ĐỀ CƯƠNG TLH LĐ QL Vấn đề 1: Bản chất của Quản lý KN về quản lý (nêu định nghĩa và phân tích) Theo nghĩa chung nhất từ góc độ của Tâm lý học, quản lý được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó. Từ nội hàm của khái niệm quản lý cho thấy: Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. tức là, hoạt động quản lý chỉ cần thiết và tồn tại đối với một nhóm người. Còn đối với một các nhân, anh ta tự điều khiển hoạt động của mình. Quản lý gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm. Hoạt động quản lý gồm hai bộ phận cấu thành: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Khí nói đến hoạt động quản lý chúng ta chủ yếu nói đén hoạt động quản lý con người. Hệ thống quản lý được hiểu như sự phối hợp có tổ chức thống nhất. Hệ thống quản lý được hiểu như sự phối hợp có tổ chức thống nhất. Bản chất của quản lý: Quản lý là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý. Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao. Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật. + Quản lý là khoa học, vì nó vận dụng tri thức được hệ thống hóa, là sự vận dụng các quy luật của chủ thể quản lý để giải quyết các vấn đề đặt ra. + Quản lý là nghệ thuật: vì đây là loại hoạt động đặc biệt hoạt động này đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt và sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm để tác động đến đối tượng quản lý – các cá nhân cụ thể. Mỗi con người là một nhân cách, một thế giới tâm lý phong phú và phức tạp. Quản lý đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Hiệu quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức – việc đổi mới cơ cấu tổ chức để phù hợp với hoàn cảnh và mục tiêu quản lý. Rút ra kết luận: QL là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo thể hiện ở năng lực ra quyết định sản phẩm của tư duy quản lý. Muốn có được điều này người QL phải có phẩm chất trí tuệ tôt, tính sáng tạo, phê phán.... Chứng minh “QL vừa là một khoa học đồng thời mang tính nghệ thuật”
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ HỌC LÃNH ĐAO, QUẢN LÝ
Vấn đề 1: Bản chất của Quản lý
*KN về quản lý (nêu định nghĩa và phân tích)
Theo nghĩa chung nhất từ góc độ của Tâm lý học, quản lý được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó
Từ nội hàm của khái niệm quản lý cho thấy:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội tức là, hoạt động quản lý chỉ cần thiết và tồn tại đối với một nhóm người Còn đối với một các nhân, anh ta tự điều khiển hoạt động của mình
- Quản lý gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm
- Hoạt động quản lý gồm hai bộ phận cấu thành: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
- Khí nói đến hoạt động quản lý chúng ta chủ yếu nói đén hoạt động quản
lý con người
- Hệ thống quản lý được hiểu như sự phối hợp có tổ chức thống nhất
- Hệ thống quản lý được hiểu như sự phối hợp có tổ chức thống nhất
*Bản chất của quản lý:
- Quản lý là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý
- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật
+ Quản lý là khoa học, vì nó vận dụng tri thức được hệ thống hóa, là sự vận dụng các quy luật của chủ thể quản lý để giải quyết các vấn đề đặt ra
+ Quản lý là nghệ thuật: vì đây là loại hoạt động đặc biệt- hoạt động này đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt và sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm để tác động đến đối tượng quản lý – các cá nhân cụ thể Mỗi con người là một nhân cách, một thế giới tâm lý phong phú và phức tạp
- Quản lý đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
- Hiệu quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức – việc đổi mới cơ cấu tổ chức để phù hợp với hoàn cảnh và mục tiêu quản lý
*Rút ra kết luận: QL là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo thể hiện ở năng lực
ra quyết định sản phẩm của tư duy quản lý Muốn có được điều này người
QL phải có phẩm chất trí tuệ tôt, tính sáng tạo, phê phán
Trang 2*Chứng minh “QL vừa là một khoa học đồng thời mang tính nghệ thuật”
1 Tính khoa học của lãnh đạo, quản lý biểu hiện ở các nội dung sau:
- QL là một KH vì QL vận dụng nhiều tri thức thuộc nhiều KH có liên quan như: TLH quản lý; giáo dục học Người QL phải có kiến thức sâu rộng về
KH quản lý nói chung (KH quản lý đại cương, Vấn đề cơ bản về giáo dục, kiến thức về tâm lý học QL ) Người QL cần vận dụng linh hoạt những kiến thức đó
- Phải đảm bảo tính khoa học trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, quản lý: Nó phải được dựa trên một cơ sở khoa học nhất định (khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể); giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện, giữa tính nguyên tắc với chủ nghĩa giáo điều và bệnh rập khuôn máy móc, giữa tính linh hoạt cách mạng với chủ nghĩa cơ hội xét lại, giữa cái phổ biến với cái đặc thù, giữa hiện tại và tương lai…Mọi biểu hiện chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan đều có thể dẫn đến các hậu quả xấu trong lãnh đạo quản lý
- Nó đòi hỏi người LĐ, QL phải nắm vững lý luận LĐ, QL; các yếu tố cơ bản của người LĐ, QL như:
+ Phải nắm vững tính khoa học trong phong cách lãnh đạo-kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yếu
tố môi trường xã hội trong hệ thống quản lý
+ Nó còn đòi hỏi người LĐ, QL phải nắm vững Phương pháp LĐ, QL-cách thức tác động cảu chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đề ra Các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp lãnh đạo và quản lý: Nhân tố khách quan nhưng môi trường và điều kiện làm việc, cơ chế quản lý, nội dung, quy chế, quy định trong lĩnh vực hoạt động quản lý Nhân tố chủ quan như trình độ, năng lực của người lãnh đạo quản lý; tinh thần trách nhiệm, tính tự giác, năng động, sáng tạo và ý thức chấp hành của chủ thể và khách thể bị lãnh đạo quản lý; quyền uy, uy tín của người lãnh đạo quản lý
Trang 3Tính khoa học của phương pháp LĐ, QL biểu hiện ở quy luật về mối quan
hệ biện chứng giữa chủ thể lãnh đạo, quản lý với đối tượng lãnh đạo, quản lý Phương pháp quản lý luôn được điều chỉnh bởi hệ thống các quy luật của quản
lý kinh tế , quản lý nhà nước…Do đó phương pháp LĐ, QL phải được xây dựng trên nền tảng nhận thức khoa học- người LĐ, QL phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ quản lý và các kiến thức văn hóa khác
2 Tính nghệ thuật của LĐ, QL được biểu hiện ở chỗ:
- Đó là nghệ thuật vận dụng khả năng: Sự vận động của đời sống chính trị-xã hội là sự tác động qua lại cảu nhiều mối quan hệ phức tạp và tồn tại nhiều khả năng (khách quan) Tính nghệ thuật của công việc LĐ, QL thể hiện ở chỗ vai trò của nhân tố chủ quan trong việc lựa chọn khả năng tối ưu và tạo lập cơ chế để hiện thực hóa khả năng đã được lựa chọn Đó là việc kiên định mục tiêu
lý tưởng chính trị, nhưng mềm dẻo và linh hoạt về sách lược, phương pháp cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, với điều kiện cụ thể, con người cụ thể
- Để đảm bảo tính nghệ thuật trong phương pháp, phong cách và quan hệ giao tiếp trong lãnh đạo, quản lý cần chú ý các nội dung:
+ Phương pháp lãnh đạo quản lý là một nghệ thuật: Tính nghệ thuật của
LĐ, QL xuất phát từ tính đa dạng trong hoạt động LĐ, QL: Đối tượng tác động của phương pháp LĐ, QL là những con người xã hội – mà con người là một thực thể đa dạng về tâm lý, tính cách, nhu cầu lợi ích, thói quen…do vậy Phương pháp LĐ, QL cũng mang tính đa dạng, phong phú, năng động, linh hoạt; không được máy móc, cứng nhắc, rập khuôn Phương pháp lãnh đạo quản lý đòi hỏi văn hóa ứng xử, văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ cao của người lãnh đạo và người bị lãnh đạo
+ Người lãnh đạo, quản lý cần chú ý và biết kết hợp hài hòa giữa phong cách Lãnh đạo, quản lý khác nhau, tương thích với từng tình huống, từng đối tượng trong một quá trình lãnh đạo, quản lý
Trang 4+ Người LĐ, QL cần nắm vững nghệ thuật trong giao tiếp: Hoạt động lãnh đạo, quản lý là hoạt động gián tiếp-Nhiệm vụ chính của người LĐ, QL là dẫn dắt, định hướng; huy động, phối hợp sức mạnh của mọi người và tập thể để thực hiện mục tiêu của tổ chức – vì có tính chất gián tiếp nên hoạt động lãnh đạo quản lý thường tiến hành chủ yếu thông qua hoạt động giao tiếp
+ “Dùng người” là chức năng cơ bản của lãnh đạo và quản lý: Lãnh đạo, quản lý không thể làm tất cả, thành công nhờ dùng người Nó đòi hỏi phải hiểu cấp dưới, biết phân công, phân cấp công việc cho phù hợp với “sở trường, sở đoản” của từng đối tượng; biết phát hiện, sử dụng người đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, động viên khích lệ cán bộ…theo kiểu”dụng nhân như dụng mộc”
Vấn đề 2: BẢN CHẤT CỦA UY TÍN LÃNH ĐẠO
* KN về uy tín và phân tích khái niệm
* Các thành tố tạo nên uy tín: Có 2 cách phân tích
Cách 1: Theo tài liệu của thầy Vi Dũng: Dựa vào phẩm chất, năng lực trong đó phải có yếu tố chức năng quyền hạn được giao.
Cách 2: Phân tích theo hướng Cô Hằng: vai trò của uy tín
- Đối với người lãnh đạo
- Đối với tập thể
1 Khái niệm về uy tín và phân tích khái niệm: (giáo trình T.182)
Uy tín của người LĐ là hệ thống những thuộc tính nhân cách của người LĐ được các thành viên trong tổ chức thừa nhận và tôn trọng
Nói đến uy tín là nói tới sự ảnh hưởng của người LĐ đến những người dưới quyền, đó là sự ảnh hưởng được người khác thừa nhận và tôn trọng Sự ảnh hưởng này sẽ là một yếu tố quan trọng đảm bảo cho người lãnh đạo thành công trong việc quản lý tổ chức
Phân tích KN uy tín LĐ, chúng ta cần chú ý đến hai khía cạnh chính Đó là
sự ảnh hưởng và sự thừa nhận
Sự ảnh hưởng của người LĐ được xây dựng trên cơ sở của trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, các phẩm chất đạo đức, tính cách, phong cách LĐ
Trang 5Sự thừa nhận của các thành viên trong tổ chức đối với người LĐ là sự thừa nhận về quyền lực trong hoạt động quản lý thừa nhận sự ảnh hưởng của người
LĐ đối với họ
2 Các yếu tố tạo nên uy tín lãnh đạo
Như trên đã trình bày uy tín là hệ thống các phẩm chất nhân cách phẩm chất của người lãnh đạo Do vậy, có nhiều yếu tố tạo nên uy tín của người lãnh đạo
+ Trình độ chuyên môn giỏi
Tri thức mà cụ thể hơn là trình độ chuyên môn là một trong những thành tố quan trọng hànhđầu để tạo nên uy tín của người lãnh đạo Nếu trong tổ chức người lãnh đạo có chuyên môn yếu hơn những người dưới quyền thì người lãnh đạo sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động quản lý của mình Vì, người lãnh đạo rất khó khăn trong khâu kiểm tra, giám sát hoạt động chuyên môn ngiệp vụ của cấp dưới Nếu người lãnh đạo có chuyên môn giỏi hơn họ thì anh ta có thể biết
và đánh giá chính xác mức độ hoàn thành công việc của cấp dưới cũng như những sai phạm của họ mắc phải Thứ hai người lãnh đaopj rất khó khăn trong việc giao nhiệm vụ một cách phù hợp cho cấp dưới Có thể nói, người lãnh đạo rất khó thuyết phục, cảm hóa được cấp dưới và các thành viên trong tổ chgức khi anh ta có trình độ chuyên môn kém hơn họ
Trình độ chuyên ,môn giỏi sẽ giúp người lãnh đạo biết được công việc của cấp dưới, giúp họ khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện Trình độ chuyên môn giỏi là cơp sở quan trọng tạo nên quyền lục của người lãnh đạo trong tổ chức, từ đó tạo nên ảnh hưởng của anh ta đối với người thừa hành
Kết quả điều tra của một số công trình nghiên cứu cho thấy yếu tố trình độ chuyên môn được đánh giá cao trong nhgững yếu cầu đối với người lãnh đạo Trong đợt khảo sát của chúng ta tại 31 doanh nghiệp, trong đó có 17 DN nhà nước và 14 DN tư nhân cho thấy, có 64,44% lãnh đạo cấp trưởng và 85,71% lãnh đạo cấp thấp hơn cho rằng trình độ chuyên môn là cần thiết để tạo nên uy tín người lãnh đạo Như vậy, những người quản lý cấp dưới lại đánh giá yếu tố này cao hơn những người quản lý cấp trưởng Phải chăng đây là một yêu cầu, một đòi hỏi của cấp dưới đối với người đứng đầu của một tập thể Ngay vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, một cuộc điều tra 1000 DN nhỏ ở Hà Nội của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đã cho một kết quả đáng phấn khỏi: Những nhà kinh doanh và người dân đánh giá cao yếu tố chuyên môn đối với những người quản lý doanh nghiệp Yếu tố này được xếp ở vị trí cao nhất trong 7 kỹ năng quan trong của nhà kinh doanh Tại cuộc điều tra 314 cán bộ quản lý doanh nghiệp ở Hà Nội về nhân cách của Giám đốc doanh nghiệp Nhà
Trang 6nước do tác giả Lê Thái thực hiện năm 2003 cho thấy, yếu tố co kiến thức và tầm nhìn xa được xếp ở vị trí thứ 2 trong 11 phẩm chất về trí tuệ của Giám đốc doanh nghiệp
+ Năng lực tổ chức
Đay là một yếu tố quyết định nữa tạo tên uy tín của người lãnh đạo Bởi lẽ, kết quả hoạt động của mỗi cá nhân và tập thể phụ thuộc rất nhiều vào năng lực
tổ chức của nguời lãnh đạo Một người lãnh đạo có năng lục quản lý tốt sx tạo nên hiệu quả hoạt động cao của tổ chức Làm cho tổ chức phát triển và đem lại nhiều lơih ích mọi người Đây là một cơ sở quan trọng để những người dưới quyền thừa nhận và tôn trọng người lãnh đạo Hay nói cách khác, uy tín của người lãnh đạo được tạo nên trong tổ chức
Tại cuộc khảo sát (năm 1995), yếu tố năng lực tổ chức được đánh giá cao
nhất trong các yếu tố tạo nên uy tín người lãnh đạo (86,18% số người được hỏi
là cần thiết và 13,82% cho là không cần thiết)
+ Các phẩm chất đạo đức
Cùng với năng lực tổ chức và trình dộ chuyên, các phẩm chất đạo đức góp phần quan trọng tạo nên uy tín người lãnh đạo Kết quả điều tra cho thấy, yếu tố đạo đức được xếp thứ hai sau năng lực tổ chức; 75,5% những người quản lý cấp trưởng và 66,6% những người quản lý cấp dưới cho rằng đạo đức là cần thiết để tạo nên uy tín Một người lãnh đạo giỏi về chuyên, có năng lực quản lý tốt, nhưng không có những phẩm chất đạo đức cần thiết, anh ta chỉ lo vun vén gia đình, người thân của mình, không quan tâm đến lợi ích của mọi người, lối sống
sa đọa, thiếu mẫu mực thì người lãnh đạo này không thể có uy tín trong tập thể của mình được
Để tạo nên uy tín, người lãnh đạo cần có một phẩm chất đạo đức cơ bản sau:
a Công bằng trong đánh giá, khen thưởng hay xử phạt
b Quan tâm đến người khác
c Tránh thái độ ra lệnh thô bạo trong quan hệ
Như vậy uy tín của người lãnh đạo không phải được tạo nên bởi quyền lực được trao, mà phải được tạo nên bằng chính năng lực tổ chức, trình độ chuyên môn và các phẩm chất đạo đức của người đó Uy tín của người lãnh đạo không phải được tạo nên bởi sự áp đặt, khống chế mà bằng sự cảm nhận, sự kính phục
và tôn trọng của những người dưới quyền đối với nhân cách của người lãnh đạo Chỉ có uy tín như vậy mới có ảnh hưởng tốt đến các thành viên trong tập thể, có sức ám thị và cảm hóa họ./
Trang 7Vấn đề 3: Nhu cầu của người lao động
*KN về nhu cầu: Có 5 bậc nhu cầu
*Hiểu cơ bản về nhu cầu người lao động: Thay đổi tùy theo Y/c công việc, tình trạng sức khỏe Khi nhu cầu được thỏa mãn thì nhu cầu khác sẽ nảy sinh Từ những đặc điểm trên người lãnh đạo cần lưu ý vận dụng nhu cầu người lao động sao cho phù hợp? Sự biến đổi nhu cầu lao động như thế nào?
Người lao động cần lắng nghe và thấu hiểu người lao động, cần tạo ra điịnh mức
XH một cách phù hợp
Vấn đề 4: Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức và thao tác hợp lý để thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó có kết quả trong điều kiện nhất định
Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển sự tiếp xúc giữa các cá nhân xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động
Kỹ năng giao tiếp là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ phối hợp hài hòa, hợp lý của chủ thể giao tiếp nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với đối tượng giao tiếp đạt kết quả cao với sự tiêu hoa năng lượng tinh thần, cơ bắp ít nhất trong điều kiện thay đổi
1 Các nhóm kỹ năng giao tiếp
1.1 Phân loại theo quá trình giao tiếp
1.1.1 Nhóm kĩ năng định hướng giao tiếp: là khả năng dựa vào biểu lộ
bên ngoài như sắc thái biểu cảm, ngữ điệu, cử chỉ, nét mặt… để có thể phán đoán tương đối chính xác trạng thái tâm lý bên trong của đối tượng trong quá trình giao tiếp, từ đó tiến hành quá trình giao tiếp sao cho phù hợp Thực chất của kĩ năng này chính là việc chủ thể “phác thảo chân dung tâm lý” về đối tượng giao tiếp
Nhóm kĩ năng định hướng giao tiếp bao gồm những kĩ nawg sau:
- Kĩ năng tri giác (quan sát): Kĩ năng này hiểu được biểu hiện ở khả năng dựa vào tri giác ban đầu về các biểu hiện bên ngoài (hình thức, động tác, ngon ngữ, cử chỉ, điệu bộ và sắc thái biểu cảm) mà phán đoán tâm lý
Người có kĩ năng giao tiếp tốt có thể dễ dàng phát hiện những diễn biến tâm lý của đối tượng giao tiếp
Trang 8- Kỹ năng chuyển từ tri giác vào việc nhận biết các đặc điểm về nhu cầu, động cơ, sở thích, cá tính của đối tượng giao tiếp
Cũng có thể chia nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp thành kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc và kỹ năng định hướng trong quá trình tiếp xúc
1.1.2 Nhóm kĩ năng định vị giao tiếp: là nhóm có kỹ năng có khả năng
xác định đúng vị trí giao tiếp để từ đó tạo điều kiện cho đối tượng chủ động Thực chất đây là kĩ năng biết cách thu thập và phân tích, xử lý thông tin
Nhóm này bao gồm:
- Kỹ năng nhận biết vị trí trong giao tiếp ;
- Kĩ năng xác định không gian, thời gian giao tiếp phù hợp;
- Kĩ năng xác định nội dung giao tiếp
1.1.2 Nhóm kĩ năng điều khiển quá trình giao tiếp
Là khả năng thu hút đối tượng, tìm ra những đề tài giao tiếp mới lại hấp
dẫ, duy trì nó, xác định và thỏa mãn hững thú của đối tượng, làm chủ được cảm xúc của bản thân và sử dụng hợp lý các phương tiện giao tiếp
Có thể phan chia nhóm kỹ năng này thành các kỹ năng sau:
- Kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp: là khả năng tìm ra đề tài giao tiếp phù hợp với đối tượng và tình hình huống giao tiếp, biết thu hút đối tượng vào quá trình giao tiếp, duy trì nó bằng cách thúc dẩy hoặc kìm hãm và kết thức một cách hợp lý nhằm tạp ra những xúc cảm dương tính về đối tượng
- Kỹ năng điều khiển bản thân chủ thể giao tiếp: Là khả năng làm chủ cảm xúc của bản thân, điều khiển và điều chỉnh nó sao cho phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng nhằm đạt được mục đích giao tiếp mà vẫn còn có thể tạo ra cho mình những xúc cảm hứng thú nhất định
- Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp: là khả năng sử dụng phối hợp một cách hiệu quả các phương tiện giao tiếp, trong đó chủ yếu vẫn là ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ
1.2 Dựa vào kỹ năng hoạt động và yêu cầu cụ thể
1.2.1 Kỹ năng chung: Kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng
thấu cảm, kỹ năng đồng cảm, kỹ nawg động viên khích lệ, kỹ năng xử lý tình huống; kỹ năng thương lượng, đàm phán, kỹ năng xử lý xung đột; kỹ năng ứng
Trang 9xử tâm lý, kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng phân tích đối tương; kỹ năng viết, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng quản lý, kỹ năng chủ trì hội nghị…
1.2.2 Kỹ năng chuyên biệt:
- Kỹ năng soạn thảo văn bản:
- Kỹ năng quản lý: bao gồm những kỹ năng nghề nghiệp cho phép bạn quản lý công việc và con người một cách hiệu quả Mặc dù một số kỹ năng cụ thể sẽ khác nhau, tùy ngành nghề, nhưng cũng có một loạt kỹ năng phổ biến có thể áp dụng cho hầu hết mọi môi trường làm việc
- Kỹ năng chủ trì hội nghị, cuộc họp
2 Người lãnh đạo rèn luyện kĩ năng giao tiếp như thế nào
- Rèn luyện kĩ năng nhận biết, kĩ năng phân tích đối tượng, kĩ năng lắng nghe, kỹ năng nói, kỹ năng viết
(Đang đợt cao điểm nên không có thời gian các đ/c cố gắng thêm lý thuyết trong tài liệu cho đầy đủ nhé!)