Bản chất của Ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Trang 1Giáo trình
Ngân sách nhà nước
Trang 2MỤC LỤC
Giáo trình 1
Ngân sách nhà nước 1
MỤC LỤC 2
Thu NSNN và các giải pháp thực hiện trong năm 2009 29
Bội chi ngân sách Nhà nước: Nên để ở mức an toàn 53
"Năm 2010, không có tỉnh, thành nào được phép không hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước" 58
BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 77
Trang 3NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Bản chất của Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Nhà nước bằngquyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước Điều nàycho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xãhội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sáchNhà nước
Trong thực tế nhìn bề ngoài hoạt động của Ngân sách Nhà nước biểu hiện đa dạngdưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vựchoạt động kinh tế xã hội Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toánthu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Các khoản thumang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính chủyếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong khuvực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất cấp phátphục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội Như vậy, về hình thức có thể hiểu:Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước có trong dự toán, đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảoviệc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của nhà nước
Tuy nhiên, hoạt động của Ngân sách Nhà nước (NSNN) là hoạt động phân phối cácnguồn tài chính của xã hội gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung làNgân sách nhà nước Trong quá trình phân phối đó đã làm nảy sinh các quan hệ tài chínhgiữa một bên là nhà nuớc và một bên là các chủ thể trong xã hội Những quan hệ tài chínhnày bao gồm:
Trang 4*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh tế này phátsinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình thức các loại thuế màdoanh nghiệp phải nộp Đồng thời, Ngân sách chi hổ trợ cho sự phát triển của doanhnghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hổ trợ vốn…
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan hệ này phátsinh trong qúa trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc Ngân sách nhà nước cấpkinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước Đồng thời, trong cơ chế kinh tế thị trường cácđơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này một phầncác đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách, một phần trang trải các khoản chitiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này được thể hiệnqua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc nộpcác khoản thuế, phí, lệ phí Một bộ phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhà nước cáckhoản trợ cấp theo chính sách qui định
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính: Quan hệ này phát sinh khinhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán củakho bạc nhà nước nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầucân đối vốn của ngân sách nhà nước
Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của Ngân sách nhà nước là mộtquỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì Ngân sách nhà nước lại phảnảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối Từ sự phân tích trên cho thấy: Ngânsách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối cácnguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằmthực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là
phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "Ngân sách nhànước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quanniệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa vềngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu Các nhà kinh tếNga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trongmột giai đoạn nhất định của quốc gia Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã đượcQuốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn
bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ củanhà nước
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và pháttriển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhànước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tếhàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sáchnhà nước
Trang 5Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngânsách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ vàcác cơ quan khác ở trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vịhành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân
Quan niệm về ngân sách nhà nước
1 Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trongmột khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
2 Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạchtài chính cơ bản của nhà nước
3 Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quátrình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau
Thực chất, Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nướctiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;
Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nóthể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước;
Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợiích chung, lợi ích công cộng;
Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác Nét khácbiệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nóđược chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho nhữngmục đích đã định;
Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp là chủ yếu
•Vai trò của Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xãhội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sáchnhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với
Trang 6nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắtbuộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết.Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triểnsản xuất kinh doanh Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và
có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triểnvới tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao Vì vậy, Nhà nước trong quá trình quản lýkinh tế - xã hội phải nắm được quy luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế kháchquan Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinhtế
Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được
sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu,trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tănglên
Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và quản lý chiđúng đắn, hợp lý và hiệu quả Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính từ nguồn NSNN đểchi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máyNhà nước Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phảithực hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả Đó cũng là một tất yếu kháchquan
1.Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế
Chúng ta biết rằng, trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động kinh tế, sản xuất kinhdoanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế chủ yếu tuân theo sự điềutiết của các quy luật vốn có của thị trường Nhận thức được điều đó, Nhà nước ta đã cónhững cơ chế, chính sách hạn chế sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạtđộng kinh tế, nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước ta với chức năng củamình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công cụ pháp luật, kế hoạch hoá vàcác chính sách do Nhà nước ban hành tuân theo pháp luật hiện hành do cơ quan quyềnlực cao nhất là Quốc hội ban hành Đó chính là sự đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý củaNhà nước ta: từ chỗ quản lý, điều hành nên kinh tế một cách trực tiếp đến chỗ quản lý và
Trang 7điều hành mọi hoạt động kinh tế- xã hội thông qua việc tạo mọi điều kiện, môi trường,hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền kinh tế phát triển vừa tuân theoqui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm sự định hướng XHCN, nhằm nhanh chóng đạtđược các mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra trong các kỳ đại hội.
Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh tế- xã hội, Nhà nước ta hếtsức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là yếu tố vật chất vô cùng quan trọng trong điềukiện của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Với cơ chế cũ trước đây, Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế vi mô Trong
cơ chế mới- cơ chế thị trường các vấn đề của kinh tế sẽ được giải quyết theo qui luật củathị trường và các quan hệ cung- cầu Nhà nước chỉ dùng các biện pháp về thuế, các khoảnchi ngân sách để can thiệp nhằm ổn định nên kinh tế và phát triển theo mục tiêu đã định
Hoạt động của NSNN gắn với hoạt động của nền kinh tế thị trường, do đó thuNSNN luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhịp độ phát triển kinh tế và hiệu quả kinh tế
Xu hướng chung là khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ làm tăng khả năng tăng khối lượng thu
và ngược lại Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở đây là mức thu NSNN phải gắn với nhịp độtăng của nền kinh tế, nếu tận thu quá mức sẽ dẫn tới tình trạng suy thoái do không kíchthích được sản xuất và đầu tư
Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặng cho NSNN Đặc biệt
là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế chưa kịp phát triển, trong khi đó phải nhanhchóng giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của xã hội Bên cạnh đó chi NSNN còn bị sức épcủa tình trạng có lạm phát cao xẩy ra Khi có lạm phát cao thì khối lượng ngân sách tăngchậm hơn nhu cầu chi, vì vậy nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến rối loạn, gây thiệt hại vềnhiều mặt cho nền kinh tế
Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng Bởi lẽ NSNN có chức năng huy độngnguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, đảm bảo các nhu cầu chi tiêucủa Nhà nước Đồng thời NSNN còn thực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu vàcác khoản chi tiêu của Nhà nước Đây là vai trò cơ bản của NSNN mà bất kỳ một quốc
gia nào cũng phải thực hiện
Về mặt kinh tế
Nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinhdoanh Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế,thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu tư vào cáclĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sáchthuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túngtrên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hoá màChính phủ khuyến dụng Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh
tế Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá, dịch vụ.Ngân sách nhà nước cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cả của thị
Trang 8trường Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những người có thu nhập thấp,Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà người bán được phép đưa ra và mức nàythường là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếuhụt trên thị trường để duy trì hiệu lực của giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệpbằng cách cung phần thiếu của hàng hoá, lượng hàng hoá này được lấy từ quỹ dự trữ củaNhà nước thuộc ngân sách nhà nước, tức là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dựphòng này Trái lại khi Chính phủ muốn bảo hộ cho người sản xuất, muốn hàng hoà củamột ngành nào đó được khuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà ngườibán được phép đưa ra và mức này thường lớn hơn giá cân bằng trên thị trường Điều này
sẽ dẫn đến sự dư thừa hàng hoá trên thị trường và khi đó là sự can thiệp của Chính phủbằng cách mua hết lượng hàng thừa Khoản tiền sử dụng để thanh toán cho người báncũng là từ ngân sách nhà nước
Về mặt xã hội
Bất công, ô nhiễm môi trường…Chẳng hạn trước vấn đề công bằng xã hội Chốnglại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn minh và ổn định, Chính phủ thường sửdụng các biện pháp tác động tới thu nhập để thiết lập lai sự công bằng xã hội Điều chỉnhthu nhập của các nhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những người cóthu nhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu nhập Một cách khác, Chính phủ có thể sửdụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo thu nhập caohơn dựa vào năng lực của bản thân theo đánh giá thì đây là biện pháp tích cực nhất, đồngthời làm tăng thu nhập quốc dân; nói cách khác, nó làm cho một số người dân giàu lên
mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đốivới người có thu nhập cao và ngược lại
Về mặt thị trường
Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo đIều kiệnthuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động,phát huy được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế
Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất cóthể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sốlượng hàng hoá
Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và
cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể thoả mãn nhu cầutiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản phẩm khác nhau
Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường Bên cạnh thị trườnghàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các thị trường về vốn, lao động… phục vụ cho sản xuấtkết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịchvụ
Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Trang 9Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chinào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp để làm tốt thu
- chi Nhà nước định ra cơ cấu thu- chi hợp lý ; theo dõi các phát sinh và những nhân tốảnh hưởng đến thu- chi
Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản- chức năng phân phối và chức năng giámđốc NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó,bởi vì: nếu không có sự giám đốc trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và
do đó sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chứcnăng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN đều có vị trí và tầm quantrọng của nó Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng đó và tổ chức chỉ đạo để các cơquan chức năng thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN
Quan điểm cơ bản về quản lý và sử dụng NSNN
Để thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng NSNN, tuỳ theo chức năng, nhiệm vụcủa từng cấp, từng ngành, cần phải quán triệt các quan điểm sau đây:
+ Trong chính sách tạo vốn của NSNN phải quán triệt tư tưởng không tận thu để baochi, mà phải động viên nguồn thu ngân sách một cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu chi trên
cơ sở vừa bồi dưỡng và phát triển nguồn thu, vừa kiểm soát và tập trung khai thác mộtcách hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu
+ Thực hiện tốt công tác phân phối và sử dụng vốn NSNN theo nguyên tắc tiết kiệm,hiệu quả, chấm dứt tình trạng các khoản chi bao cấp tràn lan của cơ chế cũ trước đây.Thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm"
+ Thực hiện phương pháp cân đối ngân sách một cách khoa học để vừa phát huy tốtcác nguồn lực bên trong và tranh thủ cao độ, có hiệu quả nguồn lực tài chính bên ngoài;vừa phù hợp với pháp luật của Nhà nước ta, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm
sự chủ động của NSNN
+ Đổi mới chế độ phân cấp quản lý NSNN theo hướng giảm bớt chức năng quản lýkinh tế của chính quyền địa phương, tránh để tình trạng phân tán và sử dụng kém hiệuquả nguồn vốn ngân sách
+ Ban hành đồng bộ hoá và tiếp tục hoàn thiện luật NSNN Đồng thời giáo dục,nâng cao trình độ cho toàn dân, cho các chủ thể của nền kinh tế cũng như trình độ chuyênmôn nghiệp vụ của cơ quan chức năng trực tiếp làm công tác quản lý NSNN Nghiêmchỉnh chấp hành luật NSNN
Trang 10Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo chohoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi
Trang 11phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hìnhthành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của Ngânsách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nướcđều phải thực hiện
Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanhnghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu vàgiá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cânđối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến độngtrên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sangngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽtác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó, để đảmbảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách
để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi
từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữhàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời , trong quá trình điều tiết thị trường ngân sáchnhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụngcác công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài,tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạmphát
Vai trò của NSNN trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới, trình độ dân trí thấp, điều kiện địa lý phứctạp, giao thông đi lại khó khăn, lại có nhiều dân tộc cùng chung sống Sau chiến tranh giảiphóng dân tộc, tỉnh Hà Giang còn chịu hậu quả nặng nề của 10 năm chiến tranh bảo vệbiên giới Hầu như các cơ sở kinh tế đều bị tàn phá nặng nề, đời sống vật chất, tinh thầncủa đồng bào các dân tộc hết sức khó khăn Tháng 10/1991 khi tách tỉnh, kết cấu hạ tầnghầu như không có gì Trong những năm qua được sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương,nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã khắc phục khó khăn, từng bước ổn định đời sống,phát triển sản xuất Đạt được những thành tích đó, ngoài sự lãnh chỉ đạo sát sao của Đảng
và Nhà nước từ Trung ướng đến cơ sở, còn có các nhân tố khác, trong đó có vai trò củaNSNN Nhờ có nguồn thu NSNN mới đảm bảo chi thường xuyên cho sự hoạt động củacác cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các cơ quan hành chính sự nghiệp, kinh tế,văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Nhờ có NSNN mà phần nào đã đáp ứng được nhucầu các khoản chi cấp bách, đặc biệt là chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ khá cao trongchi ngân sách Nhờ đó mà hiện nay ở Hà Giang nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xãhội đã và đang được xây dựng, tu bổ, nâng cấp và đưa vào sử dụng
Trang 12Trong nông nghiệp, chi NSNN tập trung cho việc ứng dụng khoa học- kỹ thuật vàosản xuất, đầu tư để tạo điều kiện thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và cơcấu mùa vụ v.v Chẳng hạn đầu tư cho việc lai tạo giống cây con cho năng suất cao Tuylâm nghiệp đã chú ý đầu tư để đẩy mạnh trồng mới rừng, bảo vệ và tái sinh rừng, pháttriển mô hình rừng trang trại, vườn rừng, theo phương thức lâm-nông kết hợp
Trong lĩnh vực văn hoá- xã hội: NSNN đã dành một tỷ lệ thích đáng cho đầu tư xâydựng và phát triển các cơ sở vật chất- kỹ thuật cho lĩnh vực giáo dục đào tạo, hệ thốngtrường chuyên, lớp chọn, trường dân tộc nội trú, trường cao đẳng sư phạm Mặc dù nguồnthu ngân sách còn hạn chế, nhưng tỉnh cũng rất quan tâm đầu tư cho lĩnh vực y tế và dân
số kế hoạch hoá gia đình Cụ thể là đầu tư nâng cấp cải tạo các cơ sở khám chữa bệnh,tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được tốt hơn
Ngoài ra NSNN còn thực hiện một loạt các chương trình khác như: củng cố mở rộngnâng cấp các đường giao thông liên huyện, liên xã, đầu tư để xây dựng đường dây, trạmbiến áp để đưa điện lưới quốc gia về các huyện vùng cao Đầu tư xây dựng các cơ sở phátthanh, truyền hình, bưu điện để đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá, tinh thần cho cácdân tộc trong tỉnh Đồng thời cũng nhằm tạo các phương tiện tuyên truyền đường lốichính sách của Đảng và Nhà nước, để nhân dân các dân tộc hiểu rõ đường lối, chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, để họ có sự tin tưởng và tựgiác thực hiện
Đối với lĩnh vực thu NSNN: thông qua các hình thức hoạt động thu NSNN mà đãđộng viên được ngày càng nhiều hơn, tốt hơn nguồn lực tài chính cho địa phương Sựđộng viên đó, một mặt đảm bảo nguồn thu, tránh thất thu cho NSNN, nhưng đồng thờicũng qua đó thực hiện sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đóng góp của nhân dân, củacác chủ thể kinh tế, các TPKT trong tỉnh
Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội nóichung Đối với tỉnh Hà Giang thì vai trò NSNN lại càng đặc biệt quan trọng Nhờ cónguồn thu NSNN mà đã tạo điều kiện về nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu xây dựng vàphát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo kinh phí chi tiêu cho các hoạt động của bộ máy chínhquyền và các tổ chức Đảng, đoàn thể, các lực lượng vũ trang an ninh
2.3 Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất
Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế vàchi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhànước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thíchsản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng nhữnglĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các
Trang 13khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn…nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào nhữngvùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý
Trang 142.4 Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư
Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàunghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhậphợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách nhànước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với cácsắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu chongân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao.Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chiphúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dụctiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân
cư có thu nhập thấp
Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngânsách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối vớitoàn bộ nền kinh tế Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được bản chất của NSNN -
đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội,phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằmđảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hộicủa Nhà nước Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng củaNhà nước
Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được bản chất của NSNN - đó là hệ thốngcác mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trongquá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầuthực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nước.Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước.NộI DUNG CƠ BảN CủA NGÂN SÁCH NHÀ NƯớC
II THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhànước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hìnhthức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước Như vậy, thu ngân sáchnhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thànhquỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thu ngân sáchnhà nước bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu(các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình.Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập
Trang 15trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏamãn các nhu cầu của nhà nước.
Ở Việt Nam, Đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiềnNhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặtbản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinhtrong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tậptrung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN chỉ baogồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởitrách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp
Đặc điểm thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Mọi khoản thu của nhà nước đều được thểchế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;
Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu
hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v
Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp
là chủ yếu
1 Thu trong cân đối ngân sách: gồm các khoản thu mang tính chất Thuế (Thuế ,Phí , Lệ phí ) và thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước
1.1 Thu Thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối vớicác pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu củanhà nước Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, khôngmang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuếkhông được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là
Trang 16trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước Như vậy , thuế mang tính cưỡng chế vàđược thiết lập theo nguyên tắc luật định
Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lậpnguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toánngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triểnnhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Như vậy, thuế phản ảnh các quá trìnhphân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước vàcác chủ thể khác trong xã hội
Đặc điểm
Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách.
Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giaotài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dùtrong hợp đồng hay ngoài hợpđồng Đối với các cơ quan thu thuế, khi thay mặt nhà nướcthực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay khôngthực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đôi xử đối với người nộp thuế
Đặc tính bắt buộc của thuế là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt thuếvới các khoản thu trên cơ sở tự nguyện hình thành nên ngân sách nhà nước Điều này có
ý nghĩa pháp lý quan trọng khi ban hành pháp luật về thuế và chi phối phương pháp thựchiện thu thuế của các ở quan nhà nước có thẩm quyền
Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tínhkhông hoàn trả Do thuếkhông có tính hoàn trả, về lý thuyết,khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vichuyển giao một khối lượng tài sản cho nhà nước và chắc chắn sẽ không nhận lại đượcchúng trong tương lai Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dung biện pháp bắtbuộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế
Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực.
Tính quyền lực của thuế được xuất phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu về thuếcủa nhà nước Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cungcấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Các nhàkinh tế, chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước để nhànước điều tiết hoặc can thiệp vào nền kinh tế Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo racho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế
Các yếu tố như đối tượng nộp thuế, thuế suất được quy định trước và mang tính
ổn định trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mớiđảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước
Để gắn được yếu tố quyền lực nhà nước cho thuế, các quốc gia, không phân biệtmức độ phát triển, đều có xu hướng ghi nhận thuế ở văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lýcao nhất - các luật thuế Điều đó cũng gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác địnhnguồn thu nhập tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế
Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.
Trang 17Thuế không phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợiích hay quyền lợi cụthể nào từ phía nhà nước Bất kỳ "ai", khi đủ điều kiện đều phải hiệnnghĩa vụ thuế đối với nhà nước, không phân biệt họđã nhận được những lợi ích côngcộng nào Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp chỉthực hiện nghĩa vụ của mình đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía nhà nước Đó làcác khoản thu từ phí, lệ phí.
Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của nhà nước, của các chủ thể quản lý xã hội Kếtquả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi íchkhông thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất)
Điều đó lý giải vì sao thuế phải là các khoản thu không cótính hoàn trả Tuy vậy, kếtquả những sản phẩm do nhà nướcsử dụng các khoản thu từ thuế lại được thụ hưởng bởichính những đối tượng nộp thuế, đó là sự yên bình xã hội, sự phát triển và thịnh vượng,chế độ phúc lợi công cộng Nói khác đi người nộp thuế được hoàn trả một cách giántiếp những khoản tiền nộp cho nhà nước
1.1.2 Phân loại thuế
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá phân tích quá trình vận dụng và quản
lý các loại thuế đòi hỏi phải phân loại thuế Nghiên cứu về thuế không chỉ có ý nghĩa về
lý thuyết mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn Hệ thống thuế một quốc giathường do nhiều loại thuế hợp thành Mỗi loại thuế có đặc điểm và chức năng riêng,nhưng nếu phân tích cân nhắc theo những tiêu chí nhất định thì một số loại thuế lại cóchức năng, đặc điểm tương tự, có thể gộp thành một"loại" Việc tìm ra những loại thuếvới những đặc tính chung sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà lập pháp, hànhpháp;với chính những đối tượng có liên quan đến hoạt động về thuế Điều này lý giải sự cầnthiết phải tiến hành phânloại thuế theo các tiêu chí khác nhau
* Phân loại thuế theo tính chất: Với cách phân loại này thuế được chia thành hainhóm lớn:
- Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các phápnhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được qui định nộp thuế Ví dụ như: thuếthu nhập cá nhân, thuế nhà đất …
Chúng được gọi là thuế trực thu vì người có nghĩa vụ nộp thuế thường là ngườigánh chịu thuế Nói cách khấc, người nộp thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế sang chocác đốitượng khác
Thuế trực thu có ưu điểm đảm bảo sự công bằng trongviệc điều tiết thu nhập thặng
dư của người nộp thuế nhưng thường gây ra sự phản ứng về thuế của người nộp thuế dokhông có sự chuyển dịch về thuế và có một sự đảm bảo chắc chắn rằng phải thực hiệnmột nghĩa vụ nộp tiền
Trang 18- Nhóm thuế gián thu bao gồm các loại thuế như thuế xuất nhậpkhẩu, thuế gắn với sản xuất và bán hàng hoá Ví dụ như: V.A.T, thuế tiêuthụ đặc biệt…
Gọichúng là thuế gián thu vì người gánh chịu thuế là khách hàng, nhưng người nộpthuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu Nói khác đi, đã có sự chuyển nghĩa vụ thuế từkhách hàng sang người kinh doanh
Thuế gián thu có ưu điểm thường hạn chế sự phản ứng thuế từ người gánh chịu thuếnhưng lại không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có thunhập chênh lệch
Xác định thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa pháp lý quan trọng Để đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập cần gia tăng (ban hành luật điều chỉnh) các loại thuế trực thu Tuy vậy, việc tăng các loại thuế trực thu lại đứng trước nguy cơ không thu hút, khuyến khích việc công khai thu nhập và gây ra sự phản ứng từ người nộp thuế Để đảmbảo nguồn thu cho nhà nước, cần gia tăng (ban hành luậtđiều chỉnh) các loại thuế gián thu nhưng sẽ làm tăng khoảng cách thu nhập và trong chừng mực nào đó, sẽ hạn chế tiêu dùng xã hội Cho dù vậy, thực tế ở các quốc gia (trong đó cóViệt Nam), các loại thuế trực thu thường không phổ biếnbằng thuế gián thu do sự dễ dàng chấp nhận hơn từ phía khách hàng đối với các loại thuế gián thu.
Cách phân loại thuế theo tính chất cho thấy được vai trò của từng loại thuế trongphân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, phản ảnh mối tương quangiữa thuế trực thu và thuế gián thu trong tổng thu nhập về thuế của ngân sách nhà nước
và có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa một cách khoa học các sắc thuế phục vụ cho việcnghiên cứu và thiết kế các chính sách thuế
* Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: theo cách phân lọai này hệ thống thuếđược chia thành:
- Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Ví dụ: thuế giá trị gia tăng(V.A.T)
Trang 19- Thuế đánh vào sản phẩm Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu
- Thuế đánh vào thu nhập Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cánhân
Thuế đánh vào thu nhập: chỉ thực hiện đối với những đốitượng có giá trị thặng dư
phát sinh từ tài sản của họ Các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
cá nhâncó đối tượng tính thuế là những phần thu nhập phát sinhtrong quá trình sử dụngtài sản của mình hay do kết quả củalao động Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuếthu nhập cá nhân
- Thuế đánh vào tài sản.:là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không phải đánh vàophần thu nhập phát sinh từ tài sản đó Ví dụ: thuế nhà đất, thuế trước bạ
Các loại thuế như thuế nhà đất, thuế vốn, thuế chuyểnnhượng: tài sản, chuyểnnhượng vốn là loại thuế tài sản Các quốc gia có thể dựa vào đối tượng tài sản để táchhoặc gộp thuế phù hợp với điều kiện cụ the
- Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước Ví dụ: thuế tài nguyên
Nếu căn cứ vào đối tượng nộp thuế, thuế bao gồm thuế đánh vào các chủ thể có yếu
tố nước ngoài, thuế đối với các tổ chức và cá nhân trong nước Cách phân chia này có ýnghĩa pháp lý quan trọng khi nhà nước cần thể hiện chính sách đối với các nhà đầu tưtrong từng thời kỳ Chẳng hạn,đối với trường hợp cần thiết phải hạn chế sự tham gia củacác chủ thể có vốn đầu tư nước ngoài tại một quốc gia, chính sách thuế khá ngặt nghèo cóthể xác định là một trong những rào cản quan trọng đối với đầu tư nước ngoài Ngược lạichính sách mở cửa cũng đồng nghĩa với sự nới rộng đến tối đa ưu đãi về thuế đối với cácđối tượng này Tuy nhiên,cũng phải thừa nhận rằng cách phân biệt thuế theo đối tượngnộp nếu không được giải quyết hợp lý, những tác động ngược chiều của chúng hoàn toànkhông nhỏ đối với nền kinh tế, đối với tình hình xã hội
Việc phân loại thuế theo đối tượng như trên vừa phát huy tác dụng riêng của từngloại thuế, vừa hỗ trợ cho nhau để bảo đảm thực hiện chức năng toàn diện của cả hệ thốngthuế
1.1.3 Vai trò của thuế
Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước màthuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phânphối và sự ổn định xã hội Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và ngânsách nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thucho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập
*Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Là vai trò đầu tiên của thuế Mỗi một loạithuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhànước Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồnthu chủ yếu của ngân sách nhà nước
Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đốivới xã hội Nhà nước với quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức
Trang 20thuế suất tuỳ ý Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất,đối tượng chịu thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của ngânsách nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thunhập Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡngkhi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân,khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả củasản xuất
Như vậy, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò cơ bản của thuế Tuynhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng
Trang 21trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bởi vì chính sự tăng trưởng kinh tế vàthực hiện công bằng xã hội là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế
*Vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế: là vai trò không kém phần quan trọng bởi vìchính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư
và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất vàthị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý; có những ngành kinh tế tác động đến
sự tăng trưởng kinh tế ( kinh tế công cộng ) nhưng lại không được các nhà đầu tư thuộccác thành phần kinh tế quan tâm vì lợi nhuận không cao, cần có sự đầu tư của nhà nước.Điều này đòi hỏi phải huy động thuế một tỷ lệ tương đối cao đối với một số ngành cóđiều kiện thuận lợi trong những thời kỳ nhất định và một tỷ lệ thuế tương đối thấp đối vớinhững ngành kém thuận lợi nhằm tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Đồng thời, việc phânbiệt thuế suất đối với từng loại sản phẩm, ngành hàng tự nó đã góp phần điều chỉnh giá
cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư những sản phẩm,ngành hàng theo đúng định hướng của nhà nước và việc ưu đãi thuế đối với một số mặthàng, ngành nghề cũng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế
Nhìn chung trong quá trình cải cách hệ thống thuế của nước ta nhà nước đã chútrọng xác lập đúng đắn mối quan hệ giữa các loại thuế, xác định hợp lý các đối tượngchịu thuế, thuế suất và chế độ miễn giảm cho nên hệ thống thuế hiện hành đã phát huy tácdụng trong việc khuyến khích đầu tư, phát triển những ngành sản xuất kinh doanh có lợicho nền kinh tế, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tưnước ngoài, bảo vệ và phát triển sản xuất hàng hóa trong nước và tạo điều kiện cho hànghóa trong nước xâm nhập, cạnh tranh được với thị trường thế giới
*Vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thịtrường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phânphối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: mộtthiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ởmức thu nhập thấp Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả mộtcông đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọingười Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa
Trang 22trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công
cụ thuế
Với các sắc thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập…theo hướng thuế đánh cao vào những hàng hóa dịch vụ cao cấp, người có thu nhập caonhằm điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập cao Đồng thờithuế đánh thấp vào những hàng hóa dịch vụ cần thiết cho đại bộ phận dân chúng (Ví dụ:thuế tiêu thụ đặc biệt thuế suất 75% đối với rượu từ 40 độ trở lên, thuế suất 15% đối vớirượu thuốc Bia chai, bia hộp, bia tươi thuế suất 75% trong khi bia hơi thuế suất là 30%
…) Như vậy, việc qui định về đối tượng chịu thuế, thuế suất từng ngành hàng như trênbên ngoài như là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm điều chỉnh những quan hệ xãhội nhất định
Mặt khác, những nhà doanh nghiệp cũng không thể suốt đời phục vụ cho mục đíchtăng trưởng kinh tế nếu thu nhập của họ bị chia xẻ một cách vô lý Đây là mâu thuẩn cơbản trong nền kinh tế thị trường mà chính sách thuế của chính phủ phải giải quyết Thực
ra, vẫn có một mối quan hệ phụ thuộc để tồn tại giữa nhà kinh doanh và người lao động.Tức là, có một giới hạn phân phối lại mà ở đó độ nhạy cảm về tăng trưởng bị hạn chế, cácnhà kinh doanh sẳn sàng đóng góp một phần thu nhập cho xã hội mà không làm suy giảm
sự tăng trưởng của họ Chính sách thuế phải xác định được khung giới hạn đó thông quaphản ứng của doanh nghiệp đối với thuế suất từng loại thuế và có sự điều chỉnh cho phùhợp
1.2 Thu lệ phí và phí
Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thucủa ngân sách nhà nước nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến tất cả các lĩnhvực của đời sống kinh tế xã hội
1.2.1 Lệ phí: là khoản thu mang tính chất thuế vì nó vừa mang tính cưỡng báchđược qui định trong những văn bản pháp luật của nhà nước nhưng đồng thời nó lại mangtính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc nhà nước thực hiện một số thủ tục hànhchính nào đó Ví dụ: lệ phí trước bạ, lệ phí tòa án, lệ phí cấp giấy phép xây dựng, lệ phícấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng…
1.2.2 Phí: là khoản thu mang tính chất thuế, là khoản thu mang tính bù đắp mộtphần chi phí thường xuyên và không thường xuyên về các dịch vụ công
Trang 23cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạtầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí Phí có hai loại: thứ nhất, các loại phímang tính phổ biến do chính phủ qui định thứ hai, các loại phí mang tính địa phương Vídụ: học phí, viện phí, phí giao thông, phí cầu đường…
1.3 Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc đầu
tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức góp vốn vào các doanh nghiệp, công tyliên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần Số vốn đầu tư của nhà nước vào cáchoạt động sản xuất kinh doanh nói trên sẽ sinh lời và lợi tức thu được sẽ phụ thuộc vào tỷ
lệ góp vốn của nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cơ chế phân phối lợi nhuận củadoanh nghiệp Các khoản thu này phản ảnh hoạt động kinh tế đa dạng của nhà nước, baogồm:
- Thu từ việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong quá trình cổ phần hóa doanhnghiệp quốc doanh
-Thu từ việc bán tài sản của nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trướcđây
- Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách nhà nước
- Thu từ việc bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tếkhác
- Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên
2 Thu bù đắp thiếu hụt của Ngân Sách
Trong quá trình điều hành ngân sách, các chính phủ thường có nhu cầu chi nhiềuhơn số tiền thu được và việc cắt giảm các khoản chi rất là khó khăn vì liên quan đến cáchoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội … Do đó, bắt buộc chính phủ phải tính tới cácgiải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nước Giải pháp thường được chínhphủ sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nước vàvay nước ngoài:
2.1 Vay trong nước:
Trang 24Vay nợ trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái.Công trái phiếu là chứng chỉ nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay tráikhoán do nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và ngân hàng ỞViệt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho Kho Bạc nhà nước phát hành trái phiếu chínhphủ dưới các hình thức:
- Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dưới một năm,đươc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách nhànước trong năm tài chính
- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên mộtnăm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nước xuấtphát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế
- Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên mộtnăm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã được ghi trong
kế hoạch đầu tư của nhà nước
Đối với Việt Nam, công trái là hình thức huy động vốn có hiệu quả, qua các đợt pháthành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trả hợp lý đã huy động được nguồn vốn tolớn vào ngân sách nhà nước đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước góp phầnchống lạm phát và ổn định nền kinh tế xã hội
2.2 Viện trợ và vay nợ nước ngoài
2.2.1 Viện trợ nước ngoài: bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trường quốc tế
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liênchính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các chươngtrình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn viện trợ phát triểnchính thức (ODA) Nguồn viện trợ này được các tổ chức quốc tế chủ động phân bổ theonhững tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các loại quỹ chung hoặc do các tổchức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ ủy thác trên cơ sở các dự án xâydựng trước của nước nhận viện trợ
Nhìn chung, viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đangthiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây làcác nước nhận viện trợ cần có phương án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả
2.2.2 Vay nợ nước ngoài: là những khoản cho vay của nước ngoài theo điều kiện thương mại và lãi suất thị trường
Trang 25Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại
tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng xuất khẩu (khi nhà nước mua hàngcủa nước ngoài nhưng được hoãn trả nợ trong một thời gian nhưng phải chịu lãi suất trênkhoản nợ đó) và vay từ các ngân hàng thương mại nước ngoài
Cũng giống như nguồn vốn viện trợ, vay nợ nước ngoài là nguồn vốn quan trọng đểthúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điểm khác nhau là do vay theo điều kiện thương mại phảichịu lãi suất tương đối cao, vì vậy việc tính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả
là hết sức cần thiết, khoản vay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách
Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước
Thu nhập GDP bình quân đầu người:
Chỉ tiêu thu nhập GDP bình quân đầu người phản ánh tốc độ tăng trưởng và pháttriển của mỗi quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư ở mỗi nước Thunhập GDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định khách quan đến mức động viên củangân sách nhà nước Nếu không chú ý đến nhân tố này khi động viên vào ngân sách sẽảnh hưởng tiêu cực đến tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của tư nhân Mỗi quốc gia tùy theo
độ lớn của GDP mà xây dựng chính sách thu cho thích hợp Việt Nam trong giai đoạn từ2006-2010 tỉ lệ huy động bình quân vào ngân sách nhà nước dự tính từ 21-22%GDP,trong đó tỉ lệ động viên từ thuế, phí là 20-21%GDP
Khả năng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản:
Đối với các nước đang phát triển và có nguồn tài nguyên phong phú thì nhân tố này
có ảnh hưởng rất lớn đến số thu ngân sách nhà nước Việt Nam trong hiện tại khả năng vàxuất khẩu dầu mỏ sẽ đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước Tuy nhiênnguồn thu này sẽ giảm dần tỉ trọng trong tương lai do hạn chế xuất khẩu dầu thô đểchuyển sang chế biến trong nước
Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế:
Phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế, tỉ suất doanh lợi càng lớn thì nguồntài chính càng lớn, đó là nhân tố quyết định đến nâng cao tỉ suất thu cho ngân sách nhànước Dựa vào nhân tố này đế xây dựng chính sách thu sẽ tránh được tình trạng thu vượtmức khả năng chịu đựng của nền kinh tế
Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước:nhân tố này phụ thuộc vào:
- Quy mô tổ chức bộ máy của nhà nước và hiệu quả của nó
- Những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà nhà nước đảm nhận trong những giaiđoạn lịch sử
- Chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước
Trang 26Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí nhà nước có khả năng tăng thìviệc gia tăng mức độ trang trải chi phí của nhà nước sẽ là một áp lực gia tăng tỉ suất thungân sách nhà nước.
Ở những nước nghèo, kém phát triển phần lớn đều muốn đẩy mạnh đầu tư để pháttriển kinh tế mà muốn có nguồn để đầu tư thì phải tăng doanh thu, một khi tăng thukhông hợp lí lại làm cho nền kinh tế phát triển chậm lại, giải quyết mâu thuẫn trong vònglẩn quẩn này không đơn giản cho những nền kinh tế còn nhiều yếu kém, đòi hỏi nhà nướcphải có những chương trình phát triển kinh tế phù hợp với những thời kì, phải thận trongkhi tìm kiếm nguôn vốn cho đầu tư và phải sử dụng nó thật tiết kiệm và hiệu quả
Tổ chức bộ máy thu nộp:
Bộ máy này gọn nhẹ, hiệu quả cao chỗng được thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân
tố tích cực làm giảm tỉ suất thu ngân sách nhà nước mà vẫn làm giảm được nhu cầu chitiêu của ngân sách nhà nước
Trong từng nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, phải được nghiêncứu phân tích một cách khoa học, tỉ mỉ trong từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để khi xâydựng chính sách thu đem lại hiệu quả tích cực nhất
3.Nguyên tắc xây dựng chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước(chủ yếu là
chính sách thuế)
Nguyên tắc ổn định lâu dài:
Trong những điều kiện hoạt động kin h tế bình thường, nhất thiết phải ổn định mứcthu(nhất là ổn định các sắc thuế), không dược gây các sáo trộn lớn trong hệ thống thuế
Ổn định và lâu dài, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa ngân sách,mặt khác tạo điều kiện để kích thích người sản xuất yên tâm đàu tư phat triển
Nguyên tắc đảm bảo sự cân bằng:
Việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm cân bằng đối với mọi người đóngthuế không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế Việt thiết kế hệ thống chủ yếudựa trên khả năng thu nhập của ngươi chịu thuế Tôn trọng nguyên tắc công bằng có tácdụngnphaan phối lại thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội, hạn chế sự phân hóaranh giới giàu ghèo trong xã hội
Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:
Yêu cầu các sắc thuế được quy định trong luật phải thể hiện đầy đủ các tiêu thứcnhư đối tượng nộp, đối tượng tính thuế, mức thu, thủ tục nộp thế một cách rõ rãng, rànhmạch Tôn trọng nguyên tắc rõ ràng, rành mạch, chắc chắn sẽ đảm bảo tính thống nhấtcủa hệ thống thu trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức thu ngânsách nhà nước, hạn chế những thất thoát, tiêu cực có thể xảy ra
Nguyên tắc đơn giản:
Trang 27Thu hẹp dần các mức thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính trong một sắc thuế Thựchiện được yêu cầu trên, cho phép xây dựng chính sách thu đơn giản, dễ áp dụng nhưnggiảm thiểu được tính chủ quan trong công tác tổ chức quản lí thu Nhưng đơn giản quáđôi khi vi ơphamj nguyên tắc cân bằng, vì để đơn giản cho việc tính toán thu nộp thuếnhiều khi thiếu cơ sở khoa học.
Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế:
Trong điều kiện hiện nay, với xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu, vieech thiết lập
hệ thống thuế còn phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế là điều tất yếu Điều này có
ý nghĩa rất lớn đối với việt thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội
4.Hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam
Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu
Thuế xuất-nhập khẩu
Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu
Thuế thu nhập doanh
Thuế từ dầu khí
Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu
Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vịhạch toán toàn ngành
Thuế thu nhập cá nhân
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nướcngoài từ lĩnh vực dầu, khí
Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước
Thuế nhà, đất
Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí
Thuế môn bài
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Trang 28Biu do chi ngan sach nha nuoc
Thu ngân sách 6 tháng đầu năm ước đạt 3900 tỷ đồng
Theo tin từ Kho bạc Nhà nước thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở số thu đến hết tháng
5 và dự toán ngân sách được HĐND thành phố giao, ước tổng thu ngân sách Nhà nướcnăm 2008 trong 6 tháng đầu năm là 3.900 tỷ đồng
Trong đó, thu ngân sách Trung ương là 1.200 tỷ đồng và thu ngân sách địa phương
là 2.700 tỷ đồng Tính riêng phần tổng thu cân đối NSNN là 3.500 tỷ đồng, bằng 54%
Trang 29dự toán năm 2008 được HĐND thành phố giao, trong đó, thu hoạt động xuất nhập khẩu1.000 tỷ đồng (đạt 62%), thu từ SXKD trong nước 2.500 tỷ đồng (đạt 62%).
Trong công tác tổ chức thu trực tiếp, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủtại Quyết định số 127/2007/QĐ-TTg ngày 01/8/2007 về việc tổ chức làm việc ngày thứbảy hàng tuần, theo hướng dẫn của KBNN, năm 2008, KBNN Đà Nẵng đã tiếp tục tổchức tốt công tác làm việc vào ngày thứ bảy để thực hiện thu thuế, phí, lệ phí liên quanđến nhà, đất và phương tiện giao thông; thu phạt vi phạm an toàn giao thông và viphạm hành chính các loại; thu thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục thông quan hànghoá xuất nhập khẩu, hàng hoá quá cảnh và phương tiện vận tải xuất nhập, quá cảnh tạiKBNN thành phố và 7 KBNN quận huyện trực thuộc trên địa bàn
Thu NSNN và các giải pháp thực hiện trong năm 2009
1 Tình hình thu ngân sách nhà nước giai đoạn 1991 – 2007
Thu ngân sách nhà nước (NSNN) là chỉ tiêu chất lượng, có liên quan chặt chẽ vớităng trưởng và phát triển kinh tế Mọi biến động của kinh tế xã hội trong nước và thếgiới, những biến động về chính sách thu đều có ảnh hưởng lớn tới kết quả thu ngân sáchnhà nước hàng năm
Cùng với những thành tựu đạt được trong cải cách và phát triển kinh tế, từ năm 1991tới nay, thu ngân sách VN luôn tăng với tốc độ nhanh, năm sau cao hơn năm trước Thungân sách cao là cơ sở quan trọng để Chính phủ thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh
tế xã hội đã được phê duyệt trong ngắn hạn cũng như dài hạn Tình hình thu ngân sáchnhà nước từ 1991 – 2007 được thể hiện trong biểu đồ sau:
Thu ngân sách nhà nước giai đoạn 1991 – 2007
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 30Nguồn: Niên giámthống kê và Bộ Tài chính;(*) là số ước tính
Biểu đồ trên đây chothấy so với năm 1991 thìnăm 2000, số thu ngânsách nhà nước tăng gấp8,55 lần Năm 2007 so vớinăm 2000 thu ngân sáchnhà nước tăng 3,43 lần vànăm 2007 so năm 1991 làtăng 29,3 lần Như vậy, saugần 20 năm thực hiệnchính sách đổi mới, thungân sách nhà nước đã tăng gần 30 lần
Về tốc độ tăng thu NSNN, bình quân từ năm 1991 đến 2007, tốc độ tăng thu bìnhquân là 25,11%/năm, trong khi đó tăng trưởng kinh tế bình quân là 7,76% Tuy nhiên, dotốc độ tăng trưởng kinh tế là tính theo giá so sánh năm 1994, còn tốc độ tăng thu NSNN
là tính theo giá thực tế cho nên để thấy rõ mức độ tăng thu NSNN một cách thực chất,cần thiết phải loại trừ yếu tố giá bằng cách chuyển đổi số thu từ giá thực tế về giá so sánhnăm 1994 Khi đó, tốc độ tăng thu NSNN bình quân từ 1991 đến 2007 là 18,67%/năm,gấp hơn 2,4 lần tốc độ tăng GDP bình quân năm (7,76%/năm) Tình hình tăng thu NSNNtrong giai đoạn 1991 – 2007 được thể hiện trong bảng số liệu sau đây:
Tốc độ tăng thu NSNN giai đoạn 1991 – 2007
Đơn vị tính: %
Tốc độ tăngthu NSNN (giá
thực tế)
Tốc độ tăngGDP (giá so sánh1994)
Tốc độ tăngthu tính chuyểnđổi theo giá sosánh 1994)
Trang 31Nguồn: Niên giám thống kê và Bộ Tài chính; (*) là số ước tính
Bảng số liệu trên đây cho thấy những năm đầu tiên của đổi mới, do hệ thống cácchính sách thu ngân sách nhà nước được đổi mới cơ bản, hàng loạt các Luật thuế đượcban hành như: Luật thuế lợi tức, Luật thuế doanh thu, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp… cùng với nhữngquy định về quản lý thu nộp phù hợp được ban hành đã làm cho tốc độ tăng thu tăngnhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Từ năm 1995 trở đi, khi hệ thốngchính sách đã tương đối ổn định thì mức độ tăng thu NSNN đã dần đi vào ổn định Nếulấy mốc từ năm 1995 để phân tích thì thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giaiđoạn 1995 – 2007 là 7,59%, trong khi đó tốc độ tăng thu NSNN bình quân năm (chưaloại trừ yếu tố giá cả) là 17,01% và nếu đã loại trừ yếu tố giá cả là 9,08%, vẫn cao hơntốc độ tăng trưởng kinh tế (7,59%)
Trang 32Về mức độ động viên thu, tính trung bình từ 1991 – 2007 mức độ động viên thuNSNN là 22,63% GDP Tuy nhiên, những năm đầu chuyển đổi và phát triển kinh tế, mức
độ động viên thu NSNN còn tương đối thấp (chỉ đạt dưới 20%) Những năm (1997 –2000), do bị tác động ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á làm cho tăngtrưởng kinh tế chậm lại, hoạt động xuất nhập khẩu bị giảm sút cả về lượng cũng như vềgiá, hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thấp nên thu NSNN trong giai đoạn này có sụtgiảm chút ít và chỉ đạt khoảng 19 – 20% GDP Điều đó làm cho mức độ động viên thuNSNN trung bình 10 năm 1991 – 2000 chỉ đạt 20,67%
Giai đoạn 2001 – 2007, khi nền kinh tế đã thoát khỏi những tác động xấu của khủnghoảng và dần lấy lại được tốc độ phát triển cao thì thu NSNN cũng đã tăng đáng kể Bìnhquân động viên thu NSNN so GDP giai đoạn 2001 – 2008 đạt mức 25,42%, tăng cao hơnnhiều so với 10 năm trước đó, đặc biệt năm 2006 tổng thu NSNN bằng 28,69% so GDP
Mức động viên thu NSNN so GDP giai đoạn 1991 – 2008
Đơn vị: %
Nguồn: Niên giám thống kê và Bộ Tài chính; (*) là số ước tính
Xét về cơ cấu thu NSNN theo đóng góp của các lĩnh vực cho thấy, những khoản thu
có đóng góp lớn cho NSNN hàng năm là: Thu từ dầu thô, thu xuất nhập khẩu, thu từ cácthành phần kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Cơ cấu các khoản thu NSNN từ 1991 – 2007
Trang 33Đơn vị tính:%
Nguồn: Niên giám thống kê và Bộ Tài chính
Từ số liệu bảng trên đây cho thấy, thu từ dầu khí là khoản thu có đóng góp lớn nhấtvào tổng thu NSNN hàng năm Nhất là những năm gần đây (từ 2003 – đầu năm 2008),khi giá dầu thô tăng cao thì khoản thu này đã chiếm tới 28 – 29% tổng thu NSNN vào cácnăm 2006 và 2007 Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng khoản thu từ dầu thô phụ thuộcnhiều vào giá dầu trên thị trường thế giới cho nên đây là khoản thu không vững chắc Khigiá dầu thế giới lên cao thì sẽ có số thu cao và ngược lại Hơn nữa trong tương lai, sảnlượng dầu thô khai thác ngày càng cạn kiệt và khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vàohoạt động thì số thu về dầu thô chắc chắn sẽ có xu hướng giảm
Sau khoản thu về dầu là thu về xuất nhập khẩu Thu xuất nhập khẩu ở nước ta từ lâu
đã chiếm tỷ trọng tương đối lớn (khoảng 18 – 23%) trong tổng thu NSNN Đặc biệt năm
2002 đã đạt mức trên 25% tổng thu NSNN Trong những năm gần đây, nhất là từ năm
2007, khi VN chính thức trở thành thành viên của WTO thì số thu thuế về xuất nhậpkhẩu, tiêu thụ đặc biệt và VAT hàng nhập khẩu đang có xu hướng giảm do thực hiện cáccam kết hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực về cắt giảm thuế quan theo các hiệp định đã
ký kết Mặc dù cắt giảm thuế xuất nhập khẩu thì kim ngạch sẽ tăng nhiều và cơ sở tínhthuế cũng tăng, song mức độ tăng của thuế do kim ngạch tăng không bù lại được số giảmthu do thuế suất giảm
Trang 34Đối với khu vực sản xuất, thu từ các thành phần kinh tế nhà nước, ngoài nhà nước
và FDI tương đối ổn định và chỉ chiếm khoảng 30 – 35% tổng thu NSNN Thu NSNN từkhu vực kinh tế nhà nước vẫn là nơi có số thu lớn nhất trong ba khu vực kinh tế Tuynhiên, về xu thế thì khoản thu từ khu vực kinh tế này đang có xu hướng giảm mạnh Nếunhư năm 1991 số thu từ kinh tế nhà nước chiếm tới 29,15% tổng thu NSNN thì năm 2006chỉ là 16.45% Sự sụt giảm thu từ khu vực kinh tế này có thể giải thích bởi một số nguyênnhân:
- Thứ nhất, hiệu quả và chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đangngày càng suy giảm, do khả năng cạnh tranh ngày càng yếu trước các loại hình doanhnghiệp khác mới thành lập, được trang bị công nghệ và kỹ thuật hiện đại hơn, tổ chức sảnxuất gọn nhẹ, hợp lý, khoa học hơn, khả năng tìm kiếm thị trường và chất lượng sảnphẩm, dịch vụ cung cấp tốt hơn hẳn
- Thứ hai, khu vực doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện các đầu tư, kinh doanhnhững sản phẩm, cung cấp các dịch vụ do nhà nước đặt hàng hoặc yêu cầu, có số vốn lớnnhưng lợi nhuận lại thấp hơn các dự của các khu vực kinh tế khác cho nên đóng góp củakhu vực này vào ngân sách nhà nước thấp đi
- Thứ ba, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp nhà nước đang thực hiện quátrình xắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá nên số lượng các doanh nghiệp, công ty nhà nướcđang bị giảm đi, thay vào đó là khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại có tốc độ phát triểnnhanh hơn Như vậy, khi khu vực kinh tế nhà nước đang có xu hướng giảm dần về đónggóp số thu cho NSNN, thì khu vực kinh tế ngoài quốc doah và kinh tế FDI là có xuhướng gia tăng tỷ trọng đóng góp từ 4-5% lên đến trên 9% Tuy nhiên, mức độ đóng gópcủa mỗi khu vực kinh tế này cũng vẫn còn khiêm tốn ở mức dưới 10% tổng thu NSNN
Số liệu này cho thấy, tiềm năng thu NSNN trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn còntương đối lớn, khi mà GDP trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm khoảng 46%tổng GDP cả nước (khu vực kinh tế nhà nước chiếm 36% và FDI chiếm 18% GDP)
Với những số liệu và phân tích trên đây đã cho thấy, những kết quả về thu NSNNtrong giai đoạn 1991 – 2007 là tương đối tốt trên góc độ đảm bảo cho thực hiện cácnhiệm vụ chi của Chính phủ ngày càng tăng trong giai đoạn vừa qua Đạt được thành quảnày, trước hết phải là thành công của chính sách đổi mới và phát triển kinh tế của nhànước Tăng trưởng kinh tế là cơ sở quan trọng để tạo nguồn thu vững chắc Sau đó, phải
kể đến là việc không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách thu phù hợp với tình hìnhthực tiễn của đất nước và cuối cùng, đó là thành công lớn của ngành tài chính, của sựphối hợp với các bộ, ngành, các địa phương và toàn thể nhân dân trong cả nước cùng tổchức thực hiện tốt các chủ trương chính sách về thuế, phí, lệ phí và những quy định vềthu nộp của nhà nước
2 Một số dự báo về thu ngân sách nhà nước trong tương lai
Trang 35Với những diễn biến của kinh tế thế giới và kinh tế VN năm 2008, có thể dự báorằng, năm 2009 và một vài năm sau nữa tăng trưởng kinh tế VN còn gặp nhiều khó khăn,tốc độ tăng trưởng khó có thể đạt mức cao như mong muốn và như vậy thu NSNN cũng
sẽ không dễ dàng đạt được mục tiêu như các năm trước bởi một số nguyên nhân sau:
Trước hết, tốc độ tăng trưởng kinh tế VN năm 2009 có thể sẽ thấp hơn năm 2008 do
tác động ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới Theo dự báo của IMF và một số tổchức kinh tế thế giới thì năm 2008, tăng trưởng kinh tế toàn thế giới là 3,7% và năm 2009với mức thấp hơn là 2,2% Trong đó, các nước phát triển tăng trưởng năm 2008 là 1.4%
và năm 2009 là -0,3%; các nước đang phát triển và những nền kinh tế mới nổi, tăngtrưởng năm 2008 là 6,6% và năm 2009 là 5,1% Rất nhiều nền kinh tế lớn dự báo có tốc
độ phát triển âm năm 2009 như: Mỹ: -0,1%; vùng ERO: -0,1%; Nhật: -0,2% TrungQuốc, những năm trước đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,5 – 12% thì năm 2009 dựbáo là 8.5% Sự suy giảm tăng trưởng của kinh tế thế giới sẽ làm cho kim ngạch xuấtkhẩu của VN giảm mạnh và do vậy sẽ tác động làm giảm tăng trưởng của kinh tế VN,một nền kinh tế vốn đang hướng về xuất khẩu Tăng trưởng kinh tế giảm sẽ kéo theo sốthu NSNN giảm
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc
vào thu xuất khẩu và thu nhập khẩu Trong đó, thu về nhập khẩu chiếm khoảng 90% vàthu về xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 10% (không kể dầu thô)
Đối với thu xuất khẩu: Xuất khẩu năm 2009 của VN phụ thuộc nhiều vào thị trườngthế giới Khi tăng trưởng kinh tế thế giới giảm sẽ làm cho các cơ hội xuất khẩu của VNcũng giảm theo Cụ thể hơn, khi các thị trường lớn như: Mỹ, Nhật bản, EU đang trongtình trạng suy thoái thì không thể đẩy mạnh và tăng kim ngạch xuất khẩu của VN lênđược Kim ngạch xuất khẩu sẽ giảm cả về lượng lẫn về giá xuất khẩu Kim ngạch xuấtkhẩu giảm sẽ làm cho số thu về thuế xuất khẩu giảm theo
Đối với thu nhập khẩu: Thu nhập khẩu phụ thuộc vào kim ngạch nhập khẩu và thuếsuất (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế VAT hàng nhập khẩu) Kim ngạchnhập khẩu hàng năm ở VN lại phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư Song,năm 2009 xuất khẩu sẽ giảm do nhu cầu thị trường thế giới thu hẹp, tăng trưởng kinh tếnăm 2009 sẽ khó khăn hơn năm 2008 nên cầu tiêu dùng hàng hoá trong nước cũng nhưthực hiện đầu tư phát triển cũng sẽ giảm làm cho kim ngạch nhập khẩu giảm Hơn nữa,thực hiện chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các chương trình cam kết về hộinhập kinh tế quốc tế sẽ làm cho số thu về xuất nhập khẩu sẽ giảm mạnh Như vậy, cácyếu tố liên quan tới thu xuất nhập khẩu năm 2009 đều có xu hướng và dự báo giảm sẽlàm cho tổng thu xuất nhập khẩu giảm theo
Về dầu thô Do kinh tế thế giới suy thoái nên giá nhiêu liệu, xăng, dầu bị giảm mạnh.
Nếu như quý III năm 2008 giá dầu thô trên thế giới đã lên đến đỉnh cao là 147USD/thùng thì đến tháng 11 năm 2008 giá đã hạ xuống rất thấp với mức 50 USD/thùng
Trang 36Khi tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 là thấp hơn năm 2008 thì giá dầu chắc chắn sẽvẫn có xu hướng hạ thấp hơn nữa Giá dầu giảm sẽ làm cho kim ngạch xuất khẩu dầu, thu
về dầu sẽ giảm Nguồn thu lớn nhất của ngân sách nhà nước là từ dầu thô giảm sẽ tácđộng mạnh tới giảm số thu ngân sách năm 2009
Về phát triển sản xuất trong nước Trong tình trạng toàn bộ nền kinh tế thế giới đang
suy thoái, chắc chắn kinh tế VN cũng không thể đạt mức tăng trưởng cao được Cácdoanh nghiệp trong nước hiện nay đang đối mặt với việc không có đầu ra cho các sảnphẩm của mình, lãi suất ngân hàng cao nên tổ chức sản xuất kinh doanh không có lãi,hoặc lãi thấp Ngoài ra, các doanh nghiệp VN còn sẽ phải đối mặt với lượng hàng hoákhổng lồ, giá rẻ từ Trung Quốc và các nước khác trong khu vực tràn vào do suy thoáikinh tế làm cho khả năng thua lỗ trong kinh doanh ngày càng trở nên rõ nét Điều đó làmcho việc thực hiện các nghĩa vụ thu nộp ngân sách của doanh nghiệp ngày càng trở nênkhó khăn
3 Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện dự toán thu NSNN năm 2009
Để thực hiện thành công dự toán thu NSNN đã được phê duyệt thì cần thiết phải tổchức thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách về thu NSNN theo hướng các chính sách cần
tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp thực hiện hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh Triển khai thực hiện tốt cácLuật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi), Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi), Luật thuếthu nhập cá nhân với nhiều ưu đãi hơn nhằm khuyến khích, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Hai là, tổ chức tốt công tác quản lý thuế Triển khai thực hiện có hiệu quả luật quản
lý thuế và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của Bộ Tài chính Tăng cường công táckiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, phát hiện ngay các trườnghợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh kịpthời Đẩy mạnh xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng thuế Chấn chỉnh công tác hoàn thuế,đẩy mạnh kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật về thuNSNN Giám sát chặt chẽ việc rà soát, bãi bỏ một số quy định về phí, lệ phí, huy độngđóng góp của nhân dân không đúng quy định ở các cấp, các ngành và các địa phương
Ba là, tích cực huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trong
đó tập trung ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển các công trình về
cơ sở hạ tầng, tập trung nguồn lực để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiệntốt các chính sách an sinh xã hội Dự kiến năm 2009 sẽ phát hành trái phiếu chính phủkhoảng 36.000 tỷ đồng đầu tư các công trình về giao thông, thuỷ lợi, kiên cố hoá cáctrường, lớp học và đầu tư xây dựng, nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện, …
Trang 37Bốn là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ các thị trường, đẩy
mạnh việc thực hiện quản lý giá cả theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý điều tiết củaNhà nước, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và các đối tượng thụhưởng; góp phần xóa bao cấp tràn lan, chống buôn lậu, khuyến khích thực hành tiết kiệm
Năm là, đẩy mạnh việc sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, các Tập
đoàn, Tổng công ty nhà nước theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Đồng thời, mở rộng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác nhằm nâng cao hiệu quả vànăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước Có cơ chế giám sát tài chính chặtchẽ đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, nhất là định hướng đầu tư và cácchương trình, dự án sử dụng vốn lớn
Sáu là, áp dụng linh hoạt chính sách tiền tệ, tỷ giá nhằm khuyến khích tối đa tăng
kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường để tăng sản xuất trong nước nhất là đối với một
số mặt hàng có thế mạnh như lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, tăngnguồn thu cho NSNN
Ngoài ra, các giải pháp tài chính cần được phối hợp chặt chẽ với việc thực hiệnnhững giải pháp, chính sách trong các lĩnh vực khác đã được nêu trong Nghị quyết10/2008/NQ-CP của Chính phủ ngày 14/4/2008 về việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững để đảm bảo thực hiện thànhcông mục tiêu thu NSNN năm 2009 đã được phê duyệt
Các giải pháp quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu - Quách Đức Pháp PGS, TS, Viện trưởng Viện Khoa học Tài chính (Ngày: 03-07-2009)
TCCS - Trong tình hình khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, cần điều hànhchính sách tài chính linh hoạt nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kịên chohọat động sản xuất kinh doanh phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu Điều quan trọng là kiểmsoát chặt chẽ chi tiêu, thực hiện tốt gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng vào những dự án cóhiệu quả, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, kiềm chế bội chi ngân sách nhà nước
Trang 38Xa hoi va ngan sach nha nuoc nam 2007
1 - Năm 2008, nhiệm vụ ngân sách nhà nước được triển khai thực hiện trong bốicảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn: Khủng hoảng tài chính tại cácnền kinh tế lớn, đặc biệt là ở Mỹ, đã ảnh hưởng lớn tới kinh tế toàn cầu; giá dầu thô, giánguyên liệu cơ bản, lương thực và thực phẩm trên thị trường biến động phức tạp; sản xuấtkinh doanh trong nước gặp nhiều khó khăn; thị trường chứng khoán, thị trường bất độngsản hoạt động thiếu ổn định; lạm phát ở mức cao cộng với những tác động của thiên tai,dịch bệnh đã làm đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Điều chỉnh chính sách thuế hợp lý, phù hợp với các cam kết quốc tế, nhằm hạn chế nhậpkhẩu các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu Tiếp tục rà soát bãi bỏ một số loại phí, lệphí và các khoản huy động khác để giảm gánh nặng đóng góp của nhân dân
Bên cạnh những yếu tố không thuận lợi, cũng có những yếu tố tích cực, đó là tình hìnhchính trị trong nước tiếp tục ổn định, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa từng bước được hoàn thiện; thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng cao Trong bốicảnh sản xuất kinh doanh ở nước ta gặp nhiều khókhăn, giá cả tăng cao, nhưng việc điềuhành ngân sách năm 2008 đạt được kết quả tích cực: Tổng thu ngân sách nhà nước đạt23,5%, tăng 16,3% so với năm 2007; mức bội chi bằng 4,7% GDP, bảo đảm mục tiêuQuốc hội đã cho phép (5% GDP); dư nợ chính phủ bằng 33,5% GDP, dư nợ ngoài nước
Trang 39của quốc gia bằng 27,2 % GDP Việc điều hành chi ngân sách nhà nước được thực hiệntheo hướng thắt chặt, đồng thời dành nguồn lực để tập trung giải quyết vấn đề an sinh xãhội, tiếp tục tăng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển
Trong điều hành dự toán ngân sách nhànước, triển khai vốn đầu tư xây dựng cơbản, cả vốn từ ngân sách nhà nước vànguồn trái phiếu chính phủ còn chậm.Quản lý chi ngân sách nhà nước đã đượccủng cố, tăng cường thanh tra kiểm soátchặt chẽ chi tiêu nhưng vẫn còn tình trạnglãng phí, kém hiệu quả
Việc điều hành thu, chi ngân sách nhànước cũng gắn chặt với thực hiện mục tiêu
ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền
- Chính sách thuế, phí ở nước ta năm 2008 được điều chỉnh theo hướng khuyến khíchxuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu và khoáng sản thô;tăng cường kiểm soát nhập khẩu hàng hóa không thiết yếu, giảm nhập siêu trong khuônkhổ phù hợp với các cam kết WTO; tiếp tục rà soát bãi bỏ một số loại phí, lệ phí và cáckhoản huy động khác để giảm gánh nặng đóng góp của nhân dân, nhất là nông dân; kéodài, giãn thời hạn nộp thuế để hỗ trợ các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động chế biếnxuất khẩu khắc phục khó khăn, tiếp tục phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu
- Công tác điều hành giá đã góp phần tích cực kiềm chế lạm phát Sáu tháng đầu năm
2008, Chính phủ chỉ đạo không tăng giá các mặt hàng: xăng, dầu, điện, than, thép, măng, giấy, phân bón, thuốc chữa bệnh, nước sạch Từ cuối tháng 7-2008, căn cứ vàokết quả kiềm chế lạm phát và điều kiện thị trường, đối với một số hàng hóa dịch vụ quantrọng như xăng, dầu đã từng bước điều hành giá theo nguyên tắc thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước Việc điều chỉnh giá thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích củaNhà nước, nhân dân và doanh nghiệp, góp phần chống buôn lậu, khuyến khích sử dụngtiết kiệm; đồng thời thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng gặp khó khăn khi Nhà
Trang 40Bên cạnh những mặt ưu điểm nêu trên, công tác tài chính - ngân sách năm 2008 vẫn còn
- Thu ngân sách tuy tăng, nhưng chưa vững chắc, chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuấtnhập khẩu Thực hiện quy định Luật Quản lý thuế, công tác thu hồi nợ đọng thuế, chốngthất thu thuế đã được triển khai quyết liệt và bước đầu có chuyển biến tích cực Tuynhiên, tình trạng nợ đọng thuế còn lớn, một mặt, do công tác quản lý còn nhiều hạn chế,bất cập; mặt khác, do tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, Chính phủ đã giãn thời gian nộp
- Thu ngân sách nhà nước những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất kinhdoanh gặp nhiều khó khăn Đáng chú ý là trong 5 tháng đầu năm, tốc độ thu bình quântăng 44% so với cùng kỳ năm 2007, nhưng từ tháng 6 đến cuối năm 2008 tốc độ trung
- Các bộ, ngành, địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nước được giaonhưng triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản, cả từ nguồn vốn ngân sách nhà nước vànguồn vốn trái phiếu chính phủ còn chậm Quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước tuy đượccủng cố, tăng cường thanh tra, kiểm soát chặt chẽ chi tiêu, nhưng vẫn còn tình trạng lãngphí, kém hiệu quả trong việc thực hiện tiết kiệm chi ngân sách nhà nước
Dự báo năm 2009, tình hình kinh tế, tài chính và chính trị thế giới vẫn diễn biến phức tạp,khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn lan rộng Những tác động tiêucực của khủng hoảng tài chính thế giới sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta, tới sản xuấtkinh doanh và đời sống của nhân dân; từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu và tạo áp lựctăng chi ngân sách nhà nước Nhu cầu chi ngân sách nhà nước cho phát triển các sựnghiệp kinh tế - xã hội, cải cách tiền lương, an sinh xã hội đặt ra cấp bách
Mục tiêu của năm 2009 là: Bảo đảm mức động viên ngân sách nhà nước tích cực; cơ cấulại chi ngân sách nhà nước, ưu tiên chi cho con người và an sinh xã hội, kiểm soát chặtchẽ chi tiêu, giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, góp phần tiếp tục kiềm chế và giảmdần lạm phát, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăngtrưởng kinh tế với tốc độ tăng hợp lý và bền vững
Nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2009: