TÂY TIẾN “Quang Dũng viết khá sớm trước Tây Tiến – 1948, anh đã làm thơ, mặc dù phải từ Tây Tiến, anh mới khẳng định được một phong cách thơ riêng và sáng tác nhiều thể loại.. Tác giả củ
Trang 1TÂY TIẾN
“Quang Dũng viết khá sớm (trước Tây Tiến – 1948, anh đã làm thơ, mặc dù phải từ Tây Tiến,
anh mới khẳng định được một phong cách thơ riêng) và sáng tác nhiều thể loại Tác giả của bài hát
Ba Vì mờ cao mà mỗi nốt nhạc, lời thơ từng lắng sâu vào đáy hồn những người thanh niên xa nhà đi
kháng Pháp, cũng là tác giả của nhiều bài thơ tình nằm trong ký ức sâu thẳm và thành hành trang
tinh thần của nhiều thế hệ, nhiều thời (Mắt người Sơn Tây, Tây Tiến, Những làng đã qua, Đường trăng…) mà phần nhiều được truyền bằng những bản chép tay chứ không cần đến bản in giấy trắng,
mực đen Quang Dũng là tác giả của những tập truyện ký, với phong thái riêng khó lẫn, lại cũng là tác giả của những bức tranh, đa phần là tranh lụa, vẽ phong cảnh Viết sớm và nhiều như vậy, nhưng
vốn là người thích “giang hồ”, lại vốn không chuyên tâm đến việc xuất bản, in ấn và lưu giữ, vì thế
sáng tác của Quang Dũng bị thất lạc nhiều Và, cho đến hết đời, Quang Dũng vẫn chỉ là chủ nhân của một gia tài không mấy lớn lao so với những bạn viết cùng lứa, cùng thời: hai tập thơ và ba tập văn xuôi (kể cả những tập in chung với bạn thơ, bạn văn)
Quang Dũng sống đôn hậu và trong con người đôn hậu ấy ẩn chứa một tâm hồn nghệ sĩ hùng hậu, đầy vẻ dân dã Dù sớm phải xa quê, giã nhà đi kháng chiến, nhưng trên suốt nẻo đường chinh chiến,
đi đâu, đến đâu và làm gì, con người bình dị ấy vẫn luôn hướng về quê hương Quang Dũng có khả năng hòa hợp tuyệt diệu và rung động tinh nhạy với những chòm xóm, cảnh quê, với tình cảm đồng quê chân mộc, lam lũ nhưng cũng rất thơ mộng Chính cảm xúc hồn hậu ấy, cái hồn quê ấy là cái hồn của những bức tranh quê được phát vẽ tài tình trong thơ anh bằng ngòi bút của một nghệ sĩ có
năng khiếu thẩm mĩ tổng hợp – “Cầm, kì, thi, hoạ” Cảnh hiện lên trong thơ anh không bàng bạc
mà có thần thái, sinh động trong sự hòa hợp nhuần nhuyễn của âm thanh với sắc màu, của tình với cảnh Có một sức gì níu giữ, gợi cảm ở những cảnh quê chân mộc thế này:
Bến cuối thôn xuân hoa gạo rơi Sông xanh hiền triết lặng trôi xuôi
Đò ngang một chuyến qua mưa bụi
Ấm áp trong mưa tiếng nói cười…
Hoặc:
Là những đường quân qua bến làng
Hoa nhài thơm ngõ đượm quân trang
Lớp này lớp khác người sang hết
Thuyền lại nằm phơi dưới nguyệt vàng
Hoặc nữa: Nắng nửa sông xa mờ khí núi
Cánh hồng nhạt nhạt mây phiêu lưu…
Trong thơ Quang Dũng, hầu hết là những “bức tranh quê” như thế Với ý tưởng chủ đạo “quê hương trường cửu cùng non nước; Ba chục năm trời vẹn ý thơ”,Quang Dũng đã cố gắng lột tả cho hết vẻ đẹp nồng hậu của quê hương Việt Nam với những nét đặc sắc riêng không lẫn, góp cho thơ Việt Nam những bức tranh quê đầm thấm, xúc động lòng người.Trong tình yêu quê hương, đất nước mênh mang ấy, vẫn có một góc niềm riêng sâu thẳm, trong lành nhất, Quang Dũng dành riêng cho
