1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Suy tuyến thượng thận

6 250 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 360,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một thời gian dài dùng glucocorticoid nếu ngưng thuốc thì vỏ thượng thận bị ức chế không tiết ra cortisol gây cho bệnh nhân triệu chứng của suy thượng thận.. CƠ CHẾ SỰ ỨC CHẾ TRỤC HẠ

Trang 1

Trần Quang Nam* 

Một  trong  những  tác  dụng  phụ  quan  trọng 

do điều trị bằng glucocorticoid là ức chế trục hạ 

đồi  –  tuyến  yên  –  tuyến  thượng  thận  (HĐ‐TY‐

TTT) hay còn gọi tình trạng suy thượng thận thứ 

phát sau dùng glucocorticoid. Sau một thời gian 

dài dùng glucocorticoid nếu ngưng thuốc thì vỏ 

thượng thận bị ức chế không tiết ra cortisol gây 

cho bệnh nhân triệu chứng của suy thượng thận. 

Do  tình  trạng  lạm  dụng  glucocorticoid  ngày 

càng  phổ  biến,  hiện  nay  gặp  nhiều  bệnh  nhân 

xuất  hiện  tác  dụng  phụ  suy  thượng  thận  do 

dùng glucocorticoid.  

CƠ  CHẾ  SỰ  ỨC  CHẾ  TRỤC  HẠ  ĐỒI  ‐ 

TUYẾN  YÊN  ‐  THƯỢNG  THẬN  DO 

GLUCOCORTICOID  

Suy  thượng  thận  do  điều  trị  bằng 

glucocorticoid là nguyên nhân thường gặp nhất 

trong các nguyên nhân của suy thượng thận thứ 

phát,  xảy  ra  do  glucocorticoid  ức  chế  vùng  hạ 

đồi  tuyến  yên  làm  giảm  ACTH 

(Adrenocorticotropic  hormon).  Giai  đoạn  sớm 

nồng  độ  nền  của  ACTH  và  cortisol  có  thể  bình 

thường. Tuy nhiên lúc này dự trữ của ACTH đã 

bị suy giảm, khi có stress thì đáp ứng tiết cortisol  cũng không đủ. Sự thiếu ACTH kéo dài sẽ làm  vùng bó và lưới của vỏ thượng thận sẽ bị teo, do 

đó làm giảm tiết cortisol và androgen của tuyến  thượng thận, trong khi đó sự tiết aldosteron bình  thường. Đến giai đoạn này toàn bộ trục hạ đồi‐ tuyến  yên‐thượng  thận  sẽ  bị  suy  yếu,  do  đó  giảm  đáp  ứng  tiết  ACTH  khi  có  stress  và  khi  dùng thích thích ACTH ngoại sinh thì đáp ứng  của  thượng  thận  tiết  cortisol  cũng  suy  giảm(1,6,7,8). 

Các  mức  độ  ức  chế  trục  HĐ‐TY‐TTT  do  glucocorticoid  ngoại  sinh  có  thể  gặp  từ  nhẹ  tới  nặng với các mức độ như sau(4): 

Không ức chế trục HĐ‐TY‐TTT. 

Chỉ ức chế hạ đồi, tuyến yên. 

Ức chế toàn bộ trục HĐ‐TY‐TTT làm teo vỏ  thượng thận chức năng: đây là tình trạng ức chế  mạnh  nhất  của  glucocorticoid  lên  trục  HĐ‐TY‐ TTT. 

Tùy  tình  trạng  mà  bệnh  nhân  có  các  xét  nghiệm thay đổi khác nhau được tóm tắt trong  bảng 1. 

Bảng 1. Các nghiệm pháp xác định quá trình tiến triển của suy thượng thận do glucocorticoid ( 4 )  

Nghiệm pháp Không ức chế trục HĐ-TY-TTT Ức chế hạ đồi,

tuyến yên Teo vỏ thượng thận chức năng

Sự  ức  chế  thượng  thận  khi  dùng 

glucocorticoid có thể xảy ra mà không có tình 

trạng  hạ  huyết  áp.  Suy  thượng  thận  thứ  phát 

do  dùng  glucocorticoid  thường  có  tình  trạng 

huyết áp thấp. Tình trạng ức chế tuyến thượng 

thận thường hay gặp hơn là suy thượng thận, 

nó  dễ  chuyển  thành  suy  thượng  thận  rõ  rệt, 

đặc biệt hay gặp trong tình huống phẫu thuật 

hay gây mê. 

