Trong đó, có niềm cảm thương da diết cho số phận của những người phụ nữ nhan sắc, tài hoa mà bạc mệnh những cô đào Long thành, La thành… Bài thơ Độc Tiểu Thanh ký nằm trong mạch đề tài,
Trang 1BÀI DẠY: ĐỌC TIỂU THANH KÍ - Nguyễn Du
I MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1.Kiến thức :
- Tiếng khóc cho số phận người PH tài sắc bạc mệnh đồng thời là tiếng nói khao khát tri âm của nhà thơ
- Hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc
2.Kĩ năng : Đọc – hiểu thơ Đường luật theo đặc trưng thể loại
3.Thái độ : Trân trọng, yêu quý cái tài, cái đẹp (KNS : tư duy phê phán, thể hiện sự cảm thông, lắng
nghe tích cực )
II PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp phân tích, bình giảng
- Phương pháp tổ chức tranh luận, vấn đáp
2 Đồ dùng dạy học
- Sách giáo khoa;
- Sách giáo viên;
- Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng;
- Giáo án cá nhân;
- Một số tư liệu tham khảo khác;
- Phấn, bảng
III CHUẨN BỊ
1 Giáo viên
- Đọc SGK, SGV, TLTK
- Rút kinh nghiệm từ bài trước, soạn giáo án bài mới
- Phương án tổ chức lớp học, nhóm học
2 Học sinh
- Học thuộc bài cũ, hoàn thành bài tập đã giao ở tiết học trước.
- Đọc SGK, SBT, TLTK để củng cố bài cũ và chuẩn bị bài mới
- Soạn bài
IV HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1 Ổn định tình hình lớp: (1 phút).
2 Kiểm tra bài cu: Đọc thuộc lòng bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và nêu quan niệm sống
của nhà thơ ?
3 Giảng bài mới: (42 phút)
* Giới thiệu bài: (1 phút) Bên cạnh tuyệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du còn được nhắc đến nhiều
ở mảng thơ chữ Hán ( 249 bài) Thơ chữ Hán của ông thường chất chứa nhiều tâm sự, những trăn trở
về cuộc đời, về số phận con người Trong đó, có niềm cảm thương da diết cho số phận của những người phụ nữ nhan sắc, tài hoa mà bạc mệnh ( những cô đào Long thành, La thành…)
Bài thơ Độc Tiểu Thanh ký nằm trong mạch đề tài, mạch cảm hứng chung ấy
*Tiến trình bài dạy: (41 phút)
Thời
lượng Hoạt động của GV
Hoạt động của HS Nội dung bài học
Trang 2phút Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung
- Nêu xuất xứ và hoàn cảnh ra đời của
bài thơ ?
-GV bổ sung: Nguyễn Du có 3 tập thơ
viết bằng chữ Hán: Thanh Hiên thi
tập; Nam Trung tạp ngâm; Bắc Hành
tạp lục
- Bài thơ được viết trong hoàn cảnh
nào?
- Nêu thể loại bài thơ?
- Nàng Tiểu Thanh là ai?
- Nhan đề “Độc Tiểu Thanh Kí” là gì?
=> Đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh
-Trả lời
-Trả lời
-Trả lời
-Trả lời
-Trả lời
I. Tìm hiểu chung
1 Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
a Xuất xứ: Trích “Thanh Hiên thi tập”, viết bằng chữ Hán
b Hoàn cảnh: có 2 giả thuyết
- Trước khi làm quan đọc tập thơ còn sót lại của nàng Tiểu Thanh
- Sau khi Nguyễn Du làm quan được đi
sứ sang Trung Quốc → đến thăm mộ Tiểu Thanh
c Thể loại: Thất ngôn bát cú luật Đường
2 Nhân vật Tiểu Thanh
- Là một người con gái có tài, sắc sống đầu đời Minh (Trung Quốc) → làm lẽ,
bị vợ cả ghen, bắt ở một ngôi nhà trên núi → buồn → chết
- Tâm trạng uất ức của nàng được gửi gắm vào những bài thơ do nàng sáng tác → vợ cả đốt Những bài thơ còn sót lại được người đời tập hợp lại →
“Phần dư”
30
phút
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc –
hiểu văn bản.
-Gọi 1 HS đọc bài thơ
-Hình tượng thơ có sự đối lập như thế
nào?
- Tây Hồ có liên quan gì đến nàng Tiểu
Thanh ?
=> Nơi đây xưa kia là nơi Tiểu Thanh
bị đày và chết cô đơn bên cạnh vườn
hoa
GV bình: Tiếng thơ như tiếng than,
buột miệng thành lời - lời than trước
cái đẹp bị vùi dập Cảm xúc trước sự
đổi thay của cuộc đời là cảm xúc mang
tính nhân văn khá phổ biến của văn
học trung đại
- “Độc điếu” có ý nghĩa gì ?
- C©u th¬ thø 2 gîi cho ta t
thÕ vµ xóc c¶m g× cña ND?
So s¸nh nguyªn t¸c víi c¸c b¶n
-Đọc
-Trả lời
-Trả lời
-Trả lời
-Trả lời
-Trả lời
II Đọc hiểu văn bản
1 Hai câu đề : Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang)
+ Hình tượng thơ đặt trong sự đối lập Cảnh đẹp >< gò hoang
→ gợi nghịch cảnh éo le
+ Tẫn: tận cùng, triệt để “tẫn thành
khư” tất cả đã thành bãi hoang rồi
không còn một tí dấu vết nào nữa gợi
sự đổi thay khốc liệt
→ Câu thơ thể hiện niềm thương cảm, xót xa vì đặt trong nghịch cảnh trớ trêu giữa quá khứ - hiện tại, giữa vẻ đẹp huy hoàng và sự hoang vu cô quạnh
- “Đôc điếu song tiền nhất chỉ thư” Dịch “Thổn thức bên sông mảnh giấy
tàn”
+ “Độc điếu”: một mình viếng người
đã khuất
Trang 3dÞch nghÜa, dÞch th¬?
=>Bỏ mất từ Độc điếu
-G: Trong “Truyện Kiều”, Thúy Kiều
tri ngộ với số phận Đạm Tiên qua lời
kể của Vương Quan, còn ở “Đọc Tiểu
Thanh Kí”, Nguyễn Du thấu hiểu nỗi
oan khiên của Tiểu Thanh qua “mảnh
giấy tàn’ của nàng để lại
Cuộc tri ngộ giữa Thúy Kiều và Đạm
Tiên có sự chứng kiến của chị em
Kiều, còn cuộc viếng thương Tiểu
Thanh chỉ có một Nguyễn Du và một
tập sách bị đốt dở
-Chuyển ý: Đời Tiểu Thanh là điển
hình của 2 nỗi oan lớn: hồng nhan bạc
phận, tài mệnh tương đố Người đẹp:
chết trẻ bất hạnh Có tài: bị dập
vùi.Điều này thể hiện rõ qua hai câu
thực
- Son phấn, văn chương tượng trưng
cho cái gì?Hai câu thơ này nói về điều
gì?
*GV giảng bình: Chính nước mắt và
máu của Tiểu Thanh đã làm nên cái
“thần” cái “mệnh” của son phấn và
văn chương Nếu hiểu “son phấn”,
“văn chương” là chủ thể tự hận tự
thương thì đưa tới cách cảm nhận: son
phấn có thần chắc phải xót xa vì những
việc sau khi chết, văn chương không
có số mệnh mà cũng bị đốt dở Nếu
hiểu “son phấn”, “văn chương” là đối
tượng thương cảm của người đời thì
dẫn đến cách cảm nhận son phấn như
thần, sau khi chết người ta phải bận
lòng đến những bài thơ còn sót lại sau
khi đốt
Câu thơ Nguyễn Du đã hòa đồng tâm
trạng chủ thể và khách thể dẫn đến sự
hợp lí cả 2 cách hiểu nói trên Vả lại
“sợi chỉ đỏ” xâu chuỗi cả hai cách hiểu
đó chính là cảm hứng khẳng định sự
vĩnh hằng của cái đẹp và tài năng có
thể thấy rõ cảm hứng của Nguyễn Du
trước cái đẹp và tài năng không chỉ là
niềm xót thương mà còn là sự trân
-Trả lời
+ mảnh giấy tàn: là mảnh đời Tiểu Thanh vụn tàn còn vương lại
→ Người viết vốn là một kẻ cô đơn và người đi viếng cũng cô đơn, hai tâm hồn cô đơn gặp nhau
b Hai câu thực: Số phận bi thương và uất hận của nàng Tiểu Thanh
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận)
+ “Chi phấn hữu thần”: son phấn
có linh hồn, có sự linh thiêng
hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho nhan sắc của Tiểu Thanh
+ “liên tử hậu”: những chuyện
liên quan sau khi chết
Tiểu Thanh đến chết và cả sau khi chết vẫn còn ôm nỗi oán hận
-“Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
(Văn chương không mệnh đốt còn
vương)
+ “Văn chương vô mệnh”: văn
chương không có số mệnh như con người
hình ảnh ẩn dụ về tài năng của nàng Tiểu Thanh
+ “lụy phần dư”: cũng mang cái
lụy bị đốt cháy dở dang
nỗi đau và niềm xót thương cho cuộc đời của Tiểu Thanh
=> Nỗi ngậm ngùi, xót xa cho số phận và thương cho cái tài của nàng
Trang 4trọng
Cái đẹp có thể tàn về thân xác nhưng
cái hồn, cái thần của nó thì “chôn vẫn
hận” Cái mệnh của Tiểu Thanh thật
ngắn ngủi mà cái mệnh văn chương
của nàng thì dẫu “đốt vẫn còn vương”.
Chính cảm hứng ngưỡng mộ cái đẹp,
tài năng là dấu nối giữa số phận Tiểu
Thanh với bao người tài hoa bạc mệnh
trong đó có cả Nguyễn Du
-GV: Phong lưu là niềm mơ ước của
nhiều người Tại sao Nguyễn Du lại
gọi “cái án phong lưu”?
-Tại sao ND lại cho rằng mình là người
cùng hoi cùng thuyền với TT?
=> Người phong lưu đáng lẽ được
hưởng cái nhàn nhã, thanh thản của
cuộc đời nhưng thực tế thật oái ăm họ
thường bị vùi dập mắc nỗi oan lạ lùng
-Giảng bình: Nguyễn Du tự coi mình
như người cùng chịu nỗi oan lạ lùng
của người phong nhã cho dù giờ đây:
Tiểu Thanh và Nguyễn Du có khác
nhau ở chỗ kẻ mất người còn Tự nhận
mang cái thứ “phong vân kì oan” để
kí thác cho được những buồn vui, mơ
ước không chỉ của mình thì đó là hành
động nhân văn rất đáng được muôn
đời trân trọng Tự nhận mình là kẻ
cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh
nghĩa là sự đồng cảm đã đạt tới mức tri
âm Ở đây, ta hiểu tại sao Nguyễn Du
viết về Tiểu Thanh, về một con người
sống cách mình mấy trăm năm lại da
diết đến thế Bởi vì, Nguyễn Du viết về
nàng Tiểu Thanh cũng là viết về mình
Hoàn cảnh cụ thể thì cố nhiên mỗi
người một vẻ nhưng số phận của
những kẻ tài hoa trong xã hội cũ thì họ
lại giống nhau
Nguyễn Du từ cái hận của nàng Tiểu
Thanh mà nghĩ tới cái hận muôn đời
cái hận xưa nay cứ triền miên không
bao giờ chấm dứt Nguyễn Du cũng từ
cái hận Tiểu Thanh, dồn cái hận kim cổ
vào cái hận Tiểu Thanh Do vậy, cái
c Hai câu luận: Niềm suy tư và mối đồng cảm với nhân vật
- “Cổ kim hận sự thiên nan vấn”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi)
+ “Cổ kim hận sự”: mối hận từ xưa
đến nay, từ Tiểu Thanh đến Nguyễn Du
+ “thiên nan vấn”: khó có thể hỏi trời
được
nỗi băn khoăn và bất lực trước nỗi oan của những người tài sắc
- “Phong vận kì oan ngã tự cư”
(Cái án phong lưu khách tự mang)
+ “phong vận kì oan”: nỗi oan của
những con người tài sắc
+ “ngã tự cư”: ta cũng tự mình mang
lấy nỗi oan đó
sự cảm thông: coi mình là người cùng hội cùng thuyền với nàng Tiểu Thanh
=> Sự tương đồng giữa hai thân phận: tài hoa mà lận đận đa cùng
Trang 5hận trở nên quá lớn, dồn tụ lại như một
câu hỏi treo lơ lửng giữa không trung
khó mà hỏi trời được “thiên nan vấn”.
Lời thơ như muốn hướng câu hỏi tới
bầu trời để giải đáp một vấn đề của
cuộc sống nhân sinh nơi trần thế
Nhưng có hỏi trời thì cũng không một
lời giải đáp vì thế càng hận, càng nhức
nhối vô cùng
-Chuyển ý: Nguyễn Du và Tiểu Thanh
là cùng hội cùng thuyền nên càng xót
thương Tiểu Thanh, Nguyễn Du càng
xót thương mình, Từ thương người
thương đời ý thơ chuyển sang dưới
dạng một câu hỏi
- Hai dòng thơ cuối, tác giả bộc lộ nỗi
niềm như thế nào?
*Thuyết giảng: Không hỏi quá khứ,
hiện tại mà hỏi tương lai, không hỏi
trời mà hỏi người đời Hỏi 300 năm
sau trong thiên hạ có ai khóc cho Tố
Như Tiểu Thanh dù mệnh bạc đến
đâu, dù không nhiều – một người
“cùng hội” đó là Nguyễn Du khóc
thương Nhưng đến lượt mình mới thật
đáng lo, đáng ngại – không biết cái
hạnh phúc hiếm hoi kia của Tiểu
Thanh có lặp lại một lần với nhà thơ
Nguyễn Du hỏi tương lai mà lại cho ta
lời giải về hiện tại về thời đại cuổi TK
XVIII đầu XIX Nguyễn Du tự thương
tự đau và ông cảm thấy bơ vơ, không
tri âm, tri kỉ giữa cuộc đời, giữa thời
gian vô định Nhà thơ khắc khoải, hoài
vọng ở tương lai: đời sau trong muôn
một người có còn kẻ “khóc người đời
xưa” bởi thời đại Nguyễn Du khổ đau,
khao khát giải thoát nhưng vẫn bế tắc
Bế tắc nhưng vẫn không thôi khát
vọng Vì vậy, nỗi niềm Tố Như gửi tới
mai sau không phải là sự tuyệt vọng
mà là niềm hy vọng được giải tỏa
Nguyễn Du không cần đợi đến 300 sau
mà đã có nhiều người đã hiểu về
Nguyễn Du đặc biệt kỉ niệm 200 năm
ngày sinh, có nhiều nhà thơ làm thơ để
-Trả lời d: Hai câu kết:- “Bất tri tam bách dư niên hậu”
(Không biết ba trăm năm lẻ nữa)
+ “Tam bách dư niên”: 300 năm lẻ
thời gian lâu dài về sau
+ “Bất tri tam bách dư niên hậu”
nỗi băn khoăn, lo âu, dằn vặt của nhà thơ
-“Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Người đời ai khóc Tố Như chăng)
hỏi Tiểu Thanh nhưng cũng là hỏi chính mình: 300 năm sau ai sẽ là người khóc thương ta
=> Sự cô đơn, không ai đồng cảm trước cuộc đời, chỉ biết gởi hi vọng vào hậu thế
Trang 6ca ngợi về Nguyễn Du, thương thay
cho nàng Kiều, Tố Hữu có câu
“Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru
những ngày”
4 phút Hoạt động 3: Hướng ẫn HS tổng kết.
-Em hãy nêu ý nghĩa và những đặc sắc
về nghệ thuật của văn bản?
-Giáo dục thái độ, tư tưởng:
+ Biết quý cái tài, cái đep
+Biết thng cảm đối với những con
người có số phậm bất hạnh
-Trả lời
III Tổng kết :
1 Nghệ thuật :
- Sử dụng tài tình phép đối và khả năng thống nhất những mặt đối lập trong hình ảnh, ngôn từ
- Ngôn ngữ trữ tình đậm chất triết lí
2 Ý nghĩa văn bản :
Niềm cảm thương mà ND dành cho TT
và tâm sự khao khát tri âm hướng về hậu thế ; vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân đạo ND
4 Củng cố: Hãy so sánh người chinh phụ và nàng Tiểu Thanh để làm nổi bật đặc điếm của nhân vật nữ
trong sáng tác Nguyễn Du ?
→ Trong “Chinh phụ ngâm” nói về người chinh phụ cũng đau khổ nhưng là vì chiến tranh làm chia lìa đôi lứa
Còn nàng Tiểu Thanh thì đau khổ vì có tài, có sắc nhưng lại mệnh bạc
5.Dặn dò:
- Học thuộc lòng bản dịch thơ
- Dựa vào nội dung tp, cho biết vì sao ND lại có sự đồng cảm, tri âm sâu sắc với TT
- Soạn bài “PCNN Sinh hoạt”.