Tiêu chuẩn Có nhiều định nghĩa khác nhau, thay đổi theo thời gian, phản ánh quan điểmkhác nhau về tiêu chuẩnHiện tại, tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đưa ramột định nghĩa tiêu chuẩn,
Trang 1TIÊU CHUẨN HÓA
1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Tiêu chuẩn
Có nhiều định nghĩa khác nhau, thay đổi theo thời gian, phản ánh quan điểmkhác nhau về tiêu chuẩnHiện tại, tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đưa ramột định nghĩa tiêu chuẩn, được nhiều quốc gia, tổ chức công nhận rộng rãi,định nghĩa này như sau:Tiêu chuẩn là tài liệu được thiết lập bằng cách thoảthuận và do một cơ quan được thừa nhận phê duyệt nhằm cung cấp những quytắc, hướng dẫn hoặc đặc tính cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động để sửdụng chung và lặp đi lặp lại nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong mộtkhung cảnh nhất định
1.2 Tiêu chuẩn hoá
Khác với tiêu chuẩn, định nghĩa về Tiêu chuẩn hoá không thay đổi nhiều, về bảnchất Tiêu chuẩn hoá là hoạt động bao gồm: đưa ra tiêu chuẩn và áp dụng tiêuchuẩn.Định nghĩa đầy đủ của ISO vê Tiêu chuẩn hoá như sau:Tiêu chuẩn hoá làmột hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung và lặp đi lặp lại đối vớinhững vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn, nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trongmột khung cảnh nhất định
2 MỤC ĐÍCH CỦA TIÊU CHUẨN HOÁ
Mục đích của tiêu chuẩn hoá đã được thể hiện trong định nghĩa của tiêu chuẩnhoá đó là “nhằm đạt tới một trật tự tối ưu trong một hoàn cảnh nhất định” Cụthể, các mục đích đó là:
a Tạo thuận lợi cho trao đổi thông tin (thông hiểu): Phục vụ cho mục đích
này là những tiêu chuẩn định nghĩa, các thuật ngữ, quy định các ký hiệu, dấuhiệu để dùng chung Ví dụ ký hiệu toán học, nguyên tố hoá học, ký hiệu tượngtrưng các bộ phận, chi tiết trên bản vẽ, ký hiệu vật liệu…
Trang 2b Đơn giản hoá, thống nhất hoá tạo thuận lợi phân công, hợp tác sản xuất, tăng năng suất lao động, thuận tiện khi sử dụng, sửa chũa (kinh tê): Phục
vụ cho mục đích này là các tiêu chuẩn về các chi tiết nguyên vật liệu điển hìnhnhư bu lông, đai ốc, vít, đinh tán, thép định hình (I, U, L, T), động cơ, hộp đổi tốc,bánh răng, đai truyền (curoa) các kích thước lắp ráp: bóng đèn - đui đèn, máyảnh -ống kính, độ bắt sáng của phim ảnh…
c Đảm bảo vệ sinh, an toàn cho người sử dụng, người tiêu dùng Phục vụ
cho mục đích này là các tiêu chuẩn về môi truờng nước, không khí, tiếng ồn, cáctiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, an toàn cho sản phẩm, thiết bị (bàn là, bếp điện,máy giặt, thang máy, dụng cụ bảo hộ lao động: kính, găng, ủng, mặt nạ phòngđộc) Các tiêu chuẩn loại này thường là bắt buộc theo các văn bản pháp luậttương ứng
d- Thúc đẩy thương mại toàn cầu Việc hoà nhập tiêu chuẩn giữa các nước
xuất khẩu và nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại toàn cầu: traođổi hàng hoá sản phẩm, trao đổi thông tin
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, người ta cho rằng, tiêuchuẩn hoá có những mục đích chính như sau:
- Thúc đẩy áp dụng kỹ thuật mới, nâng cao năng suất lao động xã hội
- ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm, công trình
- Góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân
- Sử dụng hợp lý tài nguyên tiết kiệm nguyên vật liệu
- Đảm bảo an toàn lao động, sức khoẻ con người
- Phục vụ tốt nhu cầu quốc phòng
- Phát triển hợp tác quốc tế khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh xuất khẩu, hướng dẫnnhập khẩu
Để tránh khuynh hướng sai lầm trong tiêu chuẩn hoá, cần nêu rõ một số nétkhông phải là mục đích của tiêu chuẩn hoá:
- Không làm cho mọi thứ giống hệt nhau một cách không cần thiết
Trang 3- Không đưa ra khuôn mẫu để mọi người áp dụng máy móc mà không cần suyxét
- Không hạ thấp chất luợng tới mức tầm thường chỉ vì mục đích để tiêu chuẩnđược áp dụng rộng rãi
- Không ra lệnh hay cưỡng bức
Tiêu chuẩn chỉ là một tài liệu có thể sử dụng trong hợp đồng hay trong văn bảnpháp luật
3 ĐốI TƯỢNG CỦA TIÊU CHUẨN HOÁ
Đối tượng của tiêu chuẩn hoá là các chủ đề của tiêu chuẩn Chủ đề tiêu chuẩnhoá có thể là sản phẩm (viên gạch, bu lông, bánh răng, đường ống), nguyên vậtliệu (than, sắt thép, xi măng, cát, sỏi…), máy móc thiết bị (động cơ ô tô, động cơđiện, máy bơm, máy nén khí…).Đối tượng của tiêu chuẩn có thể là một quá trình(ví dụ: phương pháp xác định nhiệt lượng của than đá…), cũng có thể là nhưngđối tượng không phải sản phẩm như (đơn vị đo lường, ký hiệu các nguyên tốhoá học, ký hiệu toán học, dấu hiệu chỉ đường…)Nội dung một tiêu chuẩn có thểquy định về một đối tượng, cũng có thể quy định một vài khía cạnh của một đốitượng Tên của tiêu chuẩn phản ảnh đối tượng của tiêu chuẩn
4 CÁC NGUYÊN TẮC TIÊU CHUẨN HOÁ
Để hoạt động tiêu chuẩn hoá được tiến hành một cách hiệu quả cần tuân thủmột số nguyên tắc chính như sau:
Nguyên tắc 1: Đơn giản hoá
Tiêu chuẩn hoá trước hết là đơn giản hoá, có nghĩa là loại trừ những sự quá đadạng không cần thiết Trong sản xuất đó là việc loại bỏ các kiểu loại, kích cỡkhông cần thiết chỉ giữ lại những gì cần thiết và có lợi cho trước mắt và tươnglai
Nguyên tắc 2: Thoả thuận
Trang 4Tiêu chuẩn hoá là một hoạt động đòi hỏi phải có sự tham gia, hợp tác bình đẳngcủa tất cả các bên có liên quan.Nói chung, khi tiến hành công tác tiêu chuẩn hoáphải có một sự dung hoà quyền lợi của các bên.
Nguyên tắc 3: Áp dụng
Tiêu chuẩn hoá gồm hai mảng công việc chính là xây dựng và áp dụng tiêuchuẩn vì vậy phải làm sao cho các tiêu chuẩn áp dụng được, có như vậy tiêuchuần hoá mới đem lại hiệu quả.Bất cứ một cơ quan, tổ chức tiêu chuẩn hoánào nếu chỉ chú ý đến việc ban hành tiêu chuẩn mà không chú ý đến áp dụngtiêu chuẩn, thì hoạt động tiêu chuẩn hoá sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn
Nguyên tắc 4: Quyết định, thống nhất
Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn không phải lúc nào cũng đảm bảo được
nó là một giải pháp tuyệt đối ưu việt Trong nhiều trường hợp các tiêu chuẩnđược xuất phát từ các yêu cầu thực tế, không thể chờ đợi có sự nhất trí tuyệtđối, hoàn hảo.Lúc đó giải pháp của tiêu chuẩn là giải pháp đưa ra các quyết định
để thống nhất thực hiện
Nguyên tắc 5: Đổi mới
Tiêu chuẩn hoá là một giải pháp tối ưu trong một khung cảnh nhất định cho nêncác tiêu chuẩn phải luôn luôn được soát xét lại cho phù hợp với khung cảnh luônluôn thay đổi Trong thực tế tiêu chuẩn phải được xem xét nghiên cứu và soátxét lại một cách định kỳ hay bất cứ lúc nào nếu thấy cần thiết
Nguyên tắc 6: Đồng bộ
Công tác tiêu chuẩn hoá phải tiến hành một cách đồng bộ Trong khi xây dựngtiêu chuẩn cần xem xét sự đồng bộ giữa các loại tiêu chuẩn, các cấp tiêu chuẩn,các đối tượng tiêu chuẩn có liên quan Ngoài ra phải chú ý đến sự đồng bộ củakhâu xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn
Nguyên tắc 7: Pháp lý
Tiêu chuẩn ban hành ra là để áp dụng, nhưng phương pháp đưa tiêu chuẩn vàothực tế có khác nhau.Nói chung ở các cấp, bộ, công ty, tiêu chuẩn hoá được ban
Trang 5hành là dể bắt buộc áp dụng.ở cấp quốc tế và khu vực nói chung, tiêu chuẩn là
để khuyến khích áp dụng nhưng nó sẽ trở thành pháp lý khi các bên thoả thuậnvới nhau hoặc đưọc chấp nhận thành tiêu chuẩn bắt buộc ở cấp quốc gia haycác cấp khác.ở cấp quốc gia việc qui định tiêu chuẩn là bắt buộc hay chỉ khuyếnkhích phụ thuộc vào nhiều yếu tố
5 CẤP, LOẠI, HÌNH THỨC HIỆU LỰC CỦA TIÊU CHUẨN
5.1 Cấp tiêu chuẩn
Tuỳ theo quy mô, phạm vi hoạt động của cơ quan, tổ chức công bố (ban hành)tiêu chuẩn mà người ta chia tiêu chuẩn thành ra các cấp sau đây:Cấp quốc tế:Tiêu chuẩn do các tổ chức tiêu chuẩn có phạm vi hoạt động toàn cầu công bố:ISO, IEC, CAC, ITU, …- Cấp khu vực: Tiêu chuẩn do các tổ chức tiêu chuẩn hoákhu vực công bố: EN (tiêu chuẩn Châu Âu), ENELEC (tiêu chuẩn điện Châu Âu)
…Cấp quốc gia: Tiêu chuẩn do các tổ chức tiêu chuẩn quốc gia công bố: DIN(Đức), ANSI (Mỹ), BSI (Anh), TCVN (Việt Nam).- Cấp ngành hay hội: Tiêu chuẩn
do các tổ chức tiêu chuẩn ngành hay hội (liên kết nhiều công ty) công bố: ngànhchế tạo ô tô, hội thử nghiệm vật liệu…Cấp công ty: Tiêu chuẩn do một công tycông bố, ví dụ tiêu chuẩn hãng Philíp, tiêu chuẩn công ty Siemen…Khi nói về
“cấp tiêu chuẩn” người ta chỉ đơn giản nói về “cỡ” của tổ chức công bố tiêuchuẩn (công ty, quốc gia hay quốc tế) và mức độ phạm vi tham gia đông đảo củatập thể xây dựng tiêu chuẩn.Cấp tiêu chuẩn không nói về tính “cao thấp” của
“chất lượng” tiêu chuẩn cũng như không phản ánh mức độ áp dụng rộng rãi củatiêu chuần Một tiêu chuẩn của một ngành hay hội có thể được áp dụng rộng rãitrong nhiều quốc gia, khu vực, thậm chí áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.Trong khi đó thì một tiêu chuẩn quốc gia có khi chỉ áp dụng trong một vài tổ chứchay cá nhân nào đó
5.2 Phân loại tiêu chuẩn
Có nhiều cách phân loại tiêu chuẩn, người ta có thể phân loại tiêu chuẩn theođối tượng của tiêu chuẩn, tức là theo những vấn đề mà tiêu chuẩn đề cập đến,cũng có thể phân loại theo mục đích của tiêu chuẩn, phân loại theo vị trí pháp lýcủa tiêu chuẩn
Trang 65.2.1 Phân loại tiêu chuẩn theo đối tượng
Theo đối tượng, tiêu chuẩn được phân thành 3 loại:
- Tiêu chuẩn cơ bản: là những tiêu chuẩn sử dụng chung cho nhiều ngành, nhiềulĩnh vực Ví dụ: đơn vị đo lường, hằng số vật lý, ký hiệu toán học… các tiêuchuẩn về số ưu tiên, cách trình bày tiêu chuẩn
- Tiêu chuẩn về sản phẩm hàng hoá: là các tiêu chuẩn về các vật thể hữu hìnhnhư nguyên vật liệu: than, sắt, thép…, các thi tiết, cụm chi tiết: bu lông, trục,động cơ…, các máy móc thiết bị: ô tô, máy kéo…
- Tiêu chuẩn về các quá trình: là tiêu chuẩn quy định các yêu cầu mà một quátrình sản xuất thử nghiệm hay dịch vụ phải thoả mãn Ví dụ các phương pháp lấymẫu, phân tích…
5.2.2 Phân loại theo mục đích
- Các tiêu chuẩn nhằm mục đích thông hiểu: thuật ngữ định nghĩa, dấu hiệu, kýhiệu quy ước…
- Các tiêu chuẩn nhằm giảm bớt sự đa dạng và đổi lẫn sản phẩm: các tiêu chuẩn
5.2.3 Phân loại theo vai trò pháp lý của tiêu chuẩn
Theo vai trò pháp lý, người ta chia tiêu chuẩn ra làm 2 loại: tiêu chuẩn bắt buộc
và tiêu chuẩn tự nguyện
Tiêu chuẩn bắt buộc: là tiêu chuẩn mà những người có liên quan có nghĩa vụthực hiện
Trang 7Tiêu chuẩn tự nguyện: là tiêu chuẩn có sẵn, ai thấy ích lợi thì dùng.Hầu hết các
tiêu chuẩn khi công bố là tự nguyện, các cơ quan của chính phủ, các tổ chứckinh tế, xã hội… theo quyền hạn của mình ban hành các văn bản pháp luật trong
đó có “tham chiếu” các tiêu chuẩn, khi ấy nó trở thành bắt buộc
5.3 Hiệu lực của tiêu chuẩn
Như trên đã trình bày, xét về tính chất pháp lý, người ta chia tiêu chuẩn ra làm 2loại: tiêu chuẩn bắt buộc (mandatory standard) và tiêu chuẩn tự nguyện(voluntory standard), đôi khi người ta cũng gọi đó là “hình thức hiệu lực” của tiêuchuẩn và gọi bằng tên khác là “chính thức” và “khuyến khích” Hình thức hiệu lựccủa một tiêu chuẩn chỉ ra rằng, việc áp dụng tiêu chuẩn đó là bắt buộc hay tựnguyện.ở các nước công nghiệp phát triển hầu như toàn bộ tiêu chuẩn (100%) là
tự nguyện ở nước ta trước đây, hầu hết tiêu chuẩn (trên 90%) là bắt buộc
Thực ra điều ấy cũng chỉ là “hình thức”, nó không phản ảnh thực chất của việc
áp dụng tiêu chuẩn ở các nước công nghiệp, tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc giathường không phải là một cơ quan của Chính phủ vì vậy họ thường chỉ công bốtiêu chuẩn tự nguyện Nếu các cơ quan của Chính phủ thấy cần thiết phải quyđịnh bắt buộc sử dụng một tiêu chuẩn nào đó thì họ đưa tiêu chuẩn đó vào nộidung của một văn bản pháp luật Trong thực tế, một tỷ lệ khá lớn các tiêu chuẩn
đã trở thành “bắt buộc” theo cách này.ở các nước đang phát triển, đặc biệt là cácnước quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc giathường là một cơ quan Chính phủ (thậm chí tiêu chuẩn do một bộ trưởng ký banhành) nên họ có quyền quy định tất cả tiêu chuẩn là bắt buộc Trong thực tế,điều đó có thực hiện được không lại là một vấn đề khác.Về nguyên tắc, hầu hếtcác tiêu chuẩn của một công ty là tiêu chuẩn bắt buộc (tất nhiên trong phạm vicông ty đó); tiêu chuẩn ngành (hội) quốc gia, khu vực hay quốc tế đều là tựnguyện
6 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN
Để thực hiện các nguyên tắc của tiêu chuẩn hoá, đặc biệt là nguyên tắc “thoảthuận” người ta thực hiện xây dựng tiêu chuẩn theo “phương pháp ban kỹ thuật”
Trang 8tức là lập một Ban kỹ thuật tập hợp tất cả các bên quan tâm tới đối tượng tiêuchuẩn (đề mục tiêu chuẩn) để soạn ra tiêu chuẩn đó Về đại thể, việc xây dựngtiêu chuẩn ở tất cả các cấp (quốc tế, quốc gia, hội, công ty…) tất cả các ngành,các lĩnh vực chuyên môn đều theo những nét lớn giống nhau, chỉ khác nhau ởnhững chi tiết cụ thể.
6.1 Ban kỹ thuật
6.1.1 Ban kỹ thuật là gì ?
Ban kỹ thuật là một tổ chức tập hợp những người thay mặt cho các bên quantâm tới đối tượng tiêu chuẩn hay một nhóm tiêu chuẩn về một sản phẩm hay mộtlĩnh vực chuyên môn nhất định để soạn thảo tiêu chuẩn cho sản phẩm hay lĩnhvực chuyên môn đó.Bên dưới Ban kỹ thuật là Tiểu ban và Nhóm công tác
6.1.2 Thành phần ban kỹ thuật
Thành phần Ban kỹ thuật gồm tất cả các bên quan tâm tới đối tượng tiêu chuẩn.Đối với tiêu chuẩn của sản phẩm thường có các nhóm quan tâm sau đây:- Nhàsản xuất sản phẩm- Người tiêu thụ hay tiêu dùng sản phẩm- Các cơ quan tổchức hay nghiên cứu khoa học- Các cơ quan của chính phủMỗi Ban kỹ thuậtthường có từ 9 đến 20 thành viên, trong ban kỹ thuật có 1 uỷ viên thư ký làngười của cơ quan Tiêu chuẩn hoá.Ban ky thuật của tổ chức ISO tập hợp tất cảcác đại diện của tất cả các quốc gia quan tâm đến đề mục tiêu chuẩn, không loạitrừ một quốc gia nào, miễn là họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thành viên ban kỹthuật (đi họp, góp ý kiến, biểu quyết đầy đủ).Tổ chức ISO đã thành lập khoảng
220 ban kỹ thuật, trong đó có gần 200 ban đang còn hoạt động.Mỗi tổ chức Tiêuchuẩn hoá quốc gia có chừng vài chục tới vài trăm ban kỹ thuật, tập hợp chừngvài trăm tới vài ngàn cán bộ bên ngoài cơ quan Tiêu chuẩn hoá tham gia vàohoạt động xây dựng tiêu chuẩn
6.1.3 Nhiệm vụ của ban kỹ thuật
Nhiệm vụ chủ yếu của ban kỹ thuật là xây dựng tiêu chuẩn, ngoài ra còn một sốnhiệm vụ khác.- Soát xét (sửa đổi, thay thế) tiêu chuẩn- Đề nghị kế hoạch xâydựng, soát xét tiêu chuẩn- Góp ý cho các dự thảo tiêu chuẩn của các ban kỹ
Trang 9thuật khác có liên quan.- Tham gia hoạt động của các ban kỹ thuật cấp trên hoặccấp dưới.
6.2 Quá trình xây dựng tiêu chuẩn
Quá trình xây dựng tiêu chuẩn gồm những bước chủ yếu sau đây (nhưng khôngchỉ giới hạn trong những bước này):- Đề nghị đề mục tiêu chuẩn- Phê duyệt kếhoạch xây dựng tiêu chuẩn- Lập dự thảo ban kỹ thuật- Gửi dự thảo ban kỹ thuậtlấy ý kiến rộng rãi - Lập dự thảo cuối cùng- Phê duyệt và phát hành tiêuchuẩn.Quá trình xây dựng một tiêu chuẩn từ khi bắt đầu đến kết thúc thường là
5 năm hoặc hơn (với TC ISO), từ 3 đến 5 năm (với TC quốc gia của các nướcnói chung) và 1 đến 2 năm đối với TCVN
6.2.1 Đề nghị đề mục tiêu chuẩn
Mọi tập thể hay cá nhân trong tổ chức tiêu chuẩn có thể đề nghị đề mục xâydựng tiêu chuẩn Trong tổ chức ISO, mọi quốc gia thành viên ISO có thể đề nghịmục xây dựng tiêu chuẩn ISO, trong công ty, mọi bộ phận (marketing, thiết kế,cung ứng, kiểm soát chất lượng, bảo hành…) đều có thể đề nghị xây dựng tiêuchuẩn công ty
6.2.2 Phê duyệt kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn.
Vì không có đủ nguồn lực (nhân lực, tài chính…) để thực hiện mọi đề nghị đềmục tiêu chuẩn, nên tổ chức nào cũng cần quy định thủ tục đề phê duyệt xemnhững đề mục nào sẽ được thực hiện trong những khoảng thời gian nhất định.Những căn cứ để phê duyệt là tính cấp bách của đề mục, ý nghĩa và mức độquan tâm của các thành viên trong tổ chức, khả năng thực hiện, các nguồn lực
…
6.2.3 Soạn thảo dự thảo đề nghị
Dự thảo đề nghị là sơ thảo đầu tiên củạ tiêu chuẩn Dự thảo này có thể do chínhngười (tổ chức) đề nghị đề mục tiêu chuẩn soạn thảo ra đề trình cho ban kỹthuật Nếu đề mục xây dựng được phê duyệt khi chưa có dự thảo đề nghị thìban kỹ thuật phải chỉ định ra một nhóm làm việc để soạn thảo dự thảo đề nghịnày
Trang 106.2.4 Lập dự thảo ban kỹ thuật
Dự thảo đề nghị sau khi được các thành viên ban kỹ thuật xem xét, sửa chữa,nhất trí thông qua thì trở thành dự thảo ban kỹ thuật
6.2.5 Gửi dự thảo ban kỹ thuật đi lấy ý kiến rộng rãi
Dự thảo ban kỹ thuật sẽ được gửi đi lấy ý kiến rộng rãi Thông thường sẽ có mộtthông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để mọi người quan tâm có thểnhận được dự thảo ban kỹ thuật nếu họ muốn Người ta cũng ấn định mộtkhoảng thời gian (dài ngắn tuỳ theo thủ tục cụ thể) để mọi người gửi ý kiến góp ý
về ban kỹ thuật
6.2.6 Lập dự thảo cuối dùng
Các ý kiến đóng góp sẽ được ban kỹ thuật xem xét, khi cần có thể mời người đãgóp ý đến để trình bày và cùng thảo luận Dự thảo tiêu chuẩn đã được sửa chữasau khi xem xét tới tất cả các ý kiến đóng góp là dự thảo cuối cùng
6.2.7 Phê duyệt và phát hành tiêu chuẩn
Dự thảo cuối cùng cùng với hồ sơ xây dựng tiêu chuẩn (các dự thảo trước, các ýkiến đóng góp, biên bản các cuộc họp, các tài liệu tham khảo…) được chuyểnlên bộ phận có thẩm quyền theo quy định để phê duyệt
6.3 Chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn quốc gia
Tiêu chuẩn quốc gia có thể được xây dựng từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau:kết quả của các chương trình nghiên cứu tiêu chuẩn của các công ty, các ngành
đã được sử dụng trước đó nhưng có một nguồn rất quan trọng đó là công nhậntiêu chuẩn quốc tế
6.3.1 Tại sao phải chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn quốc
Trang 11- Lý do hoà nhập: Để tạo điều kiện cho việc tiếp thu kinh nghiệm, trao đổi kiếnthức, trao đổi hàng hoá… các tổ chức kinh tế, xã hội, khoa học… quốc tế thườngyêu cầu các quốc gia thành viên “hoà hợp” tiêu chuẩn quốc gia trên cơ sở cáctiêu chuẩn quốc tế, nếu đã có tiêu chuẩn quốc tế, trong lĩnh vực, phạm vi đó.
6.3.2 Tại sao không dịch “nguyên si” các tiêu chuẩn quốc tế
- Bản thân TCQT đôi khi cũng có những sai lỗi nhỏ
- Có thể có các cách diễn đạt khác nhau về đơn vị đo lường hay ký hiệu chữ cái,hình vẽ… cần phải chú giải thêm
- Cần lựa chọn, nếu tiêu chuẩn quốc tế đưa ra quá nhiều phương án, quá nhiềugiải pháp.Một số quy định của TCQT không thể sử dụng được trong điều kiệntrang thiết bị, nguyên vật liệu của chúng ta vì vậy cần thay đổi các quy định đócho thích hợp
6.3.3 Nguyên tắc khi chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn quốc
gia
Các tổ chức quốc tế khuyến khích các quốc gia chấp nhận càng nhiều càng tốtcác tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn quốc gia, đồng thời phải bảo đảm cácnguyên tắc sau:Chỉ sửa chữa thay đổi các điều khoản của tiêu chuẩn quốc tế ởnhưng chỗ thật cần thiết, tránh làm xáo trộn các điều khoản chỉ vì lý do hình thứctrình bày, điều này gây khó khăn cho việc sử dụng tiêu chuẩn sau này Cần sửdụng một phương pháp trình bày sao cho phân biệt được ngay những điều nào
đã bị thay đổi hay thêm vào.Nếu một tiêu chuẩn quốc gia tương đương với mộttiêu chuẩn quốc tế thì nên chỉ rõ số hiệu của tiêu chuẩn quốc tế tương ứng
7 ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN
7.1 Khái niệm
Trước đây người ta có quan điểm tương đối khắt khe về việc áp dụng tiêuchuẩn “áp dụng tiêu chuẩn là tiến hành các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháplý… để thực hiện các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn” Một tiêu chuẩn đượccoi là “được áp dụng” khi nào trên thị trường không còn tồn tại những sản phẩm