BIỂU  HIỆN  CỦA  SUY  THƯỢNG  THẬN  THỨ PHÁT DO GLUCOCORTICOID  

Do dùng glucocorticoid ngoại sinh nên bệnh  nhân  có  những  biểu  hiện  sau:  (1)  hội  chứng  Cushing ngoại sinh; (2) Về mặt chức năng thì có  thể  sẽ  có  biểu  hiện  suy  thượng  thận khi  ngưng 

* Bộ môn Nội tiết, ĐH Y Dược Tp Hồ Chí Minh.  

Trang 2

Hội chứng Cushing ngoại sinh 

Giống như hội chứng Cushing do tăng tiết 

cortisol nội sinh, cũng có 1 số khác biệt về lâm 

sàng.  

Nếu dùng liều cao glucocorticoid bệnh nhân 

nhanh có biểu hiện rõ rệt hơn so với hội chứng 

Cushing  nội  sinh.  Triệu  chứng  kinh  điển  như 

tăng  cân,  mặt  tròn,  béo  phì  trung  tâm,  mỡ  tập 

trung  vùng  gáy,  cổ.  Mặt  đỏ,  da  mỏng,  dễ  bầm 

máu,  rạn  da,  yếu  cơ  vùng  gốc  chi.  Vết  thương 

khó lành, dễ nhiễm trùng và xơ vữa động mạch. 

Có thể bị rối loạn tâm thần(1,3). 

Tăng tần suất bị tăng huyết áp, tùy theo hoạt 

tính giữ muối của chế phẩm glucocorticoid đang 

dùng. Có thể tăng huyết áp và hạ kali máu hơi ít 

bị hơn so với hội chứng Cushing nội sinh. Triệu 

chứng  rậm  lông  và  nam  hóa  cũng  ít  hơn.  Tăng 

nhãn áp và đục thủy tinh thể dưới bao phía sau 

hay  gặp  hơn.  Ngoài  ra,  hoại  tử  đầu  xương  vô 

trùng hay gặp hơn so với hội chứng Cushing nội 

sinh.  Loãng  xương  là  một  biến  chứng  nặng 

thường  gặp  và  gây  cản  trở  khi  muốn  điều  trị 

glucocorticoid lâu dài(1,3). 

Chẩn  đoán  Cushing  do  thuốc  thường  dễ 

dàng  khi  bệnh  nhân  đang  dùng  glucocorticoid 

toàn thân. Tuy nhiên thường khó phát hiện khi 

dùng  glucocorticoid  tại  chỗ  (hít,  tiêm  trong 

khớp). Nếu nghĩ tới khả năng bệnh nhân có hội 

chứng  Cushing  ngoại  sinh  thì  làm  xét  nghiệm 

chẩn  đoán  rất  đơn  giản.  Nồng  độ  cortisol  nội 

sinh sẽ bị ức chế, đây là biểu hiện của tình trạng 

suy  thượng  thận  thứ  phát  sau  dùng 

glucocorticoid(1,3).  

Đa  số  trường  hợp  dùng  glucocorticoid  có 

nguồn gốc rõ ràng để điều trị bệnh lý (bệnh tự 

miễn, bệnh ác tính…). Tuy nhiên rất nhiều bệnh 

nhân  có  biểu  hiện  Cushing  nhưng  dùng 

glucocorticoid nguồn gốc không rõ, có thể chứa 

trong các loại thuốc mà họ tự uống, thường gặp 

nhất là thuốc gia truyền không được kiểm duyệt. 

Những bệnh nhân này thường không thừa nhận 

việc  dùng  thuốc  hoặc  bản  thân  họ  cũng  không 

biết  trong  các  chế  phẩm  mà  họ  sử  dụng  có  glucocorticoid(1,3). 

Megestrol  acetat  cũng  có  hoạt  tính  glucocorticoid, đây là thuốc dùng trong điều trị  suy kiệt do bệnh AIDS, ung thư vú, ung thư tử  cung, ung thư tuyến tiền liệt. Nó có thể gây hội  chứng Cushing, suy thượng thận và tăng đường  huyết.  Vì  bác  sĩ  thường  không  nghĩ  rằng  thuốc  này  có  hoạt  tính  glucocorticoid  nên  khi  kê  đơn  không chú ý tới các tác dụng phụ có thể gây ra  cho bệnh nhân. 

Suy thượng thận mạn thứ phát 

Có 3 vấn đề thường xảy ra khi ngưng hay  giảm  liều  dùng  glucocorticoid:  (1)  Trục  HĐ‐ TY‐TTT  bị  ức  chế  gây  suy  thượng  thận  thứ  phát;  (2)  Bệnh  lý  nền  nặng  lên;  (3)  Hội  chứng  ngưng thuốc. 

Biểu hiện lâm sàng suy thượng thận thứ phát  

Có  nhiều  triệu  chứng  và  dấu  hiệu  của  suy  thượng  thận  thứ  phát  và  suy  thượng  thận  nguyên phát giống nhau. Đa số các triệu chứng  của thiếu cortisol đều không đặc hiệu và xảy ra 

từ từ như mệt, yếu, suy nhược, chóng mặt tư thế,  sụt cân, và chán ăn. Bệnh nhân có thể đến khám 

vì triệu chứng tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu  chảy, đau bụng. Hạ huyết áp tư thế xảy ra trong  suy  thượng  thận  thứ  phát  do  corticoid  là  do  giảm  đáp  ứng  của  các  thụ  thể  catecholamin.  Không có xạm da do ACTH giảm thấp dưới tác  dụng ức chế của glucocorticoid ngoại sinh(8).   Bệnh  nhân  dùng  glucocorticoid  dài  hạn  có  thể biểu hiện với cơn suy thượng thận cấp. Cần  nghĩ đến nguyên nhân suy thượng thận thứ phát 

do  glucocorticoid  nếu  bệnh  nhân  có  tiền  căn  dùng  chế  phẩm  glucocorticoid  nhập  viện  với  tình  trạng  tụt  huyết  áp,  kèm  các  triệu  chứng  buồn  nôn,  nôn,  mệt,  xét  nghiệm  có  natri  máu  giảm.  Hạ  natri  máu  ở  bệnh  nhân  suy  thượng  thận  do  glucocorticoid  có  thể  nguy  hiểm,  natri  máu <120 mEq/L có thể gây lơ mơ, sảng, hôn mê, 

co giật. Những bệnh nhân này đáp ứng kém khi 

bù  dịch,  nhưng  thường  huyết  áp  tăng  sau  khi  tiêm mạch hydrocortisone.  

Trang 3

Xét  nghiệm  máu  có  thể  thấy  đường  huyết 

thấp.  Natri  máu  giảm  do  giảm  cortisol,  tăng 

tiết vasopressin, và giữ nước. Kali máu không 

tăng vì không có giảm aldosterone. Tuy nhiên 

sự thay đổi của các chỉ số sinh hóa này không 

đặc hiệu nên không chẩn đoán xác định được 

về  chức  năng  vỏ  thượng  thận.  Do  đó  cần  làm 

xét  nghiệm  đo  cortisol  huyết  tương  tĩnh  hoặc 

nghiệm  pháp  động  để  chẩn  đoán.  Cần  đảm 

bảo  bệnh  nhân  không  dùng  glucocorticoid 

ngoại sinh khi đo cortisol để chắc chắn cortisol 

đo được là do vỏ thượng thận sản xuất ra. Nói 

chung  phải  ngưng  thuốc  glucocorticoid  trước 

24‐48 giờ trước khi đo cortisol máu. Trên thực 

hành lâm sàng thường ngưng prednisone hoặc 

hydrocortisone  1  ngày  trước  khi  đo  cortisol 

hay làm nghiệm pháp động(4,8). 

+ Cortisol huyết tương buổi sáng 

Nếu cortisol sáng rất thấp <3 mcg/dL có thể 

chẩn đoán suy thượng thận(2). Nếu cortisol tăng 

cao > 20 mcg/dL có thể loại trừ suy thượng thận. 