xứ Đoài-quê hương anh, nơi anh từng sống gắn bó suốt tuổi thơ Có người đã nói”Quang Dũng là nhà thơ của xứ Đoài”, quả cũng một phần có lí Viết về xứ Đoài, thơ anh đằm sâu, da diết cả trong
Trang 2tâm tưởng và tình cảm Những ngày phải xa quê, canh cánh trong anh là nỗi mong ngóng nhớ nhung khắc khoải về vùng quê xa ấy:
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Nhiều khi không kìm được, anh phải thốt thành lời cho nguôi ngoai nỗi nhớ” Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm…” Cháy bỏng nỗi khát khao, ngày được trở lại, được say sưa hít thở không khí thôn dã, được đắm mình trong hương mùa màng, được tận hưởng niềm vui thưởng ngoạn tận hưởng vẻ đẹp của quê hương:
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi thêm trăng
Có người làm thơ lấy cái “chân” làm gốc, lại cũng có người trọng sự tài hoa Ở Quang Dũng là sự kết hợp tuyệt vời giữa vẻ đẹp chân chất, dân dã với tài hoa tinh tế Nhiều bài thơ, do vậy đạt đến độ chân tài Bên cạnh Tây Tiến, là những bài thơ từng sống và lắng sâu trong tâm tưởng người đọc: Mắt người Sơn Tây, Những làng đã qua, Đường trăng, Những cô hàng xóm…
Quang Dũng viết hồn nhiên và rất thật Dường như chưa bao giờ anh giấu mình và càng không bao giờ dối mình trong thơ Từ sự dấn thân, mang đậm hào khí của cả một lớp người thời đại:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…
Đến những kỉ niệm, những tâm sự buồn vui của cuộc đời chinh chiến và sau này nữa, cả cảm giác chật chội thiếu chân trời trong Mây đầu ô đều là tâm sự thật, cảm giác thật của riêng anh được bộc bạch trên trang giấy Những lời nhắc nhở trong Đường chiều thứ bảy, cũng mang nét riêng của Quang Dũng: không gân cốt mà thấm thía bởi đó là sự nhắn gửi thiết tha của một tấm lòng nhân hậu, trọng nghĩa tình
Thơ Quang Dũng có nhiều bài lắng buồn: Mưa, Quán nước, Thu, Chiều núi mưa rào… Ngay
cả cái buồn ấy cũng là tâm trạng thực của anh viết ra nhiều khi dễ gây hiểu lầm, song anh vẫn không ngại bộc bạch
Quang Dũng không viết một cái gì chung chung Với anh, thơ là sản phẩm, mang sắc thái riêng và cụ thể những gì anh đã sống trải, quan sát và ghi nhận được.Phần không nhỏ tạo nên sức hấp dẫn và giá trị lâu dài của thơ chính là ở tính cụ thể, chân sát ấy Nhờ vậy, chúng ta mới có được những bài thơ có sức gợi dựng lại cả một thời hoặc lưu khắc lại chân dung sát thực của cả một thế
hệ, dạng như Tây Tiến, Những làng đã qua, đường 12, những cô hàng xóm, đường trăng…
Dù Quang Dũng để lại cho chúng ta không nhiều thơ nhưng mặc nhiên bốn mươi năm nay, anh là nhà thơ được mến mộ Với Rừng Biển quê hương (tập thơ in chung với Trần Lê Văn), Bài thơ Sông Hồng, Mây đầu ô Quang Dũng đã dành cho chúng ta phần quý đẹp riêng của tâm hồn và
cá tính sáng tạo độc đáo của một nghệ sĩ chân tài, đầy nhiệt tâm với quê hương, đất nước và con người
Trang 3Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ
ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại
(…) Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng, Nguyên Phái Viên phòng quân sự Bắc Bộ và học viên lớp quân sự ở Tông (Sơn Tây ) về Phùng từ giã Mẹ già, Vợ trẻ, con thơ để lên đường gia nhập đoàn quân Tây Tiến Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm
vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao quân đội Pháp ở Thượng Lào để hỗ trợ cho những vùng khác trên đất Lào Địa bàn đóng quân và hoạt động của Tây Tiến khá rộng : từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về qua miền Tây Thanh Hoá Bộ đội Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, lao động chân tay cũng lắm, trí thức cũng nhiều Có những học sinh cũ của các trường Sư Phạm, Bưởi, Thăng Long, Văn Lang như Quang Dũng, Vạn Thắng, Tuấn Sơn, Như Trang… Riêng Tuấn Sơn và Như Trang đã đỗ tú tài và thường được gọi là hai “ Cậu Tú” Bác sĩ Phạm Ngọc Khuê cũng là một trí thức và một thầy thuốc có tiếng Lại có những nữ chiến sĩ hoa khôi của thủ đô như y tá Phương Lan…Xuất thân “ bình dân” thì có anh trước kia bán “ phá xan” (lạc rang) , có anh trước kia làm đồ tể ở lò mổ Họ sống với nhau rất vui Anh đồ tể có thể biểu diễn mổ bò trong chớp mắt để tổ chức liên hoan Cô y tá xinh đẹp súng lục đeo bên sườn, phi ngựa như bay Ai thiếu áo thì đồng đội có thể cởi áo tặng ngay Cái gian khổ, cái thiếu thốn về vật chất của tây Tiến cũng khủng khiếp Hồi ấy ở rừng, sốt rét hoành hành dữ dội Đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều Đại đội trưởng kim nhạc sĩ Như Trang sáng tác bài hát “ Tiếng còng quân y”
tả cái tiếng còng rền rỉ không mấy ngày là không nổi lên ở trạm quân y, báo hiệu một đồng chí qua đời vì sốt rét Thuốc chữa bệnh rất hiếm, nhất là món Ký ninh vàng Mỗi buổi sáng, cô y tá bỏ vài viên vào một chai nước Mỗi bệnh nhân được uống một chén Thơ Quang Dũng viết “ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” là nói về những cái đầu cạo trọc để khi đánh giáp lá cà, Tây cũng không nắm được chiến sĩ ta Nhưng “ không mọc tóc” còn có nghĩa sốt rét đến nỗi tóc cũng không mọc được “ Quân xanh màu lá” vì sốt rét như thế mà “ vẫn dữ oai hùm” nhiều trận đánh làm cho giặc Pháp kinh hoàng Như trận Dốc Đẹt ( trên đường từ Phố Vàng sang Mườn Bi) có những chiến sĩ sốt rét run cầm cập, vẫn nằm nguyên ở vị trí chiến đấu, bắn súng, ném lựu đạn, vần đá từ trên cao xuống tiêu diệt địch Bọn giặc sống sót phải rút lui xuống Suối Rút
Đoàn quân tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đoàn 52 Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh anh viết bài thơ Tây Tiến Bài thơ vừa ra đời đã được đọc trong và ngoài quân đội truyền tay, truyền miệng cho nhau Trong tập “thơ” do nhà xuất bản Vệ quốc quân liên khu III ấn hành năm 1949, bài thơ có nhan đề là “ Nhớ Tây Tiến” Năm 1957, khi đưa bài này vào tập “ Rừng biển quê hương” ( in chung với Trần Lê Văn – Nhà Xuất Bản hội nhà văn) Quang Dũng bỏ chữ “Nhớ”, chỉ lấy hai chữ “ Tây Tiến”
***********************
Nét độc đáo trong bài thơ “Tây Tiến”
- Đơn vị nhỏ nhưng mãi mãi đi vào lịch sử
Tây Tiến chỉ là một đơn vị nhỏ cỡ Trung đoàn Trung đoàn 52 Tây Tiến thành lập tháng 2 năm
1947 Trong những ngày bi tráng đơn vị đã có gần 200 chiến sĩ hi sinh chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Nhưng Tây Tiến có nhà thơ và là người chỉ huy Quang Dũng nên Tây Tiến đã đi vào lịch
sử và nổi tiếng nhờ bài thơ kiệt tác Nhà thơ Vân Long cho biết chúng ta đã có cuộc kỉ niệm 60 năm bài thơ Tây Tiến ra đời Chưa từng có bài thơ nào lại vinh dự được kỉ niệm ngày sinh như vậy Và điều đặc biệt là đài tưởng niệm Trung đoàn Tây Tiến, 10 câu thơ quan trọng nhất của bài được khắc
Trang 4vào nền bia Những người chiến sĩ áo lính đã dùng thơ để viết lịch sử của đơn vị mình Hiện tượng Tây Tiến gợi nhớ câu thơ của Hữu Thỉnh:
Không có sách chúng tôi làm ra sách
Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
Quả là một truyền thống độc đáo của những người lính cụ Hồ trong mọi thời chống giặc
- Thay đổi tên nhưng cảm xúc không đổi
Việc đặt tên cho tác phẩm nhiều khi cũng như đặt tên cho con Có cái tên đặt rồi, sau người đặt không ưng lại đặt lại Đặt tên lại cho con thì phải có đơn từ, trình báo với công an hộ khẩu Đặt tên lại cho tác phẩm thì chỉ cần tác giả tự sửa rồi đưa vào tập thơ Với trường hợp của Quang Dũng,
theo tôi biết thì không phải là duy nhất Hàn Mặc Tử đặt tên đầu tiên cho bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ là
Ở đây thôn Vĩ Giạ; Nguyễn Đình Thi viết bài thơ Đất nước lúc đầu đặt tên là bài Sáng mát trong như sáng năm xưa, sau đó viết thêm bài Đêm mít tinh và gộp hai bài thơ lại và viết thêm rồi đổi tên thành bài Đất nước Quang Dũng viết Nhớ Tây Tiến rồi bỏ chữ “Nhớ” đi chỉ còn lại Tây Tiến Đành
rằng cả bài thơ là một nỗi nhớ lớn về Tây Tiến Nhưng theo tôi, bỏ chữ “Nhớ” đi , nhan đề gọn hơn Mặt khác, không chỉ có nỗi nhớ, mà ở đấy còn có sự ngợi ca, sự tôn vinh những chiến sĩ Tây Tiến
Có thêm “Nhớ” hóa ra lại thu hẹp mạch cảm xúc của bài thơ
Tuy đổi tên, nhưng nỗi nhớ trong bài thơ vẫn là một nét chủ đạo, quán xuyến Trong bài, có nhiều
từ “ nhớ” là điều tất nhiên Bởi vậy chúng ta sẽ bắt gặp nhiều trạng thái nhớ Những biến thái
“Nhớ về”, “nhớ chơi vơi”, “nhớ ôi”, “có nhớ” như những nốt nhấn trong một hợp âm, như điệp khúc nhớ trong bản nhạc thể hiện cao trào tình cảm tha thiết của tác giả với đơn vị Tây Tiến của mình Những nỗi nhớ khác nhau hợp thành nỗi nhớ lớn, như suối nhỏ chảy thành sông dài khiến cho tính chất hoài niệm trở thành dòng cảm xúc chủ đạo của toàn bài
Điều đáng nói là Quang Dũng đã góp vào thơ ca Việt một “kiểu nhớ” mới: nhớ chơi vơi!
Nhớ chơi vơi là một đóng góp mới của Quang Dũng bên cạnh những nhớ bổi hổi bồi hồi, nhớ ngẩn ngơ của ca dao ( Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống than Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai); nhớ “day dưa” của thơ hiện đại ( Hoa cúc vàng như nỗi
nhớ day dưa- Tế Hanh)
- Lãng mạn và hiện thực
Bài thơ Tây Tiến rất thành công nhờ kết hợp hài hòa bút pháp lãng mạn và hiện thực Nếu chỉ có hiện thực trần trụi, chắc Tây Tiến không thể có sức cuốn hút mạnh mẽ Nhưng nếu chỉ có toàn chất lãng mạn, thì Tây Tiến cũng khó mà được chấp nhận ( Về sau có nhiều lí do khiến bài thơ này không được phổ biến, mà quan trọng là người ta đã gán cho nó tính chất lãng mạn tiểu tư sản!)
Chính Quang Dũng trong câu chuyện của mình cũng khẳng định những yếu tố hiện thực như “mở rừng, ngủ rừng Những cái dốc thăm thẳm “ Heo hút cồn mây súng ngửi trời” những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “ Mường Hịch cọp trêu người”; rồi rải rác dọc biên cương những nấm “mồ viễn xứ”… tôi mô tả trong bài thơ Tây Tiến là rất thực…” ( Nhớ về Tây Tiến – trong Nhà
văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn, nxb Văn học 1998, trang 155) Những hình ảnh lãng
mạn như : Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Hoặc Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa/ kìa em xiêm áo tự bao giờ…Đặc biệt là hình ảnh các chiến sĩ vừa oai hùng vừa
mộng mơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Trang 5Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Chất hiện thực và lãng mạn đã làm cho bài thơ có gian khổ, mất mát, hi sinh nhưng cũng tràn đầy niềm lạc quan, khỏe khoắn; giọng thơ vừa chân thành vừa bi tráng, hào hùng, phản ánh hào khí
và chất lãng mạn một thời gắn với lịch sử kháng chiến anh dũng của dân tộc
- Những hình ảnh thơ độc đáo mới mẻ
Hình ảnh dốc núi thì thật hùng vĩ và độc đáo:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Từ khúc khuỷu đặt giữa câu thơ cho ta cảm nhận cái quanh co hiểm trở của dốc Mà dốc cao lắm cho nên mới thăm thẳm Câu thơ bảy chữ thì đã có 5 chữ vần trắc như cái sự ngoằn ngoèo gập
ghềnh của con dốc
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Câu thơ cho người đọc hình dung độ cao chót vót đến mức cồn mây heo hút, xa vắng, đơn độc Đến độ cao ấy thì súng có thể chạm trời, có thể ngửi thấy mùi trời Với độ cao ngàn thước lên và xuống như vậy, cho nên khi xuống hết ngàn thước thì câu thơ toàn vần bằng như một khoảng mở, như một sự sung sướng thở dài khoan khoái sau khi vượt dốc:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Câu thơ vang ngân đọc thật thích mà nghe càng thích!
Những hình ảnh thơ đẹp về thiên nhiên và con người Tây Bắc còn thể hiện ở những câu thơ khác Chẳng hạn:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Có đường nét, có hình ảnh cơm lên khói; có mùi thơm xôi nếp, có hình ảnh người em gái Mai Châu nấu xôi cho chiến sĩ Xin nói thêm, mùi xôi nếp Tây Bắc vô cùng ấn tượng Chả thế mà Chế Lan
Viên cũng viết : Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch/ Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương ( Tiếng
hát con tàu)
Hoặc hình ảnh này:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Sương, lau, độc mộc, nước lũ là những hình ảnh thân quen đặc biệt Tây Bắc, rất Tây Bắc đẹp và thơ
Người lính Tây Tiến Quang Dũng, người đại đội trưởng Tây Tiến Quang Dũng tài hoa và
mơ mộng đã đưa vào thơ những vẻ đẹp Tây Bắc
Nhà thơ Tố Hữu cũng đã khắc họa hình ảnh người chiến sĩ trong khung cảnh đèo dốc núi miền Tây:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài in đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo
Lên Tây Bắc
Trang 6Nhưng những hình ảnh ấn tượng nhất trong thơ Tố Hữu là hình ảnh núi rừng Việt Bắc trong bài thơ Việt Bắc Còn hình ảnh Tây Bắc là sáng tạo độc quyền mang tên Quang Dũng
Hình ảnh đẹp và ấn tượng nhất là hình ảnh các chiến sĩ Tây Tiến ( Dù đã trích ở trên, tôi vẫn một lần nữa trích lại) :
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Những chàng trai trong bài Nhớ của Hồng Nguyên hoặc còn chờ độc lập mới lấy vợ, hoặc nhớ người vợ trẻ mòn chân bên cối gạo canh khuya Còn trong bài Đồng chí của Chính Hữu thì họ nhớ
cô thôn nữ bên “ giếng nước, gốc đa” của làng quê Các chàng trai Tây Tiến có khác Họ mơ mộng thiếu nữ Hà Nội “ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
- Những sáng tạo độc đáo
Ngoài hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến làm quân thù khiếp sợ, hình ảnh Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ, đầy chất thơ, trong bài thơ, tác giả đã dùng những hình ảnh, những cảm giác mới lạ Đôi
chỗ chỉ có thể, cảm, hiểu mà khó cắt nghĩa rạch ròi như nỗi nhớ nhớ chơi vơi, hoặc đêm hơi trong MườngLát hoa về trong đêm hơi; hoặc nữa mùa em thơm nếp xôi trong Mai Châu mùa em thơm nếp xôi; và tiếp nữa là Sông Mã gầm lên khúc độc hành Nhà thơ Phan Quế từng bình: “ Câu thơ
như một tuyệt bút thiên nhiên về sông Mã Tôi chưa đọc thấy câu thơ nào viết về con sông này hay hơn thế Âm vang của câu thơ là khí tiết của con sông chiến trận, quả cảm và dũng mãnh trong độc khúc binh lửa của mình mà tạo nên chất hiệp sĩ của tứ thơ” ( Đài tưởng niệm thơ Tây Tiến) Tôi muốn nói thêm rằng trong cảm xúc của Quang Dũng, dòng sông của đất nước, quê hương như cũng xúc động, gầm lên tiễn đưa những người con vinh quang của tổ quốc hi sinh thiêng liêng, bi tráng!
- Tây Tiến bất tử
Cũng nên nhắc lại rằng, một thời gian dài, Tây Tiến bị xem là “còn rơi rớt chất lãng mạn tiểu
tư sản” nên bài thơ ít được phổ biến Nhưng nó vẫn sống trong trái tim trí nhớ của những người yêu thơ
Mới đây nhất, trên báo mạng đưa tin tại Mai Châu, Hòa Bình đã dựng xong đài tưởng niệm Tây Tiến Mười câu thơ của bài Tây Tiến được khắc vào bia tưởng niệm Quang Dũng đã góp phần làm cho Tây Tiến sống mãi trong lòng bạn đọc Đặc biệt là khi bài thơ được đưa vào chương trình Ngữ văn 12 Tây Tiến sẽ được lớp lớp bạn trẻ nhắc đến trong những giờ học của mình Kiệt tác Tây Tiến chắc chắn sẽ bất tử
***********************
Đặc điểm của bút pháp lãng mạn
Bài thơ "Tây Tiến" được viết bằng bút pháp lãng mạn Bút pháp này có đặc điểm:
a) Thể hiện cái tôi trữ tình giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng
b) Nhạy cảm với cái phi thường, khác thường,lý tưởng Cho nên, có viết về những cái có thực thì cũng được lãng mạn hóa, độc đáo hóa
Trang 7c) Nhạy cảm với vẻ đẹp của cảnh và người mang màu sắc xứ lạ.
d) Hay viết về nỗi buồn, cái chết nhưng để tô đậm vẻ đẹp bi tráng
e) Hay sử dụng thủ pháp đối lập
***********************
CÁI TÔI TRỮ TÌNH ĐỜI THƯỜNG CỦA QD TRONG TÂY TIẾN
Tuy có đề cập đến cái tôi trữ tình công dân nhưng nhà thơ vẫn chuyên chú vào cái tôi trữ tình đời thường Cái tôi trong thơ Quang Dũng có phảng phất hào khí cổ điển phương Đông (kẻ sĩ, quân tử, trượng phu), kết hợp với điệu hồn lãng mạn của Thơ mới Nhưng, nổi bật vẫn là cái tôi tình người - tình người của con người một thời đại cách mạng - nhưng ý nghĩa nhân văn của nó đã trở thành muôn thuở Cái tôi ấy đã đề cao nguyên tắc tối thượng là tình người
Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng thiên về cái tôi trữ tình - đời thường Ông nhìn người lính Tây Tiến trong chiến tranh, ở phương diện đời thường hơn là trong chiến trận Nhưng từ cái tình người trong đời thường, lại toả sáng: người lính - nghệ sỹ - anh hùng, làm bật lên khí phách anh hùng của họ Ngay từ phần tả dốc nhà thơ đã gợi tả tình quân dân:
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Bức tranh sinh hoạt của người dân hiện ra mù mờ bởi câu hỏi: “nhà ai” và từ phiếm chỉ “ai” gợi khoảng cách địa lý xa vời với tầm nhìn bị che khuất Hình ảnh “mưa xa khơi” như nhấn thêm vẻ mù
mờ ấy Bức tranh nhà dân tuy mờ ảo nhưng không bí ẩn, rợn người vì đó là tín hiệu ấm áp, gợi tình cảm quân dân cá nước, cảm hứng tình người trong mỗi chiến sĩ
Nhà thơ đã dành bức tranh đêm liên hoan lửa trại biên giới Việt - Lào và cảnh hoàng hôn Châu Mộc để gợi tình người, tình yêu, tình hữu nghị
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ
Hình ảnh “hội đuốc hoa” là một ẩn dụ kép đa nghĩa Ở lớp nghĩa tả thực là đốt đuốc để thắp sáng trong đêm lửa trại Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thường có những cuộc liên hoan giữa bộ đội và nhân dân vào lúc đón và tiễn bộ đội Nhưng chủ yếu là lớp nghĩa hàm ẩn mang màu sắc lãng mạn, tinh nghịch nhưng lành mạnh Ở lớp nghĩa này “hội đuốc hoa” có nghĩa là lễ cưới (đêm tân hôn) Tác giả sử dụng lối chơi chữ hiện đại Đêm tân hôn theo chữ Trung Quốc gọi là “động phòng hoa chúc” Tác giả mượn hai chữ “hoa chúc” để gợi Hoa chúc có nghĩa là hoa nến Để sát với thực
tế tác giả đổi “nến” thành “đuốc” (hoa đuốc) Để hiệp vần tác giả lại dùng phép đảo ngữ thành
Trang 8“đuốc hoa” Chữ “kìa” như là một tiếng reo gợi sự ngạc nhiên, bối rối của các chiến sỹ trước cái lạ của xứ lạ: trang phục lạ (xiêm áo); vũ điệu lạ (man điệu); giao tiếp lạ (e ấp) Cử chỉ e thẹn của các
cô gái vừa gợi nét tâm lý thực của các thiếu nữ sơn cước, vừa gợi tâm lý của các cô dâu mới Nét nhạc chơi vơi cùng với vũ điệu Lăm Vông của các cô gái Lào làm say đắm các chàng trai Hà Nội, biến họ thành thi sỹ (xây hồn thơ)
Nếu bức tranh đêm lửa trại biên giới, thiên về gợi cái đẹp của tình người thì bức tranh vượt thác trên sông nước Châu Mộc lại có sự hài hoà giữa cái hùng và cái đẹp:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Giọng thơ mềm mại hiền hoà, phù hợp với không khí ấm cúng của tình quân dân lúc chia tay (người đi và kẻ ở) Con người và thiên nhiên đẹp trong sự hài hoà: thiên nhiên đa tình (hồn lau) hài hoà với người chiến binh đa cảm (hồn thơ) Dáng người lái đò với tay lái uyển chuyển (dáng người trên độc mộc) hài hoà với dáng hoa duyên dáng (đong đưa)