1. Trang chủ
  2. » Tất cả

De thi Nang hang cuoi dot

8 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 398 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về tư vấn định hướng cho học sinh THPT Tư vấn học đường là hoạt động trợ giúp cho học sinh nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã h

Trang 1

BÀI LÀM PHẦN CHUNG (60 phút)

1 Các loại hình tư vấn định hướng cho học sinh THPT? Liên hệ đơn vị bạn?

2 Thuận lợi và khó khăn của bản thân đơn vị bạn khi chuyển mạnh quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức là chủ yếu, sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học

Câu 1: a Khái niệm về tư vấn định hướng cho học sinh THPT

Tư vấn học đường là hoạt động trợ giúp cho học sinh nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp; phát hiện sơm và phát triển các chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp trong nhà trường Nhiệm vụ chủ yếu của tư vấn học đường là: Đánh giá nhu cầu sức khỏe, tâm thần của học sinh, phòng ngừa hỗ trợ học sinh, cha mẹ học sinh giải quyết các vấn đề vưỡng mắc trong đời sống tâm lí của học sinh; nghiên cứu và phát triển chương trình hỗ trợ, can thiệp cho học sinh

b Các loại hình tư vấn định hướng cho học sinh THPT

Trong trường THPT, để tư vấn định hướng cho học sinh, thông thường được thực hiện dựa trên 3 loại hình chủ yếu:

Tư vấn theo cá nhân: Là loại hình tư vấn phổ biến trong trường học

- Học sinh có nhu cầu trực tiếp được tư vấn: Học sinh nếu có vấn đề về tâm lý, sức khỏe, tinh thần hoặc định hướng nghề nghiệp có thể chủ động gặp GVBM, GVCN, ĐTN, BGH để xin ý kiến tư vấn trợ giúp

- Giáo viên chủ động gặp học sinh tư vấn: Trong quá trình giáo dục và dạy học, nếu giáo viên phát hiện học sinh có những biểu hiện tiêu cực hay tích cực, có nhu cầu cần phải tư vấn , thì giáo viên chủ động gặp riêng để trao đổi và đưa ra những lời khuyên hay giải pháp tư vấn cho học sinh

Tư vấn theo nhóm:

- Loại hình này thường được sử dụng để tư vấn cho một nhóm học sinh về một số vấn đề có liên quan hoặc những buổi sinh hoạt, nói chuyện trước lớp về những chuẩn mực đạo đức xã hội trong một số lĩnh vực hay những buổi tư vấn định hướng nghề nghiệp trước lớp

Tư vấn toàn trường:

- Được lồng ghép vào những buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp hay những buổi hoạt động hướng nghiệp do nhà trường tổ chức vào sáng thứ 2 hàng tuần

- Các buổi tư vấn tuyển sinh do nhà trường hoặc các trường Đại học, cao đẳng về trường tổ chức hoặc huyện đoàn hay tỉnh đoàn tổ chức

c Liên hệ với đơn vị bạn

Tôi hiện đang làm việc và công tác tại trường THPT Lê Văn Hưu, tư vấn học sinh là một trong những công tác được nhà trường quan tâm và coi trọng (Kể một số hình thức tư vấn của nhà trường theo

3 loại hình tư vấn ở trên)

Câu 2: Sứ mệnh của giáo dục là phát triển toàn diện con người Trong đó, quan trọng nhất là phẩm chất

và năng lực, cũng có thể gọi chung là nhân cách như nhiều nhà giáo dục học vẫn thường gọi Từ năng lực được dùng theo nghĩa là năng lực NGƯỜI, bao gồm cả năng lực lẫn phẩm chất; nói cách khác là nhân cách, nói như K.Marx là năng lực - bản chất người

Ngày nay, nhân loại đã bước vào kỷ nguyên thông tin Hằng ngày, con người được tiếp nhận lượng thông tin rất lớn, từ nhiều kênh, nhiều chiều Thông tin “va chạm” nhau, tác động và hỗ trợ lẫn nhau, liên tục sản sinh ra các thông tin mới, theo cấp số nhân, kích thích tư duy con người, làm nảy sinh tri thức mới, kiến thức mới Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ngày nay, trong khoảng 3 năm, kiến thức nhân loại tăng lên gấp đôi

Lượng kiến thức khổng lồ như vậy mà thầy truyền thụ, trò tiếp thu thì làm sao cho hết, làm sao cho kịp, chất chứa vào đâu Mà người thầy cũng không cập nhật kịp để truyền thụ, và sau 3 năm đã có nhiều kiến thức mới hơn thay thế rồi (có khi người học chưa kịp ra trường)

Mặt khác, kiến thức đã có để truyền thụ thường gắn với kinh nghiệm đã qua, trong khi cần chuẩn

bị cho người học sống và làm việc trong thời gian tới Với truyền thụ kiến thức, người học thường bị giới hạn bởi người thầy, trong khi cần chuẩn bị cho học sinh vượt thầy, vượt sách, để có thể sống và làm việc trong một thế giới biến đổi rất nhanh

Vì những lẽ ấy, việc giáo dục chủ yếu là truyền thụ kiến thức không còn phù hợp nữa mà thay vào

đó là việc phát triển năng lực và phẩm chất của người học

Tuy nhiên việc chuyển mạnh từ quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức là chủ yếu, sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học hiện nay ở trường phổ thông có không ít những thuận lợi, nhưng cũng gặp rất nhiều những khó khăn Sau đây là những cảm nhận của cá nhân tôi về những thuận

Trang 2

lợi và khó khăn ở trường THPT Lê Văn Hưu - Ngôi trường mà tôi đang công tác trong quá trình chuyển giáo dục từ trang bị kiến thức là chủ yếu, sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học:

2.1 Thuận lợi

Về cơ chế, chính sách:

Trung ương Đảng có Nghị quyết số 29 - NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào

tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được hội nghị trung ương 8, khóa XI thông qua.

Được sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội Giáo dục và đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu

để đảm bảo sự phát triển hưng thịnh, tồn vong của toàn dân tộc

Về đội ngũ cán bộ giáo viên trực tiếp giảng dạy:

Hầu đa các giáo viên đều nhiệt tình, tận tụy với nghề, đoàn kết, có tinh thần tự học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục hiện đại

Có tinh thần thương yêu, giúp đỡ học sinh, quan tâm, đồng cảm với học sinh trong các hoạt động dạy học và giáo dục

Về học sinh, phụ huynh:

Hầu đa học sinh học tại trường THPT Lê Văn Hưu đều cần cù chịu khó, có tinh thần và thái độ học tập nghiêm túc

Đa số phụ huynh đều quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của học sinh

Về Trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học:

Được đầu tư nhiều về cơ sở vật chất, trường lớp khang trang hiện đại, tiện nghi đầy đủ, đáp ứng

cơ bản các nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục

2.2 Khó khăn

Về công tác quản lý:

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tình trạng nền giáo dục nói chung và đào tạo nguồn nhân lực nói riêng có hiệu quả quá thấp là nền giáo dục của Việt Nam chưa thoát khỏi cách nghĩ và cách làm giáo dục của giáo dục của xã hội truyền thống

Do sự phát triển quá chậm và ít biến đổi của khoa học và công nghệ nên xã hội truyền thống đặt cho sứ mạng của nhà trường phải trang bị đầy kiến thức để con người có đủ khả năng làm việc suốt đời, song lại xem nhẹ việc bồi dưỡng năng lực của người học vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những vấn đề mà công việc và cuộc sống đặt ra Tư duy này hiện vẫn đang ngự trị ở không ít tổ chức và những cá nhân có trách nhiệm trong hệ thống quản lý giáo dục

Về đội ngũ cán bộ giáo viên trực tiếp giảng dạy:

Đã tồn tại rất lâu nền giáo dục bị khép kín trong nhà trường và chủ yếu dựa trên sự tương tác giữa thầy và trò trong phạm vi của sách giáo khoa, thiếu sự tương tác với xã hội, vai trò của gia đình, đoàn thể

và xã hội ngày một mờ nhạt trong giáo dục thế hệ trẻ, do đó phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào máu của CBGV- những người trực tiếp giảng dạy trong nhà trường, nên rất khó thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, phẩm chất của học sinh trong một thời gian ngắn

Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại ở rất nhiều giáo viên còn hạn chế, thậm chí là rất yếu, không theo kịp trình đọ tiên tiến của thời đại

Về học sinh:

Còn một bộ phận học sinh còn lười học, chưa thực sự nổ lực cố gắng vươn lên trong học tập

Do sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin nên nhiều trò chơi điện tử hấp dẫn, lôi kéo giới trẻ, bỏ bê học tập

Tình trạng học đối phó ngày càng phát triển biến thành con bệnh mãn tính rất khó chữa, nó gây ra những tác hại vô cùng lớn đối với thế hệ trẻ không những khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn thâm nhập vào cuộc sống của các em sau này, nó len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, sinh hoạt làm băng

Trang 3

Bản thân các trường chạy theo mục tiêu trước mắt, thường tranh thủ mở rộng qui mô mà quên đi chất lượng dẫn đến bộ máy quản lý cồng kềnh gây lãng phí, hiệu quả đầu tư kém

Trang 4

PHẦN RIÊNG (90 phút)

1 Thiết kế một giáo án (45 phút) thể hiện rõ dạy học theo hướng tiếp cận năng lực

2 Vào đầu năm học bạn phải làm những gì về tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiên cứu khoa học ứng dụng để hoàn thành kế hoạch năm học Nêu rõ lí do

Câu 1: Cấu trúc một giáo án dạy học theo hướng tiếp cận năng lực và phẩm chất của người học (Theo

cách soạn của Sở GD&ĐT Thanh Hóa tập huấn vào tháng 8 năm 2017)

Chủ đề:

Tên bài học:

1 Mục tiêu.

1.1 Kiến thức

1.2 Kỹ năng

1.3 Thái độ, năng lực

2 Giới thiệu (Hoạt động khởi động).

3 Nội dung chính (Hoạt động hình thành kiến thức).

3.1 Nội dung 1 (Hoạt động thứ 1)

a) Tiếp cận:

b) Khái niệm:

c) Củng cố:

3.2 Nội dung 2 (Hoạt động thứ 2)

a) Tiếp cận:

b) Khái niệm:

c) Củng cố:

4 Hoạt động luyện tập.

5 Hoạt động vận dụng.

6 Hoạt động tìm tòi, mở rộng.

7 Rút kinh nghiệm.

Chủ đề: MỆNH ĐỀ - TẬP HỢP

Tên bài học: TẬP HỢP

1 Mục tiêu

1.1 Kiến thức

- Hiểu được khái niệm tập con, hai tập hợp bằng nhau

- Nắm được định nghĩa các phép toán trên tập hợp Biểu đồ Ven

1.2 Kỹ năng

- Biết được cách cho một tập hợp theo nhiều cách khác nhau

- Biết dùng các kí hiệu, ngôn ngữ tập hợp để diễn tả các điều kiện bằng lời của một bài toán và ngược lại

- Biết sử dụng các kí hiệu và phép toán tập hợp để phát biểu các bài toán và suy luận toán học một cách sáng sủa, mạch lạc

- Biết sử dụng các phép toán về tập hợp và mô tả kết quả tạo được sau khi sử dụng các phép toán

Trang 5

3 Nội dung chính (Hoạt động hình thành kiến thức).

3.1 Nội dung 1: Tập hợp

a) Tiếp cận:

Yêu cầu học sinh lấy ví dụ tập hợp

b) Khái niệm:

Tập hợp là một khái niệm cơ bản của Toán học, không được định nghĩa mà chỉ dựa vào mô tả

- Chú ý cách viết kí hiệu thuộc (Phần tử thuộc tập hợp)

x A đọc là " x thuộc A"

x A đọc là " x không thuộc A".

- Yêu cầu học sinh lấy ví dụ tập hợp

? Số phần tử của tập hợp

? Lấy một phần tử thuộc tập hợp, một phần tử

không thuộc tập hợp?

- Nhấn mạnh cách viết kí hiệu thuộc (Phần tử

thuộc tập hợp)

x A đọc là " x thuộc A"

x A đọc là " x không thuộc A"

- Nêu 2 cách cho một tập hợp (SGK)

- Yêu cầu học sinh giải H1, H2 Nhận xét, chỉnh

sửa nếu cần

- Chú ý :

+) Từ H1 ta thấy mỗi phần tử chỉ liệt kê 1 lần

+) Tập rỗng là tập hợp không có phần tử nào

KH : 

- Nghe hiểu nhiệm vụ

- Tìm phương án thắng

- Hai bạn đại diện lớp trình bày kết quả của mình

- Ghi nhận KQ

- Giải H1, H2 ( 3 học sinh trên bảng)

- Các học sinh khác nhận xét, chỉnh sửa nếu cần

c) Củng cố:

3.2 Nội dung 2: Tập con

a) Tiếp cận:

Cho hai tập hợp

A = {2; 3; 4; 5}

B = {1; 2; 3; 4; 5; 6; 7}

Nhận xét gì mỗi phần tử thuộc A có quan hệ gì với tập B?

b) Khái niệm:

Trang 6

Hoạt động của GV Hoạt động của HS

- Nêu định nghĩa tập con (SGK)

- ? Lấy ví dụ về tập con?

- Nhận xét câu trả lời, chỉnh sửa

- Lưu ý HS:

+) AA với mọi tập A

+)

+  A với mọi tập A

- Tổ chức cho HS làm BT trong H3

- Y/c HS rút ra kết luận về quan hệ hai tập hơp A

và B

- Nghe giảng

- Nghi nhận kiến thức

- Lấy ví dụ về tập con

- Nắm được các kí hiệu  , Và các chú ý

- Trả lời câu hỏi H3

- Lấy ví dụ về tập con

- Đại diện trả lời câu hỏi

- Độc lập suy nghĩ trả lời câu hỏi

c) Củng cố:

3.3 Nội dung 3: Tập hợp bằng nhau, biểu đồ ven

a) Tiếp cận:

Cho hai tập hợp

A = {0; 1; 2}

B = {x: x(x-1)(x-2)=0}

Nhận xét gì về quan hệ của hai tập hợp A và B?

b) Khái niệm:

Trang 7

Hoạt động của GV Hoạt động của HS

? Y/c HS nêu khái niệm hai tập hợp bằng nhau

theo cách hiểu của bản thân

- Uốn nắn lại câu trả lời cảu HS và nêu định

nghĩa hai tập hợp bằng nhau

A = B  (A  B, và B  A)

Lưu ý HS:

+) Tập A không bằng tập B kí hiệu là AB

Nghĩa là: AB

x A, x B

x A, x B

 +) Để chứng minh A = B ta chứng minh hai

trường hợp: A  B và B  A

- Độc lập suy nghĩ tìm câu trả lời

- Nghe giảng

- Ghi nhận kiến thức

- Trả lời câu hỏi H4

- Trả lời câu hỏi ?

- Làm quen với cách CM hai tập hợp bằng nhau

c) Củng cố:

Cho HS làm bài tập củng cố lý thuyết: Cho A = 1; 2 ,  Bx| x2 3x 2 0  

Chứng tỏ rằng A = B

4 Hoạt động luyện tập

5 Hoạt động vận dụng

6 Hoạt động tìm tòi, mở rộng: Tìm hiểu về tiểu sử nhà toán học CAN-TO.

7 Rút kinh nghiệm

Câu 2: Xã hội càng phát triển, giáo dục đào tạo cũng phát triển theo, đòi hỏi ngày càng cao hơn phẩm

chất năng lực của đội ngũ giáo viên Tự học, tự bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là

Trang 8

phương thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ, trưởng thành, có đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đào tạo được giao

Bản thân tôi cũng xác định được tầm quan trọng của việc tự học, tự bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng có ảnh hưởng lớn đến công tác giảng dạy để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,

vì vậy ngay từ đầu năm học, bản thân cũng đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu của bản thân như sau:

Một là, trước hết phải nhận thức được vị trí, vai trò, trách nhiệm về tự học, tự bồi dưỡng Chỉ khi

nhận thức đúng thì bản thân mỗi giáo viên mới chuyển hóa được nhu cầu, đòi hỏi của xã hội thành động

cơ mục đích của cá nhân, từ đó mới chủ động, tích cực, tự giác phấn đấu tự học, tự bồi dưỡng

Hai là, ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng cho mình kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng khoa học.

Trong kế hoạch đã xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian tự học, tự bồi dưỡng

Lựa chọn, thống kê các phần công việc cần làm, những yêu cầu cụ thể cần đạt được, mốc thời gian

và mức độ hoàn thành phù hợp với điều kiện và năng lực bản thân Sau khi lập được kế hoạch đương nhiên bản thân phải có quyết tâm, có ý thức trách nhiệm, có tinh thần chủ động, kiên trì vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành mục tiêu đặt ra

Ba là, bản thân cần sắp xếp thời gian tự học, tự bồi dưỡng cho phù hợp với đặc trưng công việc

của mình Thời gian tự học, tự bồi dưỡng của bản thân cũng rất hạn chế do vậy cần sắp xếp thời gian tự học qua sinh hoạt chuyên môn ở tổ, nhóm, qua dự giờ thăm lớp, qua tham dự các buổi chuyên đề, tập huấn, hội thảo do trường, Sở giáo dục - đào tạo, các tổ chức chính trị, xã hội tổ chức…vào hè hoặc trong năm học Ngoài ra cần tham gia tự học, tự bồi dưỡng vào ngày nghỉ, giờ nghỉ

Bốn là, cần xác định được nội dung tự học, tự bồi dưỡng phù hợp Tự học, tự bồi dưỡng ở đây

không chỉ bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ mà còn bồi dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư phạm Trong quá trình bồi dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư phạm ta cần học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống cũng như trong công việc

Học tập, bồi dưỡng thông qua các mối quan hệ với đồng nghiệp, với phụ huynh, với học sinh, với

xã hội Từ đó hoàn thiện nhân cách người giáo viên Khi bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ ta cần biết lựa chọn tài liệu, nghiên cứu thu thập thông tin một cách có chọn lọc phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Giáo viên có thể tìm tài liệu bồi dưỡng qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng internet, qua sinh hoạt chuyên môn…Giáo viên cần bổ sung kịp thời những kiến thức về tin học, ngoại ngữ, đổi mới về phương pháp, trang bị cho mình những kiến thức về văn hóa, xã hội, những hiểu biết pháp luật

Năm là, để quá trình tự học, tự bồi dưỡng có hiệu quả chúng ta phải biết lựa chọn các hình thức

bồi dưỡng phù hợp với khả năng, sở trường của mình Hình thức tự học, tự bồi dưỡng thông qua hoạt động cá nhân giảng dạy, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các công văn, chỉ thị, thông tư…Hình thức tự học, tự bồi dưỡng qua hoạt động tập thể như tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, qua các hoạt động chính trị, xã hội, qua đào tạo nâng chuẩn

Sáu là, trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng người giáo viên phải biết tự kiểm tra, đánh giá kết quả

bồi dưỡng Hoạt động này giúp giáo viên nhìn nhận lại những việc đã làm và chưa làm được trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng, từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm đạt mục tiêu bồi dưỡng

Tự học, tự bồi dưỡng được hình thành trong quá trình luyện tập kiên trì có hệ thống, trên cơ sở ý thức trách nhiệm, tính tự giác cao Qua đó giáo viên sẽ say sưa với nội dung học tập, biến chúng thành hiểu biết và chuyển thành niềm tin, thế giới quan khoa học, luôn tạo ra được trạng thái phấn khởi, hứng thú; biết tranh thủ tận dụng có hiệu quả mọi khoảng thời gian có thể để tự học, tự nghiên cứu; luôn tìm cách hiểu sâu những nội dung đã biết và khám phá những điều chưa biết; hình thành thái độ động cơ phấn đấu đúng đắn, để hoàn thiện phẩm chất nhân cách, nâng cao năng lực, phương pháp, tác phong công tác

và uy tín nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Ngày đăng: 28/08/2018, 22:36

w