hành vi của A gây ra

* Mặt chủ quan của tội phạm

Khi A, B đánh nhau, A xô mạnh làm B bị trượt chân ngã đập đầu xuống đường và tử vong Như vậy, lỗi của A trong tình huống trên là cố ý trực tiếp A nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây thương tích hoặc tổn hại cho B nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra là làm B bị thương Hành động A xô mạnh B làm B bị trượt chân ngã đập đầu xuống đường và tử vong là hành vi nằm ngoài ý chí của A Hay có thể hiểu về ý chí A mong muốn gây thương tích cho B nhưng B bị trượt chân ngã đập đầu xuống đường và tử vong là hậu quả xảy ra vô ý nằm ngoài ý chí của A

Trang 4

A có đủ điều kiện chủ quan về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự Lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp Khi thực hiện hành vi gây thương tích dẫn đến cái chết của B, A đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm A cũng nhận thức được hậu quả của hành vi đó là sẽ gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tính mạng của B Mặc dù nhận thức được như vậy nhưng A vẫn đánh B và mong muốn cho B bị thương vì mâu thuẫn không thể giải quyết Thương tích dẫn đến chết người trước hết là thương tích nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích này, nghĩa là giữa thương tích khi bị đập đầu xuống đường

và cái chết của B cũng có quan hệ nhân quả

Từ những phân tích trên, so sánh với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định trong Điều 134 BLHS có đủ cơ sở kết luận A đã phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác với tình tiết định khung tăng nặng là làm chết người theo Khoản 4, Điều 134 BLHS

Với tội danh như trên, khung hình phạt mà A phải chịu là phạt tù từ 07 đến

14 năm theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 134 BLHS

Câu 2

Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là 10 năm 6 tháng

Theo Điều 30 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.”

“Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội

mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.” (Điều 31 BLHS năm 2015, sửa

đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 5

Trong những trường hợp nhất định đối với người được xem là tội phạm, tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi – người chưa phát triển đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình

độ nhận thức và kinh nghiệm sống…Bộ luật Hình sự Việt Nam đã có những quy định riêng đối với vấn đề TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội

Theo luật Hình sự Việt Nam thì bao giờ khi xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đều tuân theo những nguyên tắc nhất định quy định tại khoản 1 Điều 91 BLHS:

“Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp họ sữa chửa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi,khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân

và điều kiện gây ra tội phạm.”

Theo như phân tích ở đầu bài, A đã 17 tuổi nên A phải chịu TNHS về mọi tội phạm

mà mình gây ra

Trong tình huống nêu trên, hành vi của A đã cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác với tình tiết tăng nặng là làm chết người theo Điểm a Khoản 4 Điều 134:

Từ những tình tiết trong tình huống nêu trên ta có thể thấy A không có các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại Điều 51 BLHS cũng như không được miễn TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLHS Vì theo quy định tại điểm a,

khoản 2 Điều 91: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng” thì sẽ được miễn TNHS nhưng còn có ngoại lệ đó là “trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này” Tội của A thuộc trường hợp quy định tại Điều 134, đối chiếu với khoản 1

Điều 9 BLHS 2015 là tội rất nghiêm trọng

Theo điểm a, khoản 4, Điều 134 thì khung hình phạt là từ 07 đến 14 năm, vậy hình phạt nặng nhất đối với tội này là 14 năm Tuy nhiên, A mới 17 tuổi, chưa đủ

Trang 6

18 tuổi, tại Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 có quy định: “Đối với người từ

đủ 16 đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất không quá 18 năm thì; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần

tư mức phạt tù mà điều luật quy định.” Vậy mức án cao nhất mà A có thể phải chịu

đối thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác với tình tiết tăng nặng là làm chết người của mình đó là: ¾ x 14 năm Như vậy mức án

cao nhất mà A phải chịu đó là 10 năm 6 tháng.

Đối chiếu với khoản 1 Điều 103: “Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.” Như vậy, theo quy định

trên thì mức hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu đối với hành vi phạm tội

nêu trên đó là 10 năm 6 tháng

Câu 3:

Ngày đăng: 07/11/2018, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w