Tuy nhiên, trên thực tế cortisol máu có thể có kết 

quả  trong  giới  hạn  “bình  thường”  nhưng  biểu 

hiện lâm sàng có gợi ý là thiếu cortisol thì không 

thể kết luận được mà cần phải làm nghiệm pháp 

động kích thích thượng thận(4,8). Nếu trong tình 

huống  bệnh  nhân  bị  chấn  thương  nặng,  bệnh 

nặng đặc biệt là bị sốt và tụt huyết áp là những 

stress  nặng  cấp  tính,  nếu  đo  cortisol  máu  <  20 

mcg/dL  có  thể  xem  như  bị  suy  thượng  thận.  Ở 

những bệnh nhân ngoại trú ổn định thì cần làm 

nghiệm pháp động kích thích đánh giá trục HĐ‐

TY‐TTT(7,8,10).  

+ Nghiệm pháp Synacthen (ACTH) tác dụng ngắn 

250mcg 

Là  nghiệm  pháp  thường  được  dùng  nhất 

trong  chẩn  đoán  suy  thượng  thận.  Thực  hiện 

phương  pháp  đo  cortisol  máu  3  lần:  lúc  0  phút 

(trước khi tiêm), sau 30 phút, và sau 60 phút tiêm 

tiêm  bắp  hoặc  tiêm  mạch  Synacthen  liều  250 

mcg. Bình thường cortisol máu > 20 mcg/dL sau 

kích  thích  bằng  tiêm  Synacthen(4).  Vì  nghiệm 

pháp  kích  thích  bằng  ACTH  chỉ  đánh  giá  trực 

tiếp  vỏ  thượng  thận,  do  đó  có  thể  vẫn  cho  đáp  ứng bình thường ở bệnh nhân bị suy tuyến yên, 

hạ đồi mới xảy ra nhưng vỏ thượng thận chưa bị  ảnh  hưởng.  Do  đó  nếu  lâm  sàng  bệnh  nhân  có  triệu  chứng  phù  hợp  suy  thượng  thận,  nhưng  nghiệm  pháp  Synacthen  đáp  ứng  bình  thường  thì  nên  làm  thêm  các  nghiệm  pháp  đánh  giá  chức năng vùng tuyến yên và hạ đồi(11). 

+ Nghiệm pháp hạ đường huyết bằng insulin 

Nghiệm pháp đánh giá trực tiếp vùng hạ đồi  tuyến yên, dùng chẩn đoán xác định dự trữ của  trục  HĐ‐TY‐TTT.  Tiêm  mạch  insulin  tác  dụng  nhanh  (Actrapid  hoặc  Humulin  R)  liều  0,1  tới  0,15 đơn vị/kg làm hạ đường huyết tới mức dưới  40‐45 mg/dL. Hạ đường huyết dưới mức này là  kích thích mạnh làm tăng tiết ACTH và cortisol.  Nồng độ cortisol bình thường phải tăng trên 18‐

20  mcg/dL.  Nếu  không  đạt  được  mức  cortisol  này  thì  xem  như  trục  HĐ‐TY‐TTT  không  đáp  ứng với kích thích. Nghiệm pháp cần phải có bác 

sĩ  theo  dõi  sát  tình  trạng  hạ  đường.  Chống  chỉ  định  khi  bệnh  nhân  có  tiền  căn  co  giật,  bệnh  mạch  vành.  Nghiệm  pháp  nên  thực  hiện  trong  bệnh viện bởi bác sĩ chuyên khoa nội tiết có kinh  nghiệm.  Nhưng  thực tế do  tốn nhiều  thời  gian, 

và cũng có nguy cơ cho bệnh nhân nên cũng ít  được thực hiện thường qui(2,4). 

+ Nghiệm pháp Metyrapone 

Bình thường Metyrapone ức chế men 11 bêta  hydroxylase,  đây  là  men  xúc  tác  quá  trình  chuyển  11‐desoxycortisol  thành  cortisol  (khâu  cuối  của  quá  trình  tổng  hợp  cortisol),  làm  cho  nồng  độ  cortisol máu  giảm  xuống  sẽ  kích thích  sản  xuất  ACTH.  Nồng  độ  11‐desoxycortisol  sẽ  tăng  lên  nhưng  không  có  hoạt  tính  glucocorticoid,  do  đó  nó  không  ức  chế  sự  sản  xuất  ACTH.  Sự  gia  tăng  của  nồng  độ  11‐ desoxycortisol  huyết  tương  hoặc  17‐ hydroxysteroids nước tiểu là dấu hiệu cho thấy 

có sự tăng phóng thích ACTH. Khi người bị suy  thượng  thận  uống  metyrapone  thì  11‐ desoxycortisol  huyết  tương  và  17‐ hydroxysteroids nước tiểu sẽ không tăng. Ở Việt 

Trang 4

Nam  hiện  chưa  có  thuốc  Metyrapone,  do  đó 

không thực hiện được nghiệm pháp này(2). 

+ Nghiệm pháp kích thích bằng CRH (cortico 

releasing hormon):  

  Nghiên  cứu  của  Schlaghecke  và  cộng  sự 

cho thấy nghiệm pháp này có giá trị chẩn đoán 

tương đương với nghiệm pháp hạ đường huyết 

bằng insulin. Tuy nhiên thực tế không có thuốc 

và giá thành cao nên ít được thực hiện(4,9). 

+  Nghiệm  pháp  kích  thích  bằng  ACTH  liều 

thấp 1 mcg: 

Có  khả  năng  đánh  giá  thượng  thận  trong 

trường  hợp  suy  thượng  thận  nhẹ.  Đáp  ứng 

thượng thận bình thường: sau tiêm ACTH bệnh 

nhân  có  đáp  ứng  cortisol  huyết  tương  >=18 

mcg/dL  (500  nmol/L).  Nghiệm  pháp  này  khởi 

đầu được dùng chẩn đoán suy thượng thận thứ 

phát vì liều 1 mcg ACTH gần với sinh lý hơn, do 

đó  khả  năng  sẽ  nhạy  hơn  trong  chẩn  đoán. 

Nghiệm pháp ACTH liều cao 250 mcg có thể bỏ 

sót  chẩn  đoán  suy  thượng  thận  thứ  phát  giảm 

ACTH  một  phần.  Một  số  nghiên  cứu  cho  thấy 

nghiệm  pháp  ACTH  liều  thấp  có  ích  để  chẩn 

đoán suy thượng thận nhẹ ở bệnh nhân hen phế 

quản điều trị bằng hít glucocorticoid(4). 

Các  yếu  tố  ảnh  hưởng  tới  sự  ức  chế  của  trục 

HĐ‐TY‐TTT  

‐  Độ  mạnh  tác  dụng  kháng  viêm  của  các 

thuốc glucocorticoid có liên hệ với nguy cơ gây 

suy  thượng  thận.  Hydrocortisone  (cortisol)  và 

cortisone acetate tác dụng kháng viêm yếu nhất 

nên  cũng  ức  chế  trục  HĐ‐TY‐TTT  ít  nhất. 

Prednisone,  prednisolone,  methylprednisolone 

và  triamcinolone  ức  chế  mức  độ  vừa. 

Dexamethasone  có  tác  dụng  ức  chế  ACTH  dài 

nhất trong các loại thuốc glucocorticoid(3,4,9). 

‐ Liều glucocorticoid cao hơn liều sinh lý khả 

năng ức chế HĐ‐TY‐TTT nhiều hơn(5). 

‐  Đường  dùng  glucocorticoid:  dùng 

glucocorticoid  đường  toàn  thân  có  nhiều  khả 

năng  gây  ức  chế  trục  HĐ‐TY‐TTT  hơn  là  cách 

dùng  tại  chỗ  như  tiêm  trong  khớp,  đường  hít 

hay bôi da. Dùng tại chỗ liều cao cũng có thể gây 

ức chế thượng thận. 

‐ Cách phân phối liều thuốc glucocorticoid: 

Nếu  khoảng  cách  dùng  thuốc  glucocorticoid  gần  nhau  không  có  khoảng  thời  gian  giữa  2  liều  thuốc  dùng  để  giải  phóng  cho  trục  HĐ‐ TY‐TTT phục hồi cũng làm tăng khả năng suy  thượng  thận  do  glucocorticoid.  Nếu  dùng  glucocorticoid  cách  ngày  thì  nguy  cơ  suy  thượng thận cũng ít hơn. Dùng glucocorticoid  vào buổi tối thường gây ức chế đợt tiết ACTH  bình thường vào sáng sớm(3,4).  

‐ Thời gian điều trị kéo dài thì khả năng ức  chế trục HĐ – TY‐ TTT càng nhiều 

Phân biệt hội chứng ngưng thuốc với suy  thượng thận do glucocorticoid 

Hội chứng ngưng thuốc được định nghĩa bởi  Armatruda  và  cộng  sự  mô  tả  năm  1960.  Hội  chứng  này  gồm  có  các  triệu  chứng  không  đặc  hiệu giống suy thượng thận như yếu mệt, chán 

ăn,  buồn  nôn,  đau  cơ  khớp,  nhức  đầu  xảy  ra  ở  bệnh nhân đã giảm liều glucocorticoid và có đáp  ứng bình thường với các nghiệm pháp đánh giá 

dự  trữ  trục  HĐ‐TY‐TTT.  Hội  chứng  này  hiếm  gặp và chưa rõ cơ chế. Triệu chứng có thể liên hệ  với  tăng  nồng  độ  interleukin  –  6  trong  máu.  Thực  hiện  các  nghiệm  pháp  thấy  trục  HĐ‐TY‐ TTT bình thường, do đó bệnh nhân không bị suy  thượng  thận.  Cần  lưu  ý  có  nhiều  bệnh  nhân  lệ  thuộc glucocorticoid về tâm lý, do đó bác sĩ cần  giải thích kỹ cho bệnh nhân để ngưng thuốc(3). 

GLUCOCORTICOID  VÀ  ĐÁNH  GIÁ  CHỨC NĂNG THƯỢNG THẬN 

Về l í thuyết khi dùng glucocorticoid dài hạn  phải giảm liều từ từ giúp tránh bệnh l í cơ bản (ví 

dụ  Lupus  ban  đỏ)  bùng  phát  lại,  mà  còn  giúp  cho  trục  HĐ‐TY‐TTT  phục  hồi  từ  từ  sau  thời  gian bị ức chế. Hiện nay chưa có nghiên cứu xác  định cách giảm liều nào là tối ưu. Phần lớn các  bác sĩ hay dùng glucocorticoid thì có cách giảm  liều từ từ riêng của mình.  

Trang 5

tránh tác dụng phụ của dùng glucocorticoid kéo 

dài  và  tránh  xuất  hiện  suy  thượng  thận  chức 

năng.  Phương  pháp  thông  thường  giảm  chậm 

liều  glucocorticoid  từ  liều  cao  dược  lý  về  liều 

sinh lý (prednisone từ 5 – 7,5 mg, hydrocortisone 

15‐20mg).  Sau  đó  có  thể  chọn  lựa  tiếp  tục  sử 

dụng theo các cách sau:  

Chuyển  sang  dùng  hydrocortisone  có  tác 

dụng ngắn cho phép trục HĐ‐TY‐TTT phục hồi.  

Hoặc  chuyển  sang  dùng  điều  trị  cách  nhật 

dùng  glucocorticoid  tác  dụng  trung  bình:  như 

prednisone dùng buổi sáng cách mỗi 48 giờ. Tuy 

nhiên  một  số  bệnh  nhân  có  thể  thấy  khó  chịu 

trong ngày không có thuốc. 

Khi  tới  giai  đoạn  giảm  liều  này,  có  thể  đo 

cortisol  huyết  tương  8  giờ  sáng  dùng  đánh  giá 

suy thượng thận.  

Nếu  cortisol  huyết  tương  8  giờ  sáng  <3  mcg/dL:  có  suy  thượng thận,  cần  tiếp  tục  dùng  glucocorticoid liều sinh lý.  

Nếu  cortisol  huyết  tương  8  giờ  sáng  >  20mcg/dL:  trục  HĐ‐TY‐TTT  đã  phục  hồi  và  có  thể ngưng glucocorticoid. 

Nếu cortisol huyết tương 8 giờ sáng từ 3 tới  20mcg/dL: có thể cortisol nền đủ nhưng vẫn có  thể  thiếu  khả  năng  đáp  ứng  với  stress.  Những  trường hợp này cần làm nghiệm pháp kích thích  đánh  giá  trục  HĐ‐TY‐TTT  bằng  nghiệm  pháp  kích  thích  bằng  synacthen.  Một  số  trường  hợp  khó  có  thể  dùng nghiệm  pháp  hạ đường  huyết  bằng insulin hoặc CRH. 

Nếu không có điều kiện dùng nghiệm pháp  đánh  giá  trục  HĐ‐TY‐TTT  thì  có  thể  tiếp  tục  giảm liều glucocorticoid. Tuy nhiên cần dặn dò  trong 1  năm  sau  khi  ngưng  bệnh nhân  phải  bù  thêm  glucocorticoid  khi  bị  bệnh  hay  chấn  thương. (xem hình 1) 

 

Hình 1: Hướng dẫn cách ngưng thuốc glucocorticoid.“Nguồn: Hopkins, R. L. & Leinung, M. C. 2005” ( 3 )  

Bước 1: Giảm liều glucocorticoid

Bước 2: Chuyển sang hydrocortisone hoặc dùng

prednisone cách nhật

Bước 3: Đo cortisol huyết tương sáng

mcg/dL

>20 mcg/dL

Suy thượng thận

Tiếp tục dùng glucocorticoid

Đánh giá lại sau 4-6 tuần

Xem xét làm nghiệm pháp:

Nghiệm pháp Synacthen 250mcg Hoặc nghiệm pháp hạ đường huyết bằng insulin

Không suy thượng thận

Có thể ngưng glucocorticoid

Trang 6

Suy  thượng  thận  do  glucocorticoid  là  rối 

loạn  thường  gặp  khi  dùng  glucocorticoid  kéo 

dài.  Bệnh  nhân  có  biểu  hiện  lâm  sàng  là  hội 

chứng  Cushing  do  glucocorticoid,  tuy  nhiên  về 

chức  năng  là  suy  vỏ  thượng  thận.  Trước  khi 

muốn ngưng glucocorticoid sau khi điều trị kéo 

dài thì cần phải đánh giá sự hoạt động của trục 

HĐ‐TY‐TTT  dựa  vào  các  xét  nghiệm  đánh  giá 

cortisol  và  nghiệm  pháp  động  kích  thích  đánh 

giá đáp ứng của vỏ thượng thận.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Androgens”.  In  Greenspanʹs  Basic  &  clinical  endocrinology  (9th 

ed., pp. 285‐327): Mc Graw Hill Lange. 

Laboratory  assessment  of  adrenal  insufficiency”.  J  Clin 

Endocrinol Metab, 79(4), 923‐931. 

syndrome  and  glucocorticoid  withdrawal”.  Endocrinol  Metab 

Clin North Am, 34(2), 371‐384. 

insufficiency”. JAMA, 282(7), 671‐676. 

5 LaRochelle,  GE  Jr.,  LaRochelle  AG,  Ratner  RE  &  Borenstein, 

DG  (1993).  “Recovery  of  the  hypothalamic‐pituitary‐adrenal  (HPA) axis in patients with rheumatic diseases receiving low‐

dose prednisone”. Am J Med, 95(3), 258‐264. 

Practice of Endocrinology and Metabolism 3rd edition on CD‐ROM 

by  Kenneth  L.  Becker  Lippincott  Williams  &  Wilkins 

Publishers. 

Thượng Thận”. In Mai Thế Trạch & Nguyễn Thy Khuê (Eds.), 

Nội Tiết Học Đại Cương (pp. tr.233‐295): Nxb Y Học. TP.Hồ Chí 

Minh. 

335(16), 1206‐1212. 

(1992).  “The  effect  of  long‐term  glucocorticoid  therapy  on  pituitary‐adrenal  responses  to  exogenous  corticotropin‐

releasing hormone”. N Engl J Med, 326(4), 226‐230. 

huyết tương nền buổi sáng trong đánh giá suy chức năng vỏ 

thượng  thận  ở  bệnh  nhân  dùng  corticoid  dài  hạn”.  Y  học 

Thành Phố Hồ Chí Minh, Tập 16, Phụ bản của Số 1, tr. 362‐368. 

pháp Synacthen 250 μg đánh giá dự trữ hạ đồi – tuyến yên – 

thượng  thận  ở  bệnh  nhân  dùng  corticoid  dài  hạn”.  Y  học 

Thành Phố Hồ Chí Minh, Tập 16, Phụ bản của Số 1, tr.369‐375. 

 

 

Ngày đăng: 25/10/2018, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN