1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Pháp luật về trợ giúp pháp lí

31 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 250 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan niệm chung hiện nay thì trợ giúp pháp lý hiểu là sự giúp đỡ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người yếu thế có hoàn cảnh dặc biệt và các đối tượng khác t

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

VÀ LUẬT SƯ THAM GIA THỰC HIỆN TGPL

TS Trần Huy Liệu

1 Một số vấn đề chung về trợ giúp pháp lý

1.1 Khái niệm pháp luật trợ giúp pháp lý.

Pháp luật TGPL là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động TGPL cho người nghèo, người có công với cách mạng và những đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Pháp luật về TGPL hiện hành gồm có các văn bản quy phạm pháp luậtsau đây:

- Luật TGPL được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày29/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007;

- Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL (sau đây viết tắt là Nghị định

số 07/NĐ-CP);

- Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/06/2008 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm TGPL nhànước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm2015”

- Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg ngày 30/6/2008 của Thủ tướng Chínhphủ về việc thành lập Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam

- Quyết định số 03/2007/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tưpháp về việc ban hành một số biểu mẫu dùng trong hoạt động TGPL

- Quyết định số 02/2008/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tưpháp về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động của Trung tâmTGPL nhà nước

- Quyết định số 05/2008/QĐ-BTP ngày 13/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tưpháp ban hành Quy chế Cộng tác viên trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúppháp lý nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác

- Quyết định số 07/2008/QĐ-BTP ngày 05/12/2008 của Bộ trưởng Bộ

Tư pháp về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL

- Quyết định số 08/2008/QĐ-BTP ngày 08/12/2008 của Bộ trưởng Bộ

Tư pháp về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ trợ giúp

Trang 2

pháp lý Việt Nam.

- Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP ngày 08/12/2008 của Bộ trưởng Bộ

Tư pháp về việc ban hành Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý

- Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT/BTP–BCA – BQP – BTC –VKSNDTC - TANDTC ngày 28/12/2007 của liên ngành hướng dẫn áp dụngmột số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

- Thông tư liên tịch số 81/2008/TTLT/BTC-BTP ngày 25/9/2008 củaLiên Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyếttoán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý nhà nước;

- Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT/BTP-BNV ngày 07/11/2008 củaLiên Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và biên chế của Trung tâmtrợ giúp pháp lý nhà nước;

- Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướngdẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý;

- Thông tư số 07/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướngdẫn thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong các Chương trình giảm nghèo;

Các văn bản quy phạm pháp luật khác hướng dẫn thi hành Luật Trọ giúppháp lý hoặc có liên quan đến hoạt động TGPL

Pháp luật trợ giúp pháp lý quy định về nguyên tắc hoạt động trợ giúppháp lý, chính sách trợ giúp pháp lý, Quỹ trợ giúp pháp lý; người được trợ giúp

pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, khiếu nại, tố

cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp

Pháp luật trợ giúp pháp lý áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có

liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý Trong trường hợp điều ước quốc tế

mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì ápdụng quy định của điều ước quốc tế đó (Điều 2)

1.2 Khái niệm trợ giúp pháp lý.

Thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến trên thế giới từ thế

kỷ XV – XVI và phát triển từ giữa thế kỷ XIX đến nay, xuất phát từ tiếng Anh

là: Legal aid Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb Khoa học

xã hội, 1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý” Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp” Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “Legal aid” trên thế

giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ

“Legal aid” được dịch là“Trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức

Trang 3

trong các văn bản pháp luật và sách báo ở Việt Nam hiện nay có tính khái quáthơn cả, đồng thời nó thể hiện rõ bản chất, nội dung và hình thức hoạt động củaloại dịch vụ pháp lý miễn phí ở Việt Nam.

Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1994 thì

thuật ngữ "Trợ giúp" có nghĩa là giúp đỡ Đến lượt mình thuật ngữ "Giúp đỡ"

theo nghĩa tích cực là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một

việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà người ấy đang cần Cái đang cần sự giúp

đỡ ở đây là "pháp lý" theo nghĩa rộng của từ này.

Ở các nước trên thế giới, hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo,người yếu thế bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triểncủa Nhà nước tư sản và được coi là chức năng xã hội của nhà nước, là mộttrong nhữmg tiêu chí bảo vệ quyền con người của nhà nước pháp quyền Việcthành lập tổ chức trợ giúp pháp lý ở Việt Nam năm 1997 là xuất phát từ chínhnhững nguyên tắc Hiến định chủ quyền thuộc về nhân dân, mọi công dân đềubình đẳng trước pháp luật và bản chất của Nhà nước pháp quyền của dân, dodân và vì dân Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trên thế giới rất phongphú và đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗiquốc gia Vì vậy, chưa có quan niệm chung, thống nhất về trợ giúp pháp lý

Do có nhiều mô hình trợ giúp pháp lý, với những quan niệm khác nhau

về đối tượng, phạm vi, phương thức và chi phí trợ giúp pháp lý trên thế giới,nên ở mỗi nước đều có quan niệm riêng của mình và được nhìn nhận dướinhiều góc độ khác nhau, nhưng nói chung các khái niệm của các nước đều thểhiện tính kinh tế, nhân đạo và tính pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý Tínhkinh tế, nhân đạo thể hiện ở chỗ giúp đỡ cho đối tượng không có khả năngthanh toán cho các chi phí khi tiếp cận với dịch vụ pháp lý Tính pháp lý củahoạt động trợ giúp pháp lý thể hiện ở chỗ giúp đỡ đối tượng giải quyết các vụ,việc có liên quan đến pháp luật (luật nội dung và luật hình thức )

Dưới góc độ kinh tế mang tính nhân đạo một số nước (như Đức) quan

niệm trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những

người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án.

Dưới góc độ pháp lý, theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì Trợ giúp

pháp lý là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý.

Điều 2 Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý 1995 của Singapore cũng giải thích rằng trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ những người không có khả

năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý.

Nhìn dưới góc độ mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý, người Úc

Trang 4

cho rằng trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và

điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo

ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật.

Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạtđộng trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay

và thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng

ta có thể đưa ra quan niệm chung về trợ giúp pháp lý một cách đầy đủ, thể hiện

những đặc trưng cơ bản của nó Theo quan niệm chung hiện nay thì trợ giúp

pháp lý hiểu là sự giúp đỡ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người yếu thế có hoàn cảnh dặc biệt và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, hoà giải ), nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng

xã hội.

Theo Điều 3 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 thì trợ giúp pháp lý được

hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý (tư vấn, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải ) miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo,người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ởViệt Nam xuất phát từ chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảmbảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước

ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Trong điều kiện xâydựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có mặt tích cực

là thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực là làm gia tăng sựphân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ và các nhóm

xã hội Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳngtrong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hoá, và đặc biệt làtrong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý Người nghèo thường không có điềukiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trongnhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sưbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại Mặt khác, trongđiều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoànthiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa

Trang 5

đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểubiết pháp luật, để xử sự phù hợp với pháp luật trong các quan hệ xã hội hàngngày không phải dễ dàng Tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước ra đời đã tạo

cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng có được điềukiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với các dịch vụ pháp

lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thựchiện công bằng xã hội

1.3 Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý

Theo quy định tại Điều 4 Luật Trợ giúp pháp lý thì hoạt động trợ giúppháp lý phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

- Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý;

- Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;

- Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệtốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;

- Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý

1.4 Chính sách trợ giúp pháp lý

Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý xác định:

a) Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước

b) Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiệntrợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vàcác tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức,

cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý

1.5 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp

- Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khuyếnkhích, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức, thành viên, hội viên và cánhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình làm cộng tác viên TGPL

- Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạtđộng trợ giúp pháp lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp,tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp

lý để trợ giúp pháp lý (Điều 7)

1.6 Quỹ trợ giúp pháp lý (Điều 8)

Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:

1 Quỹ trợ giúp pháp lý được lập để hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạtđộng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện làm việc

Trang 6

cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương có khó khăn về kinh tế.

2 Nguồn tài chính của Quỹ trợ giúp pháp lý gồm đóng góp tự nguyện,tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và cácnguồn hợp pháp khác

3 Quỹ trợ giúp pháp lý hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, đượcmiễn thuế Việc quản lý và sử dụng quỹ trợ giúp pháp lý phải đúng mục đích

và theo quy định của pháp luật

4 Chính phủ quy định cụ thể việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ trợgiúp pháp lý

1.7 Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9 Luật TGPL)

1 Nghiêm cấm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợgiúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:

a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườiđược trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp lý;

b) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người đượctrợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý;

c) Tiết lộ thông tin, bí mật về vụ việc trợ giúp pháp lý, về người được trợgiúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý bằng văn bảnhoặc pháp luật có quy định khác;

d) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, trừ trườnghợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 45 của Luật TGPL và theo quy địnhcủa pháp luật về tố tụng;

đ) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi;

e) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý gây mất trật tự, an toàn xã hội,ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợiích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

g) Xúi giục người được trợ giúp pháp lý khai, cung cấp thông tin, tài liệusai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật

2 Nghiêm cấm người được trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân

có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:

a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc TGPL;

c) Cản trở hoạt động TGPL; gây rối, làm mất trật tự nơi thực hiệnTGPL

2 Người được trợ giúp pháp lý

2.1 Người được trợ giúp pháp lý.

Trang 7

Điều 10 Luật TGPL quy định người được TGPL bao gồm : Người

nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ

em không nơi nương tựa và người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

2.1.1 Người nghèo.

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 07/NĐ-CP thì người nghèo là ngườithuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật Theo Điều 1 Quyết định số09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hànhchuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 thì hộ nghèo ở nông thôn là

hộ có mức thu nhập bình quân đầu người từ 400.000 đồng/người/tháng

(4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống và hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng

nhận hộ nghèo (Sổ hoặc giấy chứng nhận hộ nghèo) để họ được hưởng cácchính sách ưu đãi của nhà nước Hiện nay, theo chuẩn nghèo mới, cả nước cókhoảng 17 – 18% dân số cả nước là người nghèo

2.1.2 Người có công với cách mạng.

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định số 07/NĐ-CP thì người có công với cách

về người có công với cách mạng năm 2005) Hiện nay, người có công với cáchmạng chiếm khoảng hơn 9 triệu người)

Trang 8

2.1.3 Người già cô đơn không nơi nương tựa là những người từ đủ 60

tuổi trở lên, sống độc thân, không nơi nương tựa, không có người chăm sóc,phụng dưỡng

2.1.4 Người tàn tật không nơi nương tựa là người bị khiếm khuyết một

hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khácnhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tậpgặp nhiều khó khăn hoặc là người bị nhiễm chất độc hoá học, bị nhiễm HIVhoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơinương tựa

2.1.5 Trẻ em không nơi nương tựa là người dưới mười sáu tuổi, không

nơi nương tựa Đó là trẻ em không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếmsống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không

đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng

2.1.6 Người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống tại vùng có điều

kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật (hiện nay

có gần 1.800 xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn)

2.1.7 Luật phòng chống mua bán người mới được Quốc hội thông qua

tháng 3/2011 quy định nạn nhân của tội phạm mua bán người cũng được

TGPL

2.1.8 Các đối tượng khác theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng

hoà XHCN Việt Nam là thành viên

- Người nước ngoài được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí tại Việt Nam

theo Hiệp định tương trợ tư pháp đã ký kết giữa Việt Nam và nước mà người

đó mang quốc tịch nếu trong Hiệp định có quy định về vấn đề này (hiện nay cóHiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Namvới Cộng hoà Pháp và Ucraina có quy định này)

- Trong khuông khổ một số dự án hợp tác quốc tế về TGPL ở Việt Namthì một số đối tượng như người chưa thành niên, phụ nữ, trẻ em là nạn nhâncủa bạo lực trong gia đình và nạn nhân của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ

em cũng được TGPL 2.2 Quyền của người được trợ giúp pháp lý

2.2 Quyền của người được trợ giúp pháp lý.

Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý quy định người được trợ giúp pháp lý cónhững quyền sau đây :

1 Tự mình hoặc thông qua người thân thích, người đại diện yêu cầu trợgiúp pháp lý;

2 Lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý; yêu cầu thay đổi ngườithực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy

Trang 9

định tại khoản 2 Điều 45 của Luật này;

3 Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý;

4 Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý;

5 Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

6 Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý

2.3 Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý

Điều 12 Luật Trợ giúp pháp lý quy định người được trợ giúp pháp lý cócác nghĩa vụ sâu đây :

1 Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;

2 Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý

và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu đó;

3 Tôn trọng tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL và cơquan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý;

4 Không yêu cầu tổ chức thực hiện TGPL khác trợ giúp pháp lý chomình về một vụ việc đang được tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp;

5 Chấp hành pháp luật về TGPL và nội quy nơi thực hiện TGPL

3 Người thực hiện trợ giúp pháp lý

3.1 Người thực hiện TGPL.

Theo Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý, người thực hiện TGPL bao gồm :

Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên, Luật sư và Tư vấn viên pháp luật.

- Theo Khoản 3 Điều 20 Luật TGPL thì những người thuộc một trongcác trường hợp sau đây không được tham gia trợ giúp pháp lý:

a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá

án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng;

b) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữabệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính;

c) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn

ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực;

đ) Đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; bị thu hồiGiấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật

3.2 Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL

Theo Điều 25 Luật TGPL, người thực hiện trợ giúp pháp lý có các

quyền và nghĩa vụ sau đây:

Trang 10

1 Thực hiện trợ giúp pháp lý.

2 Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện TGPL trong các trường hợpquy định tại Điều 45 của Luật TGPL và theo quy định của pháp luật về tố tụng

3 Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý

4 Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý

5 Tuân thủ nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý

6 Kịp thời báo cáo với tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý những vấn đềphát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý

3.3 Trợ giúp viên pháp lý (Điều 21)

3.3.1 Tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý.

Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có

đủ tiêu chuẩn sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt;

b) Có bằng cử nhân luật;

c) Có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

d) Có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên;

đ) Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao

3.3.2 Địa vị pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý.

- Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâmtrợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm, được Chủ tịch Uỷban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghịcủa Giám đốc Sở Tư pháp

- Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL bằng các hình thức sau đây:+ Tư vấn pháp luật;

+ Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp để bào chữa chongười được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền lợi củađương sự trong vụ án hình sự; đại diện cho người được TGPL để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính;

+ Đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiệncác công việc có liên quan đến pháp luật;

+ Thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý khác (tham gia hoà giải,hướng dẫn thủ tục hành chính, khiếu nại)

3.4 Cộng tác viên (Điều 22)

3.4.1 Tiêu chuẩn chung của Cộng tác viên TGPL.

Theo Khoản 1 Điều 22 Luật TGPL thì những người có đủ các tiêu chuẩn

Trang 11

và điều kiện sau đây mà không thuộc một trong các trường hợp quy định tạikhoản 3 Điều 20 của Luật TGPL thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, côngnhận và cấp thẻ cộng tác viên:

a) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vidân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thànhnhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý;

b) Người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm cácngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;

c) Người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó

khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời

gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và

có uy tín trong cộng đồng;

đ) Luật sư, Tư vấn viên pháp luật tự nguyện làm cộng tác viên

Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Giámđốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc trưởng Chi nhánh của Trung

tâm Cộng tác viên không phải là Luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng

hình thức tư vấn pháp luật Khi tham gia trợ giúp pháp lý, cộng tác viên được

hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính theo quy định của pháp luật

3.4.2 Thủ tục công nhận và cấp thẻ cộng tác viên.

1 Theo Điều 27 Nghị định số 07/NĐ-CP, người có đủ tiêu chuẩn, tựnguyện làm cộng tác viên thì gửi hồ sơ đến Trung tâm TGPL nhà nước ở địaphương nơi mình cư trú hoặc công tác Hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên gồm

có các giấy tờ sau đây:

a) Đơn đề nghị làm cộng tác viên theo mẫu;

b) Bản sao bằng cử nhân luật; bằng đại học khác hoặc bằng trung cấp luật

và giấy xác nhận thời gian làm công tác pháp luật của cơ quan, tổ chức nơingười đó đã hoặc đang công tác;

c) Sơ yếu lý lịch cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường,thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan nơi làm việc kèm hai ảnh mầu chân dung

2 Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu hồ sơ

hợp lệ thì Giám đốc Trung tâm TGPL trình Giám đốc Sở Tư pháp xem xét,

Trang 12

công nhận và cấp thẻ cộng tác viên Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ thìtrả lại hồ sơ cho người đề nghị làm cộng tác viên và thông báo rõ lý do bằngvăn bản.

3 Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Giám

đốc Trung tâm trình, Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, ký quyết định công nhận vàcấp thẻ cộng tác viên Trong trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằngvăn bản cho người đề nghị làm cộng tác viên Người bị từ chối có quyền khiếunại đối với việc từ chối công nhận và cấp thẻ cộng tác viên

4 Theo Điều 28 Nghị định số 07/NĐ-CP, người được công nhận và cấpthẻ cộng tác viên thì được ký hợp đồng cộng tác với Trung tâm Trung tâm cótrách nhiệm ký kết hợp đồng cộng tác với cộng tác viên Hợp đồng cộng tácphải có những nội dung chính sau đây:

a) Họ tên, địa chỉ của các bên tham gia hợp đồng cộng tác;

b) Hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý mà cộng tác viên dự kiến sẽ thựchiện phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý và Điều

34 Nghị định số 07/NĐ-CP;

c) Quyền hạn và trách nhiệm của các bên trong quan hệ cộng tác;

d) Vấn đề chấm dứt hợp đồng cộng tác và việc giải quyết tranh chấp hợpđồng cộng tác

5 Cộng tác viên được thực hiện trợ giúp pháp lý kể từ thời điểm ký hợpđồng cộng tác

3.4.3 Chấm dứt hợp đồng cộng tác và thu hồi thẻ cộng tác viên.

1 Điều 30 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định hợp đồng cộng tác bị chấmdứt và thẻ cộng tác viện bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:

a) Cộng tác viên không thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời hạn 06 tháng

kể từ ngày được cấp thẻ cộng tác viên, trừ trường hợp có lý do chính đáng;b) Cộng tác viên có một trong các hành vi (vi phạm điều cấm) quy địnhtại Điều 9 Luật Trợ giúp pháp lý;

c) Cộng tác viên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý;

d) Cộng tác viên chấm dứt hợp đồng cộng tác với Trung tâm hoặc khôngtiến hành ký hợp đồng cộng tác với Trung tâm trong thời hạn ba mươi ngày kể

từ ngày được cấp thẻ

2 Khi cộng tác viên thuộc một trong các trường hợp trên đây thì Giám đốcTrung tâm TGPL nhà nước ra quyết định chấm dứt hợp đồng cộng tác với cộngtác viên và đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp thu hồi thẻ cộng tác viên

Trang 13

3 Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của

Giám đốc Trung tâm, Giám đốc Sở Tư pháp ra quyết định thu hồi thẻ cộng tácviên Người bị thu hồi thẻ cộng tác viên thì không được tiếp tục thực hiện trợgiúp pháp lý

3.4.4 Phương thức tham gia thực hiện TGPL của cộng tác viên.

Điều 31 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định cộng tác viên tham gia trợ giúp

pháp lý theo các phương thức sau đây:

1 Nhận vụ việc trợ giúp pháp lý do người được trợ giúp pháp lý trực tiếpyêu cầu hoặc theo phân công của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước hoặcTrưởng Chi nhánh của Trung tâm

2 Cộng tác viên hoạt động với tư cách cá nhân hoặc được tổ chức thành

Tổ cộng tác viên

3 Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng cộngtác được ký kết giữa Trung tâm TGPL nhà nước với cộng tác viên

3.4.5 Quyền lợi và trách nhiệm của cộng tác viên

Ngoài các quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL nói chung quyđịnh tại Điều 25 Luật Trợ giúp pháp lý, Điều 32 Nghị định số 07/NĐ-CP quyđịnh khi trực tiếp tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên có nhữngquyền lợi và trách nhiệm sau đây:

a) Được nhận bồi dưỡng và các chi phí hành chính hợp lý theo quy địnhcủa pháp luật theo vụ việc cụ thể;

b) Được đề xuất, kiến nghị về việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Trung tâm;

c) Được biểu dương, khen thưởng khi có thành tích trong công tác trợgiúp pháp lý;

d) Sử dụng thẻ cộng tác viên theo quy định tại Điều 29 Nghị định số07/NĐ-CP và nộp lại thẻ cộng tác viên khi bị thu hồi theo quy định tại Điều 30Nghị định số 07/NĐ-CP;

đ) Chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm và trước pháp luật về việcthực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý của mình Trong trường hợp làm việc tại Chinhánh thì còn phải chịu trách nhiệm trước Trưởng Chi nhánh;

e) Trong trường hợp cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý mà gây thiệthại thì Trung tâm nơi người đó cộng tác có trách nhiệm bồi thường Cộng tácviên đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Trung tâm theo quy định củapháp luật về dân sự;

g) Báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Trung tâm; kịp thời báocáo những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý và đề

Trang 14

xuất biện pháp giải quyết với lãnh đạo Trung tâm.

4.4.6 Chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính cho Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý

1 Điều 33 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định khi tham gia trợ giúp pháp

lý, Cộng tác viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính hợp lýtheo quy định của pháp luật

Mức bồi dưỡng theo vụ việc trợ giúp pháp lý cho cộng tác viên được xâydựng căn cứ vào chất lượng nội dung trợ giúp pháp lý, thời gian thực hiện trợgiúp pháp lý, tính chất phức tạp của vụ việc trợ giúp pháp lý, kết quả trợ giúppháp lý và hình thức trợ giúp pháp lý Thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý baogồm thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ việc và chuẩn bị tài liệu phục vụ cho việcthực hiện trợ giúp pháp lý; thời gian gặp gỡ, tiếp xúc với người được trợ giúppháp lý hoặc thân nhân của họ; thời gian xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý;thời gian làm việc tại các cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc trợ giúppháp lý Căn cứ để xác định thời gian làm việc của cộng tác viên là thời gianlàm việc có xác nhận của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan

Theo Thông tư liên tịch số 81/2002/ TTLT/BTC-BTP ngày 25/9/2008của Liên Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng vàquyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý nhà nướcthì Cộng tác viên khi thực hiện trợ giúp pháp lý được hưởng mức bồi dưỡng cụthể như sau:

- Cộng tác viên thực hiện tư vấn pháp luật được hưởng mức bồi dưỡng

cụ thể là:

+ Đối với giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng miệng với vụ việc đơn

giản (có thời gian tư vấn không nhiều, hoặc chỉ hướng dẫn thủ tục cần thiết

như chuyển đơn, hướng dẫn hoặc cung cấp địa chỉ của các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền giải quyết vụ việc của đối tượng để đối tượng trợ giúp trực

tiếp đến đó ) thì phụ cấp đối với cộng tác viên là 20.000đồng/ giờ.

+ Đối với các vụ việc giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng miệng phức

tạp (như tư vấn một vụ việc có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác

nhau hoặc liên quan đến nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc các vụviệc đòi hỏi phải mất nhiều thời gian tư vấn ) thì cộng tác viên được hưởng

mức bồi dưỡng là 30.000đồng/giờ.

+ Đối với giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng văn bản đơn giản (như

thảo đơn, trả lời bằng văn bản qua thư với những vụ việc đơn giản chỉ liênquan đến một lĩnh vực pháp luật hoặc liên quan đến một cơ quan giải quyếthoặc vụ việc có tình tiết đơn giản không đòi hỏi mất nhiều thời gian ) thì mức

bồi dưỡng là 30.000đồng/1văn bản.

Trang 15

+ Đối với giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng văn bản phức tạp (như vụ

việc có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, liên quan đến nhiều

cơ quan giải quyết; hoặc vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp đòi hỏi phải có thờigian nghiên cứu hồ sơ tương đối lâu hoặc vụ việc vụ việc kéo dài nhiều năm đãqua nhiều cấp, nhiều ngành giải quyết mà không có kết quả; viết kiến nghị yêucầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, kiến nghị yêu cầu Viện trưởng Việnkiểm sát, Chánh án Toà án kháng nghị bản án đã có hiệu lực pháp luật v.v ) thì

mức bồi dưỡng cho Cộng tác viên là 50.000/1 văn bản.

+ Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng thì mức bồi dưỡng là 120.000đ/01 ngày làm việc của Luật sư Trong

trường hợp làm việc nửa ngày (một buổi sáng hoặc một buổi chiều) thì đượchưởng bồi dưỡng 60.000 đ/01 buổi làm việc

Trường hợp Luât sư đến tham dự phiên tòa nhưng bị hoãn mà khôngđược báo trước và không do yêu cầu của luật sư thì được bồi dưỡng tối đa60.000đ ( bằng một buổi làm việc của luật sư)

+ Cộng tác viên tham gia đại diện ngoài tố tụng thì mức bồi dưỡng là

100.000đ/01 ngày làm việc Trong trường hợp làm việc nửa ngày (một buổisáng hoặc một buổi chiều) thì được hưởng bồi dưỡng 50.000 đ/01 buổi làmviệc

+ Cộng tác viên tham gia hòa giải thì mức bồi dưỡng là 100.000/1 vụ

việc hòa giải

- Cộng tác viên được hưởng chi phí hành chính hợp lý khi thực hiện vụviệc trợ giúp pháp lý bao gồm các khoản phí phải nộp theo quy định của phápluật về phí, lệ phí, chi phí sao chụp tài liệu, chi phí liên lạc với người được trợgiúp pháp lý hoặc thân nhân của họ và các khoản chi phí hợp lý khác phục vụtrực tiếp cho việc thực hiện trợ giúp pháp lý Ngoài ra, khi thực hiện trợ giúppháp lý, Cộng tác viên được thanh toán tiền công tác phí, tiền tàu xe, tiền lưutrú, thuê nhà nghỉ như đối với cán bộ, công chức Nhà nước đi công tác Căn cứ để xác định chi phí hợp lý và thời gian đi công tác là biên lai thuphí, lệ phí, vé tàu, xe, hoá đơn nhà nghỉ v.v hoặc xác nhận của cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền

2 Trung tâm có trách nhiệm thanh toán cho Cộng tác viên theo đúng quyđịnh của Nhà nước về mức bồi dưỡng và các khoản chi phí hành chính hợp lý.Ngoài khoản bồi dưỡng và chi phí do Trung tâm trợ giúp pháp lý thanh toán,Cộng tác viên không được đòi thêm bất cứ khoản tiền thù lao nào từ ngườiđược trợ giúp pháp lý hoặc thân nhân của họ

3.5 Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý

Ngày đăng: 02/06/2018, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w