Chính từgiai đoạn này đã xác lập nên Trần Dần trong “tư cách nhà các tân thơ số một”,đặt nền móng cho những tìm tòi thi pháp của ông ở những giai đoạn tiếp theo,kích thích đáng kể tư duy
Trang 1Từ đồng dao đến thơ hiện đại: Trường hợp Trần Dần
07/08/2012 at 7: 37 am | Filed under 1 Tin tức - sự kiện
Trần Ngọc Hiếu Tóm tắt:
Trong khoảng thời gian 1963-1965, Trần Dần đã tiếp biến một cách sáng tạo mô thức của đồng dao để khởi đầu giai đoạn cách tân triệt để, quyết liệt nhất của mình Đồng dao
đã gợi ý cho Trần Dần một phương thức kiến tạo bài thơ mà theo đó, ngôn từ không đơn thuần chỉ là phương tiện để chuyển tải một ý nghĩa đã có sẵn, đã minh định Ngôn từ trong bài thơ trở thành thứ ngôn từ hướng đến chính nó Cụ thể hơn, đồng dao đã kích thích hứng thú của Trần Dần trong việc thể nghiệm để âm đi trước nghĩa, âm tạo nghĩa trong bài thơ Cách xử lý nhịp và đặc biệt là vần trong sáng tác của ông ở giai đoạn này rất đặc biệt: từ chỗ chơi vần khó, ông đã đi đến thực hiện những biến tấu âm, xóa bỏ hẳn mọi quy chiếu trong bài thơ, khiến bài thơ trở thành một “tác phẩm mở” Với những thể nghiệm này, Trần Dần trở thành người xác lập đồng thời là nhân vật trung tâm của dòng thơ ngôn ngữ trong thơ Việt hiện đại.
Tiểu luận tập trung khảo sát những thể nghiệm của Trần Dần trong khoảng thời gian 1963-1965 và lựa chọn phương pháp mô tả kết hợp với những đối sánh, liên hệ lịch sử cần thiết để làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của những tìm tòi thi pháp này trong tiến trình vận động của thơ ca Việt Nam Tiểu luận cũng ưu tiên phân tích thi phẩm Mùa
sạch, thi phẩm tiêu biểu những tìm tòi thi pháp theo đường hướng tiếp biến đồng dao
của Trần Dần, đồng thời cũng mở rộng khảo sát thêm một số sáng tác ở giai đoạn sau của ông nhưng vẫn nằm trong trường thi pháp mà ông đã xác lập trong khoảng thời gian này.
“Một VIẾT dãi dàu sinh ra một ĐỌC dãi dàu” [1]
(Trần Dần)
Sự đa bội của phong cách thơ của Trần Dần khiến việc nhận diện, mô tả toàndiện thi pháp của ông trở nên đầy thách thức Hành trình sáng tạo của Trần Dầntrải qua nhiều chặng; ở mỗi chặng ông đều ý thức tạo điểm nhấn, tạo đột phá vềthi pháp Sáng tạo, đối với Trần Dần, là sự tự phủ định không ngừng Như ông
đã tâm niệm: “Viết như xóa ngay cái mình vừa đưa ra”; “viết? giết một cái gì? đầu
tiên là quan niệm viết? rồi luôn đó, một vài cái khác – trong ngoài mình? nếu không viết làm gì?”.
Bài viết này giới hạn phạm vi khảo sát vào những sáng tác của Trần Dần trongkhoảng thời gian 1963-1965 Đây là giai đoạn như Dương Tường nhận định, Trần
Trang 2Dần đã “dứt khoát rũ bỏ ảnh hưởng của thơ bậc thang và khẩu khí Maiakovski
mà ngay cả trong Bài thơ Việt Bắc và phần nào trong Cổng tỉnh, ta vẫn còn gặp ở
đôi chỗ”, để “đắm mình vào suối nguồn ca dao- đồng dao”, “tạo nên một hônphối kỳ thú giữa truyền thống và hiện đại “ (Dương Tường, 1997: 119) Chính từgiai đoạn này đã xác lập nên Trần Dần trong “tư cách nhà các tân thơ số một”,đặt nền móng cho những tìm tòi thi pháp của ông ở những giai đoạn tiếp theo,kích thích đáng kể tư duy sáng tạo của nhiều cây bút – cùng thời hay thuộc thế
hệ hậu sinh, bất chấp những hạn chế về phạm vi truyền bá những tác phẩm củaông trong một thời gian dài – để định hình nên một dòng thơ thường được gọi là
“dòng Chữ” trong thơ Việt hiện đại, mà ở đó Trần Dần là một trung tâm[2].Nhiệm vụ của bài viết này, trước hết, sẽ phân tích cách Trần Dần xử lý, tiếp biếnnhững mô thức của đồng dao để tạo ra những hình thái mới cho thơ Từ đó, tôi
sẽ đưa ra cách lý giải: tại sao Trần Dần lại có thể tìm thấy những gợi ý từ môthức của đồng dao để khởi đầu giai đoạn cách tân triệt để, quyết liệt nhất củamình
*
Có thể bằng trực cảm để nhận ra hơi hướng của đồng dao trong thơ Trần Dần ởnhững bài mà nhìn bề ngoài, dường như sự thẩm thấu của mô thức đồng dao đểlại dấu ấn khá rõ Chẳng hạn:
Đi chởi! Đi chơi
Đầu trọc bình vôi
Hai tay hòn sỏi
Đi chơi! Đi chởi
Hai tay hòn sỏi
Đầu trọc bình vôi
Đi chởi! Đi chơi
Khóng khó để nhận thấy những dấu hiệu định tính của hình thức đồng dao ở bàithơ này: kết cấu vòng tròn – dạng thức kết cấu tiêu biểu của đồng dao; thể thơbốn chữ – thể thơ phổ biến nhất của đồng dao Việt Nam; hình thức điệp… Thậmchí, ngay cả nhan đề của nó – “Bài hát người lớn” – cũng cho phép ta hình dungmối quan hệ liên văn bản khả hữu giữa bài thơ với thể thức đồng dao, vốn đượccoi là những “bài hát trẻ con”
Trang 3Ở một ví dụ khác, ta có thể nhận thấy thơ Trần Dần duy trì cơ chế bắt vần, tạonhịp rất điển hình của đồng dao:
Công viên chiều sạch
thạch ngày…
thơm giày
mây mài – lai bùn- chun quần – thăn mần – gương trần – mâm đùi – mưa chùi – mui nhài – co cài – xoong nồi – vai mùi – dui kèo – kheo đồng hồ – thơ cờ – lơ rèm – tim phèn bùn sen… men đèn
(“Sạch”)
Sẽ không là khiên cưỡng khi đọc đoạn thơ trên của Trần Dần, âm và nhịp của nókhiến ta liên tưởng ngay đến những bài hát nhi đồng trong những trò chơichuyền, chơi chắt Thử đối sánh:
Qua cầu – hầu thẻ – bẽ bàng – sang ngón – chọn tay – ngay giò – giò gì – giò chả – ả gì –
ả mi – i gì – i ma [3]
Đáng chú ý, trích đoạn “Sạch” được dẫn ra ở trên được Trần Dần ghi chú là “một
bài tập” Có khả năng đây là một thí nghiệm thi pháp chuẩn bị cho Mùa sạch – thi
phẩm được xem như kết tinh cho những tìm tòi, thể nghiệm theo đường hướngkhai thác những gợi ý từ thơ ca dân gian để làm mới thơ của Trần Dần
Có thể dẫn thêm nhiều ví dụ khác để thấy hình thái, thể thức của đồng dao đãđược Trần Dần nhào nặn với tính chất là vật liệu nghệ thuật Nhìn chung sự tíchđọng của hình thức đồng dao trong thơ Trần Dần có thể được cảm nhận rõ nétnhất ở cơ chế tạo nhịp và bắt vần – yếu tố mà một nỗ lực cách tân trước ông,Nguyễn Đình Thi, tước bỏ Cũng chính vần đã được độc tôn như một yếu tốmang tính thơ không thể loại trừ dưới áp lực của thơ ca đại chúng hóa thơ ca[4].Tựa vào vần nhưng rõ ràng những thể nghiệm thi pháp của Trần Dần vẫn làphản đề so với thơ vần của dòng chính đương thời Tại sao ông làm được điềunày? Thực sự đây là điểm không khó nhận ra nhưng để chỉ ra được cách nhà thơ
xử lý vần như thế nào thì đòi hỏi nhiều sự tinh tế
*
Ta tạm quy ước gọi những bài thơ của Trần Dần được khảo sát ở đây là nhữngbài thơ đồng dao Đồng dao, theo một số quan niệm phổ biến, là những câu hátdân gian mà trẻ em thường hát khi chơi những trò chơi Trong một công trìnhđược xem là tập hợp dày dặn nhất về đồng dao Việt Nam – Đồng dao và trò chơi
Trang 4trẻ em người Việt – tuy còn một vài điểm lấn cấn trong việc nhận diện thể loạisong nếu thống kê dựa trên những bài được đưa vào tuyển tập, nhìn chung, ta cóthể nêu ra một số đặc điểm về hình thức được nêu ra một số đặc điểm hình thứccủa đồng dao được lặp đi lặp lại nhiều Nói khác đi, có thể xác lập được mô thức(pattern) điển hình của nó Theo đó, đồng dao thường tuân theo những thể thơ
có số âm tiết không lớn, từ 2-5 tiếng, trong đó, đồng dao bốn chữ chiếm tỉ lệ lớnnhất; nhịp ngắt chủ yếu là nhịp chẵn hoặc đọc liền hơi; vần đóng vai trò đặc biệtquan trọng trong việc liên kết chuỗi lời của bài đồng dao, đáng chú ý là việc gieovần lưng – cách gieo vần được xem là đặc thù Việt Nam[5] - xuất hiện với tần sốcao Cố nhiên, những đặc điểm hình thức trên đây của đồng dao gắn bó chặt chẽvới chức năng sinh hoạt thực hành của thể loại: nhịp và thể tương ứng với nhịpđiệu trò chơi của trẻ; vần vừa là yếu tố giúp khắc sâu trí nhớ trẻ, vừa là yếu tốthuận tiện để ứng khẩu
Việc Trần Dần chú ý đến mô thức của đồng dao có lẽ khởi nguồn từ mối quantâm thường trực của ông về nhịp điệu thơ Hình thức câu thơ bậc thang chiếm
ưu thế trong thơ Trần Dần ở giai đoạn trước đó, khi ông còn nằm trong vùng ảnhhương của Maiakovsky, là minh chứng Quan niệm của Maiakovsky: “[nhịpđiệu] là cái nền của bài thơ, nó đi qua bài thơ như một tiếng xốn xang (rumeur).Lần lần từ tiếng xốn xang này bắt đầu rút ra những từ… Cái nhịp – xốn xang này
từ đâu đến – không rõ Đối với tôi, đó là mọi sự lặp lại ở trong tôi một âm, mộttiếng động, một sự lắc lư hoặc nói chung đó là sự lặp lại mỗi hiện tượng mà tôidiễn ra được bằng âm thanh… Sự cố gắng tổ chức sự vận động, tổ chức âmthanh xung quanh mình, sự tìm tòi, tính chất đặc điểm của những thứ này là mộttrong những công việc làm thơ chủ yếu – công việc dự trữ nhịp… Nhịp, đó làsức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu thơ…” (Hoàng Ngọc Hiến, 1984:456-457) hẳn vẫn là điều mà Trần Dần tâm đắc cho dù ông đã bước qua bóng củaMaia và điều này không có gì nghịch lý bởi phủ định ảnh hưởng không có nghĩa
là xóa bỏ sạch trơn
Là hình thức ngôn từ gắn liền với hoạt động trò chơi nên đồng dao có một thứnhịp điệu chắc, mạnh, không phải thứ nhịp điệu buông chùng, lả lơi như nhiềuhình thức bài hát dân gian khác Thứ nhịp đồng dao ấy có sự đối ứng với cảmthức thơ của Trần Dần, cảm thức muốn hướng đến một thứ thơ tự nhiên, khoẻ
khoắn, không có sự dàn trải của tiết tấu Sức hấp dẫn của Mùa sạch, một phần
quan trọng, nằm ở một thứ nhịp điệu sống động, được tái sinh từ đồng dao Ởđây, Trần Dần đã lấy nhịp và âm chứ không phải nghĩa quy chiếu của từ làm
Trang 5bình diện thứ nhất của bài thơ Nói một cách hình ảnh, nghĩa của từ ở đây bị
làm dẹt đi, nhà thơ không bắt từ đóng vai trò làm những ẩn dụ, tượng trưng mà
để âm và nhịp trở thành nhân tố thơ chủ đạo Chính nhân tố này làm nên sức gợicủa bài thơ, sức gợi về một nhịp sống đang sinh sôi, nảy nợ, rạo rực Hãy thử đọcmột đoạn trích:
(“Sáng chiêm sang sáng” – trích Mùa sạch)
Việc quan sát mô thức của đồng dao giúp cho Trần Dần phát hiện ra nguồn nănglượng tiềm ẩn của một yếu tố hình thức mà ngay khi đang được tôn sùng, nócũng chưa được chú ý khai thác hơn là một công cụ: vần Vần trong đồng dao,như đã nói ở trên, có khả năng kích thích sự ứng khẩu của trẻ, thực hiện chứcnăng liên kết và khai triển chuỗi lời ở trẻ Vần như một điểm tựa để khơi dậy tứcthời những liên tưởng về hình ảnh, về âm thanh, khiến bài đồng dao mang tínhchất ngẫu hứng rõ nét Khi tiếp biến mô thức của đồng dao, Trần Dần đã kế thừađặc điểm này Nương vào một yếu tố mang tính khống chế là vần như Trần Dầnvẫn tạo được độ tung tẩy, tự do, tự nhiên trong mạch thơ Dưới đây là một ví dụ:
Cấp cứu! Cấp cứu!
Ô tô chẹt lá ch ết
Một cặp đi ngang đường b ẹt
Hãy để tôi đi tìm tia trăng vườn qu ít !
Điện thoại kêu th ét
Con cốc đi xa
Chương ba tiểu thuyết
Hành trình!…Hành trình!
Trang 6Không thấy sương bay thành v ệt …
(“Đoạn kết”)
Bài thơ ngắn trên đây khá điển hình cho cách chơi vần của Trần Dần Có thể thấyTrần Dần đã dùng vần với tinh thần tự gây thách thức cho mình Thứ nhất, ôngchơi những vần rất khó gieo, lại gieo vần trắc, khả năng kết hợp hạn chế Thứhai, ông gieo vần liên tiếp, dồn dập, có cảm giác ông vắt kiệt những khả năng kết
hợp của vần “Đoạn kết” lấy vần “ết” - một âm có độ mở hẹp, luồng hơi phát ra ngắn – làm vần chủ; các tiếng “chết” -“bẹt” – “quít” – “thét” – “thuyết” – “vệt” đặt
liên tiếp nhau, tạo ra ấn tượng về một trường âm thanh rít, nhói, một nhức buốtđòi được giải thoát, một mắc kẹt đòi được thoát ra, một dồn nén muốn đượcbùng vỡ, một hối thúc đòi được hoàn tất Vần ở đây ám thị một quá trình nộitâm đang ở độ căng mãnh liệt Trong khi chấp nhận luật chơi đầy thách thức củavần thì Trần Dần lại thả lỏng sợi dây liên kết logic: giữa các câu thơ có sự giánđoạn, có những khoảng hẫng; những quan hệ có thể giải thích được ngay mộtcách duy lý về ngữ nghĩa, về cơ chế liên tưởng bị làm mờ đi (ít nhất là trên bềmặt) Và bằng hành động này, Trần Dần đã làm thoái vị tính tự sự vốn là mộtđặc điểm chi phối rất lớn Thơ Mới và cả dòng thơ đương thời với ông – dòng thơ
về cơ bản vẫn tiếp nối mạch chảy của Thơ Mới nếu xét về mặt hệ hình, cho dù tưtưởng hệ có thay đổi[6]
Cách tự tạo ra thách thức để chơi âm thanh như Trần Dần có thể khiến ta nghĩđến những bài thơ toàn thanh bằng của Bích Khê thời Thơ Mới nhằm theo đuổichủ trương của Mallarmé: “Thu hồi tài sản của thi ca từ âm nhạc” Cái làm nên
sự khác biệt của Trần Dần không phải ở chỗ ông cũng thực hiện “chiến lược thipháp” bằng các thanh trắc, bằng những tử vận, mà đáng chú ý hơn ở chỗ: khôngnhư các nhà thơ theo khuynh hướng tượng trưng trước ông, Trần Dần đã khôngnhắm đến cái du dương, êm ái như là mục đích cao nhất Ở Trần Dần, nhạc thơtrở nên gai góc hơn, nghịch nhĩ hơn Hãy đọc lại “Chín bức thư mưa” của TrầnDần:
Em ơi!
Ai xui nhà ươm chín m ái
Tơ ngâm chín v ại
Dâu xanh chín b ãi
Tằm ngã – chín nong
Ai xui cửa chín chấn song
Trang 7Nhưng đến đoạn sau, cái mềm mại của nhạc thơ đã bị phá bỏ:
Chín trang mưa nhòe
Có thể thấy ngay ở đoạn này, cách gieo vần của nhà thơ đã “có vấn đề” TrầnDần gieo vần trắc liên tiếp, cố gắng duy trì liên tiếp đến mức độ cao nhất một
thanh điệu (thanh sắc), lấy âm “ứt” - một âm tiết khép, kết thúc bằng phụ âm tắc “t”, có khả năng kết hợp không hề phóng khoáng trong tiếng Việt – là âm cơ
sở để tiến hành việc gieo vần Bằng phương thức này, nhà thơ đã đẩy nhạc thơvượt quá tính chất hài hòa, êm tai, thay vào đó là một âm điệu gắt, nhức, chói,được nhân bội lên ở năm đoạn tiếp theo Cộng hưởng với điều này là sự láy đi
láy lại các kết cấu “Ai xui… Anh về…Anh đi…Anh ngồi…Anh trèo”, là sự trùng
Trang 8điệp con số 9 khiến nó trở thành biểu trưng của một tình thế hiện sinh trớ trêu,phi lý mà mọi nỗ lực hành động để vượt qua nó của con người đều bị kiểm tỏa…tất cả như thể ám thị trạng thái thống cảm, đầy dằn vặt của chủ thể trữ tình,muốn thoát ra khỏi sự câm nín để được cất lời, được đồng vọng, mà rồi dường
như vẫn bị tắc lại, nghẹn lại Đoạn kết lại bài thơ: “Em ơi! Em ơi! Thư!…Thư!…
Thư!… Địa chỉ mưa ướt – Chín lần thư mưa” tập trung nhiều hơn thanh bằng và
các âm tiết có độ mở kết thúc câu thơ, trong đó từ “mưa…” dứt bài là âm tiết có
độ mở lớn nhất trong toàn bài, bên cạnh tác dụng tạo sức gợi của dư âm, cònkhiến ta liên tưởng đến một cõi mênh mang, trống trải, một cảm nghiệm về sựbất lực trong khát vọng giao cảm của nhân vật trữ tình Chính nhạc tính ở đâygóp phần hiệu quả, nếu không muốn nói là bình diện nổi bật nhất, trong việcbiểu đạt sắc thái bi kịch của bài thơ
Tại sao Trần Dân thích chơi vần khó? Tại sao Trần Dần lại có xu hướng đẩy nhạcthơ đi quá ngưỡng của sự du dương, hài hòa? Tôi cho rằng, sẽ vẫn chỉ là mộtquan sát thuần túy bề mặt nếu cho rằng đây là một trò chơi kỹ thuật của nhà thơ.Cách chơi âm thanh ở đây có lẽ có một liên hệ sâu kín vói tâm lý sáng tạo của tácgiả Ông chọn những âm tiết đóng, có độ mở rất hẹp, có khả năng kết hợp ngặtnghèo – những âm tiết có sức cản nhiều hơn là điểm tựa để khai triển việc gieovần Ông đã chọn chúng trong một tình thế dường như không thoái thác được.Những âm tiết tưởng chừng cằn cỗi, rất ít khả năng tạo sinh đó như thể là nhữngvật liệu tối thiểu cấp cho kẻ làm thơ phải chịu án đi lưu đày, bị trục xuất ra khỏikhông gian ngôn ngữ của vùng thơ ca trung tâm Gieo vần, đối với ông, giốngnhư một nỗ lực giải tỏa sự khống chế của ngôn ngữ, cũng chính là sự khống chếđối với tư duy Ông đẩy những cách lặp, cách điệp, cách hiệp vần… ra khỏi lựchút của sự du dương, mượt mà thuận tai, không phải chỉ vì thế giới nội tâm gaigóc, u uẩn, nhiều ẩn ức không thể biểu đạt được bằng một thứ giai điệu như thế
Sự quyết liệt, ráo riết trong việc triển khai thi pháp của ông còn có thể được lýgiải bằng ý thức từ chối sự thỏa hiệp đối với thói quen của ngôn ngữ, với conđường dễ trong việc chọn lựa và xử lý chất liệu nghệ thuật Làm thơ, với Trần
Dần, là “tự rủ mình vào cửa khó.”
Xin được nói thêm, vần là một hứng thú mà Trần Dần say mê theo đuổi ngay cảtrong những thể nghiệm không nương theo mô thức đồng dao hay những sángtác ở giai đoạn sau này Ví dụ:
“… thì kệ cái tát 1 bát sẹo 1 lẹo vú 1 bú đít 1 lít nách 1 jạch tóc 1 móc họng 1 nọng thở 1
hở jõn 1 nọm nín 1 mím ngực 1 chực cắn 1 nắn thẹn 1 đẹn kén 1 nén xác.
Trang 9(“Năm lũy thừa” – 1975)
Có thể thấy Trần Dần đã lấy vần làm nhân tố chủ chốt để triển khai tính liên tụccủa hành ngôn thơ Ông “đập” vào vần đề từ vần mà bật ra chữ, bật ra hình ảnhgần như tự động, không hề vướng bận bởi những quy tắc tạo từ đã có, nhữngphương thức tạo hình theo một logic khả đoán, những cách tổ chức cú phápquen thuộc “Lối viết bật âm” này, tạm định danh như vậy, chính là một kiểudiễn ngôn đặc trưng của Trần Dần Lối diễn ngôn ấy đem lại cho người đọc thơông một khoái thú mà Phạm Thị Hoài đã gọi là “sướng nôm”, một thứ nôm rấthiện đại[7], cái khoái thú khi cảm nhận được khả năng tạo sinh bất ngờ và phongphú của tiếng Việt, mà điều này lại đến từ những yếu tố hay phương thức tưởngnhư có khả năng tạo sinh hạn chế nhất (chơi vần khó, chơi độc vận, độc thanh)
Đó không đơn giản chỉ là một trò chơi nhất thời; sự kiên trì của ông trong cáchứng xử nghệ thuật này có lẽ còn ẩn chứa cả một tâm niệm, một triết lý về hànhđộng sáng tạo: cho dù có thể bị tước đoạt tất cả, cho dù ngôn ngữ với những sứcnặng, không chế, áp đặt của nó muốn bắt nhà thơ phải câm lặng thì với ý chí tự
do, nhà thơ vẫn có thể cất lời, đồng thời giải phóng cho chính ngôn ngữ
Đến đây, cần ghi nhận một điều: trong khi hứng thú với những khoái cảm thẩm
mỹ của nhịp và vần mà mô thức đồng dao gợi ra thì trên thực tế, khi triển khaithi pháp, Trần Dần đã làm biến dạng mô thức này Ông không dùng lại mô thứcđồng dao như cách ứng xử của nhiều người trước và sau ông đã làm mà có thể
nói, ông đã cá nhân hóa mô thức này Những bài thơ đồng dao của ông trong khi
vẫn có thể cảm nhận được hơi hướng của thể loại gốc thì cũng không thể lẫnđược ở tính chất gây hấn với tai nghe thơ vốn quen với cái du dương, cái mượt
mà của thẩm mỹ đại chúng Với Trần Dần, mọi thứ đều có thể và cần phải đượcthử ở mức tới hạn của nó Cố nhiên, mô thức đồng dao ở Trần Dần còn trở nênbiến dạng bởi hình ảnh thấm đẫm cảm quan tạo hình của mỹ thuật hiện đại và
Trang 10nhất là đậm chất đô thị Tuy nhiên, do cách xác định vấn đề trung tâm của bàiviết, tôi sẽ không đi sâu bàn về đặc điểm này.
*Những mô tả trên đây đã cho thấy cách xử lý mô thức đồng dao của Trần Dần.Song đồng dao đối với Trần Dần có ý nghĩa hơn là một vật liệu nghệ thuật Tôicho rằng, nó có tính chất như một nhân tố gợi ý, kích thích tư duy thơ Trần Dần,
từ đó, khiến ông có thể tạo ra được những đột phá mạnh mẽ nhất so với nhữnggiai đoạn trước trong lộ trình sáng tạo của ông và so với cả tiến trình thơ ca hiệnđại nói chung
Đồng dao thường được xem là một tiểu loại của ca dao nhưng nếu theo đó xếp
nó vào nhóm các tác phẩm trữ tình thì không tránh khỏi khiên cưỡng Bởi lẽđồng dao không thiên về biểu hiện một nội dung cảm xúc cụ thể, cũng khônghàm chứa một cái lõi tự sự như ở nhiều bài ca dao khác Đồng dao là một tiểu thểloại mang tính trò chơi rất rõ, không phải vì bản thân nó gắn với trò chơi trẻ nhỏ,
mà vì nó chính là một trò chơi ngôn từ, được cấu tạo bởi sự tung hứng của nhịp
và vần Khoái cảm thẩm mỹ đầu tiên mà nó đem đến cho người ta chưa phải,thậm chí không phải, là một thông điệp hay một tư tưởng nào, mà là sự biến hóacủa âm thanh, tiết tấu Như bài đồng dao dưới đây mà trẻ nhỏ thường hát khichơi nu na nu nống: