1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Văn học Mỹ La tinh

29 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 66,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như mọi nền văn học chân chính, văn học Mĩ Latin đã phản ánh được tâm thức của con người dân tộc Mĩ Latin, nêu vấn đề của thời đại và sáng tạo một thành tựu nghệ thuật mới.. Ban Nha

Trang 1

Văn học Mỹ La tinh

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước đây, chương trình Ngữ văn đại học và cao đẳng chưa đề cập các nền văn học châu Mĩ Latin Đến những năm 80 thế kỉ XX, những tác phẩm xuất sắc, độc đáo từ các nền văn học này mới thu hút giới nghiên cứu phê bình văn học các châu lục khác và gõ cửa sinh hoạt văn học nước ta Đề tài này được coi là một chưyên đề tự chọn của chương trình đào tạo Ngữ văn đại học

Chuyên đề này nhằm hai mục đích

1 Bổ sung chương trình Lịch sử Văn học Phương Tây (Tây Âu thế kỉ XX và Hoa Kì)

2 Bổ sung Lý thuyết văn học (phần Phương pháp sáng tác)

Văn học khu vực Mĩ Latin có nhiều điều mới lạ gây chú ý cho công chúng thế giới từ nửa thế kỉ

qua, Việt Nam từ 16 năm qua (đặc biệt từ năm 1986 khi cuốn Trăm năm cô đơn của

G.G.Marquez được xuất bản do dịch giả Nguyễn Trung Đức dịch và nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội ấn hành…) Chúng tôi chọn “Văn học Mĩ La tinh” vào phần chương trình “mềm” cho SV Ngữ văn tiếp cận

Cũng như mọi nền văn học chân chính, văn học Mĩ Latin đã phản ánh được tâm thức của con người dân tộc Mĩ Latin, nêu vấn đề của thời đại và sáng tạo một thành tựu nghệ thuật mới Cụ thể họ đã thưc sự bàn đến những vấn đề cơ bản sau:

Nhu cầu liên kết của các nước nhỏ thành khối lớn hơn để đương đầu với nước lớn trong quan hệ

chính trị kinh tế xã hội toàn cầu cũng đang đặt ra cấp bách Nhà văn bằng tiếng nói nghệ thuật độc đáo của mình cũng tham gia vào quá trình đó với tiếng nói riêng

Văn học Mĩ Latin góp phần đặt vấn đề và thử giải quyết hai vấn đề, đồng thời khẳng định dòng văn học hiện thực mang tính huyền ảo – một thành tựu văn học mới mẻ

Một mâu thuẫn đang tồn tại trong lối sống Mĩ Latin cũng tồn tại trong nhân loại là: trong khi sự giao lưu hội nhập trên phạm vi thế giới càng tăng thì lối sống cô đơn khép kín, vị kỉ (hay nói cách khác là chủ nghã cá nhân) cũng có chiều hướng gia tăng

Như vậy, văn học Mĩ Latin, đặc biệt là dòng tiểu thuyết mới, đã mang cả hai tính thời sự: thời sự của cuộc sống loài người nói chung và thời sự văn học nghệ thuật nói riêng Một hiện tượng văn học nghệ thuật chân chính phải mang cả hai tính chất ấy

Năm 2000 lần đầu tiên văn học Mĩ Latin được giới thiệu vào sách văn 12 tập 2, bộ sách hơp nhất Phần giới thiệu văn học Mĩ Latin ở trang 118 Một đoạn trích tiểu thuyết nhà văn Jorge

Trang 2

Amado, thuộc dòng văn học hiện thực nghiêm nhặt được soạn thành bài đọc thêm Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được giới thiệu truyện ngắn của G.G Marquez

Chúng tôi nghĩ rằng cần giới thiệu và trang bị cho sinh viên đại học ngữ văn một cách tiếp cận tương đối toàn diện về vùng văn học này bằng chuyên đề Từ đó SV có thể tiếp tục nghiên cứu

Cũng cần lưu ý rằng con mắt nghiên cứu của giới văn học Tây Âu vốn tự mãn, kiêu hãnh về sáu thế kỉ phát triển mạnh mẽ (từ thời Phục hưng thế kỉ 14 khi họ phát hiện ra thời cổ đại Hi Lạp)

Cả thế giới đều công nhận thành tựu lớn lao sâu sắc điển hình của văn học Tây Âu sáu thế kỉ đó kéo liền đến hiện tại từng gây ảnh hưởng mạnh khắp thế giới Giới văn học Tây Âu (kể cả giới văn hoá) quen đánh giá thấp Đông Âu, châu Á và cả châu Mĩ nữa Ngay cả văn học Hoa Kì ban đầu cũng bị coi thường (họ bảo Hemingway cũng chỉ viết theo phong cách châu Âu!) Vùng Mĩ Latin lại còn bị coi rẻ hơn cả Bắc Mĩ (gồm Canada và Hoa Kì) Do đó trong bài này chúng tôi trình bày cả hai hướng nghiên cứu của Tây Âu, Bắc Mĩ – Mĩ latin để đối chiếu, sau đó trình bày hướng nghiên cứu của Francoise Perus (người Pháp, quốc tịch Mexico, người áp dụng phương pháp macxit, đồng thời bản thân bà là người sống với cả hai nền văn hoá Tây Âu và Mĩ Latin-

một điều kiện đáng tin cậy nữa) Phần kết luận chúng tôi rút ra từ Từ điển thuật ngữ văn học Việt

Nam làm quan điểm chính thức, bên cạnh đó nêu những quan điểm riêng bổ sung

Tuy chưa đủ điều kiện nghiên cứu nhiều tác phẩm các thể loại, nhưng chúng tôi đã chọn hai tác phẩm tiêu biểu cho nền văn học Mỹ La tinh, đỉnh cao kết tinh phương thức sáng tác mới

Biên giả

CHƯƠNG 1

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO

TRONG VĂN HỌC MĨ LATIN

1 DẪN NHẬP

Từ những năm 60, tiểu thuyết Mỹ Latin xuất hiện như “quả bom” dội vang dư luận Âu Mỹ khiếnngười ta ngạc nhiên coi nó như một hiện tượng thần kì Văn xuôi Mỹ Latin nửa thế kỉ trước còn nằm ngoài rìa nền văn học lớn của nhân loại , nay đột ngột bước lên tiền đài của văn học thế giới “Một châu lục không phát triển về mặt kinh tế và bị áp bức đã cung cấp cho loài người mộtnền văn học có chất lượng cao như thế, “đó là một sự ngạc nhiên”, nhà văn Ros Bastos người Paraguay đã nhận định như vậy

Giới nghiên cứu văn học thấy cần phải tìm hiểu cơ chế nảy sinh ra sự “thần kì” đó Họ muốn thấu hiểu đặc trưng nghệ thuật và xã hội của nó, từ đó mới có thể đánh giá một cách khách quan Tiểu thuyết mới của Mĩ Latin là cái gì? Đâu là những tiêu chí và ranh giới phạm vi của nó? Sự khác biệt của nó so với tiểu thuyết châu Âu và tiểu thuyết Tây Ban Nha là gì?

Fernandez Retamar, nhà phê bình văn học Cuba đã trả lời câu hỏi đó một cách đơn giản nhất

“bản thân hiện thực của châu lục về nhân chủng học, địa lí, xã hội là thước đo duy nhất nét đặc thù của văn xuôi Mĩ Latin” Nhà phê bình Antonio Portuondo (Cuba) cũng viết: “tiểu thuyết Tây

Trang 3

Ban Nha – Mĩ bao giờ cũng được nuôi dưỡng chủ yếu bằng thực tại xã hội của chúng tôi.” Nhà phê bình văn học Hoa Kì Brotherston cũng ủng hộ quan điểm đó, ông cho rằng đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết Mĩ Latin là sự phản ánh đặc trưng dân tộc của châu lục này.

Muốn nghiên cứu nắm vững văn học Mĩ Latin, chủ yếu là văn xuôi và phương thức sáng tác hiệnthực huyền ảo của nó, chúng ta cần phải xem xét quá trình hình thành châu Mĩ và đặc điểm đất nước, dân tộc, xã hội của vùng đất này

2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHÂU MĨ VÀ MĨ LATIN

2.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ CHÂU MĨ

Năm 1492 một thuyền trưởng Tây Ban Nha người gốc Italia tên là Christoph Columbus –

con người dũng cảm đầy nghị lực đã được vua Fernando và nữ hoàng Isabeila giao nhiệm vụ tổ chức một chuyến tàu biển đi về hướng tây của Đại Tây dương nhằm mục tiêu cập bến bán đảo

Ấn Độ Mục tiêu cụ thể của chuyến đi lịch sử này là gì?

Trong nhiều thế kỉ dưới chế độ phong kiến trung cổ, tầm nhìn của người châu Âu bị bó hẹp trong khu vực Địa Trung Hải Đại dương mênh mông bao la ở kề bên chỉ làm họ sợ hãi hơn là gợi trí tò mò Các giai cấp phong kiến Tây Âu quen xài nhiều hàng xa xỉ như tơ lụa , hương liệu,

đồ châu ngọc mua từ Ấn Độ sang Hàng hoá này thường phải mua lại qua tay giới lái buôn Ả Rập độc quyền … Vàng bạc xứ Trung Hoa và Nhật Bản cũng có sức hấp dẫn kì lạ đối với giới vua chúa châu Âu Những con người đi đường sang phía Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật gọi là “con đường tơ lụa” lại hay bị người dân Thổ Nhĩ Kì ngăn chặn cướp cạn Người Tây Âu băn khoăn, liệu có thể tìm một con đường biển an toàn đi tới phương Đông, nhất là xứ Ấn Độ được không? Chính sự ham muốn nguồn tơ lụa châu báu hương liệu rẻ của xứ Ấn đã trở thành động cơ thúc đẩy giai cấp phong kiến châu Âu cố tìm con đường biển đi tới xứ đó

Trước Columbus đã có tới ba cuộc thám hiểm đi tìm Ấn Độ Lần 1 và 2 đi tới mũi châu Phi, lần

3 đi tới phía tây Ấn Độ Nhưng cả ba lần đều thiệt hại năng nề mà không kết quả

Cuộc hành trình của Columbus với 90 thuỷ thủ qua nhiều ngày lênh đênh gian truân trên mặt biển Đại Tây dương (Atlantic) đã tới vùng đảo Bahamas, Cuba và một số đảo khác Thuyền trưởng tưởng lầm rằng đã tới xứ Nhật Bản nên kiếm được một ít vàng và đường mía rồi quay trở

về Columbus còn đi tiếp ba chuyến nữa, lần chót tới được bờ biển phía Đông của vùng Nam Mĩ – nơi đây ông đã nhầm tưởng là xú Ấn Độ và gọi thổ dân xứ này là người Anh điêng (Indien – người Ấn) Chiến lợi phẩm ít ỏi mang về không làm hài lòng triều đình Tây Ban Nha Thuyền trưởng Columbus bi bỏ rơi trong nghèo khổ lãng quên, và chết năm 1506

Về sau, nhà hàng hải người Tây Ban Nha gốc Italia) là Amerio tiếp tục đi thám hiểm theo lộ trình của Columbus Đến bờ biển Châu Mĩ, ông xem xét và kết luận đây không phải là xứ Ấn Độ Nó là vùng đất hoàn toàn mới lạ đối với người châu Âu Người ta đặt tên cho châu lục mới này

là Amerigo, về sau đổi lại là America cho thống nhất với cách gọi tên các châu lục khác

(Europa : châu Âu, Africa: châu Phi và Asia : châu Á)

Trang 4

Năm 1519, cuộc thám hiểm vĩ đại của Magellant – nhà khoa học người Bồ Đào Nha (đang phục

vụ triều đình Tây Ban Nha) đã đi trọn vòng quanh thế giới và qua Nam Mĩ Họ xác định một cách chắc chắn: có một châu lục mới – châu Mĩ, và vẽ vùng đất này vào bản đồ thế giới

Đầu thế kỉ 16 những đoàn quân Tây Ban Nha vượt đại dương đi chinh phục miền Trung và Nam

Đến giữa thế kỉ 16, những đoàn vũ trang người Pháp tiến sang Bắc Mĩ, chiếm đất Canada

Sang thế kỉ 17, người Anh kéo sang chiếm miền duyên hải Bắc Mĩ, thiết lập lãnh thổ Hoa Kỳ, sau đó mở rộng lên miền Tây sau những cuộc đổ xô đi tìm vàng…Rồi người Ireland, Thuỵ Điển,

Hà Lan, Đức … cũng kéo tới hội cư

Trong chuyên đề này chúng ta chỉ dõi theo quá trình xâm nhập và khai thác thuộc địa của người Tây Ban Nha (sau đó thêm người Bồ Đào Nha) trên vùng đất Trung Nam Mĩ và sự hình thành khu vực văn hoá Mĩ Latin

CHỦ NHÂN ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT TRUNG NAM MĨ LÀ AI ?

Trước khi người châu Âu đặt chân tới xứ sở mà họ gọi là lục địa America thì nơi đây đã có một nền văn minh cổ xưa riêng biệt Chủ nhân của nền văn hoá đó là những người thổ dân đang sống trong giai đoạn phát triển cao của xã hội thị tộc Ba quốc gia – bộ tộc Maya, Azteques và Incas

đã có trình độ văn minh khá cao Những nông dân thành thạo trồng trọt Thợ thủ công khéo tay sáng chế đồ vật bằng vàng, đồng, đá và kéo sợi dệt vải Những thành trì cung điện rực rỡ, đền đài

đồ sộ Đây là những quốc gia độc lập có tôn giáo và nền văn hoá riêng trước khi người Tây Ban Nha đến

Quân Tây Ban Nha chủ trương chiếm dần từng vùng, xoá bỏ hẳn từng quốc gia, biến thành thuộcđịa Mới đầu họ tiến hành “mua bán”, “trao đổi” những thứ mang theo như chai lọ thuỷ tinh, kiếng soi … và hàng xấp Kinh thánh Gia Tô để đổi lấy vàng bạc, đồ trang sức Sau đó, họ tàn phá cung điện, đền đài, huỷ diệt tôn giáo bản địa, cướp bóc đồ vật quí hiếm Họ bắt thổ dân đóngthuế bằng sản vật địa phương …

Trong cuộc chinh phục qui mô của thực dân, các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã cộng tác đắc lực với giai cấp thưc dân Họ ép dân bỏ tôn giáo cũ theo Thiên chúa giáo Dưới bóng cây thánh giá, chúng đã thiêu sống nhiều người và đốt cháy nhiều làng mạc của bộ tộc da đỏ Đứng đầu các

“quốc gia mới” là các “phó vương Tây Ban Nha” – ông vua mới của vùng Mĩ Latin

Những đoàn thuyền Tây Ban Nha kìn kìn chở vàng bạc kim cương về nước, sau khi vơ vét “của nổi”, bọn thưc dân tìm cách đào bới “của chìm” Họ tìm cách khai mỏ, như mỏ bạc ở Bolivia mỗinăm đào được 300 tấn bạc Chúng cưỡng bách dân địa phương lao động quá sức và tàn sát nhữngngười chống đối Hàng triệu người chết vì kiệt sức hoặc bị giết hại…Để tăng thêm lao động, bọn thực dân tổ chức tìm bắt hoặc “mua ép” người da đen ở châu Phi (vốn đang là thuộc địa của Tây Âu) đưa sang châu Mĩ làm nô lệ Nhiều tháng trời lênh đênh trên mặt biển, những người châu Phi bị nhét dồn dưới hầm tàu, thiếu ăn uống và khí trời, khi tới châu Mĩ họ bị dồn vào các hầm

mỏ và đồn điền mía, cà phê, ca cao…

Trang 5

Ngày càng nhiều dân chúng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chuyển sang lập nghiệp ở châu Mĩ (vùng Trung Nam Mĩ) Chế độ cai trị thuộc địa bắt đầu Người đàn ông thực dân kết hôn với phụ

nữ bản xứ, lập nghiệp lâu dài hoặc định cư luôn Qúa trình trộn huyết giữa các màu da trắng – đỏ– đen tạo ra nhiều sắc dân đa dạng hơn xưa Đồng thời quá trình pha trộn các nguồn văn hoá Âu – Phi – bản địa cũng diễn ra Trong khi đang sản sinh những yếu tố văn hoá mới, người dân Mĩ Latin vẫn xem văn hoá châu Âu là nguồn chính, tiếp tục là nguồn sữa nuôi dưỡng các nền văn hoá Trung Nam Mĩ Người dân gốc lục địa Âu vẫn hướng về quê cũ để học tập, cho con cái về

“du học” ở xứ sở cội nguồn

(§) Xem tiểu thuyết Nô tỳ Isaura của nhà văn Bernado người Brasil – sau chuyển thể thành bộ

phim cùng tên Phim kể chuyện: một nhân vật tên Leon Chiev con lão huân tước chủ nô được

gửi về Pháp học đại học ở Paris – lúc đó được coi là thủ đô văn hoá của Tây Âu Anh ta đi học ngành vật lý nhưng chỉ ham mê ăn chơi Khi anh ta về nước, lão huân tước cay đắng nhận thấy thằng con “quý tử” chẳng mang về được một mảnh bằng nào Anh ta cũng chẳng học được thói gallant của người Pháp nên vẫn giữ thói “ông chủ thực dân” khi đối xử với nô tì Isaura Isaura

là con lai – bố là người Bồ Đào Nha da trắng, mẹ người Phi da đen Tuy không được đi du học nhưng cô lại được học tinh hoa văn hoá Pháp, giỏi tiếng Pháp, chơi đàn Piano thành thạo Có khi ngẫu hứng cô diễn tấu những bài nhạc lạ lùng tự sáng tạo – những giai điệu nhạc Phi, khiến người nghe kinh ngạc say mê Cô đã sáng tạo những giai điệu pha trộn nhạc Âu cổ điển với nhạc Phi hoang dã – gọi là nhạc Mĩ Latin và đã chinh phục được bà diễn viên kịch người Pháp…

III TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI–VĂN HOÁ CỦA CHÂU MĨ VÀ VÙNG MĨ LATINKhi các quốc gia thuộc địa ở châu Mĩ hình thành thì liên tục xảy ra những cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi ách cai trị của thực dân Tây Âu (thực ra là đấu tranh ly khai với mẫu quốc) Đấu tranh dai dẳng hàng thế kỉ

Mở đầu thành công là sự thành lập Hiệp chủng quốc Hoa Kì 1776 (The United States of

American) rồi đến Cannada rồi tiếp tục lan rộng khắp Trung và Nam Mĩ Vùng Bắc Mĩ, nền văn hoá Hoa Kì phát triển mạnh, có nhiều thành tựu (xem lại chuyên đề văn học Mĩ: văn học Mĩ tuy

có phong cách riêng nhưng vẫn mang tính Âu châu khá rõ nét)

Khu vực Mĩ Latin (do nguồn gốc tôn giáo, văn tự Latin nên người ta gọi vùng trung nam Mĩ là

Mĩ Latin) bao gồm 24 quốc gia sau: Argentina, Bahamas, Bollivia, Brasil, Cuba, Costa Rica, Colombia, Chile, Ecuador, Elsanvado, Guatemala, Grenada, Guyana, Haiiti, Honduras, Jamaika, Mexico, Nicaragua, Panama, Paraguay, Tobago, Trinidad, Uruguay, và Venezuela Tất cả nói tiếng Tây Ban Nha, vùng Brasil nói tiếng Bồ

Nước Cuba sau khi thoát khỏi ách thực dân Tây Ban Nha đã tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa

xã hội Hầu hết các nước khác chọn con đường tư bản chủ nghĩa với tư tưởng tư sản dân tộc (chủnghĩa quốc gia và chủ nghĩa Peron chống phụ thuộc và chống bành trướng Hoa Kì) Tư tưởng Mác – Lê Nin cũng đã thâm nhập vùng này Nhiều đảng cộng sản hoạt động hợp pháp ở một số nước Có thể nói vùng Mĩ Latin chứa đựng hầu hết những hệ ý thức – tư tưởng của nhân loại, chủ nghĩa đa nguyên tư tưởng và chính trị là một đặc điểm của vùng đất này Có thể tin rằng lục địa Mĩ Latin là một “bảo tàng sống” những mô hình lịch sử nhân loại Nơi đây vẫn còn tồn tại

Trang 6

phương thức sống thời nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản và xã hội chủ nghĩa Trong một nước cũng chứa đựng cả những hệ tư tưởng trái ngược nhau Những thành phố lớn hiện đại tiện nghi cao cấp, sang trọng cách không xa là những bộ lạc sống gần như hoang dã, nghèo khổ,

mông muội và man rợ [Chẳng hạn một nghi lễ tín ngưỡng như sau còn tồn tại: nghi lễ tế thần

mùa Xuân ở vùng trung du Colombia Đầu vụ trồng trọt chăn nuôi, dân làng chọn một đôi nam

nữ khoẻ mạnh xinh đẹp làm vật tế thần Ngày lễ, dân làng tập trung quanh một bãi cỏ rộng, phẳng lì, ai nấy cầm sẵn dao, mác trên tay Đôi trai gái ưu tú “được chọn” bị dẫn vào giữa bãi

cỏ, trút bỏ quần áo và giao hoan trước sự chứng kiến của mọi người Đến một thời điểm nào đó, người chỉ huy đứng kề bên đôi trai gái hô lên một mệnh lệnh Đám dân chúng reo hò xông vào đâm chém vằm nát hai con người hạnh phúc kia Phút chốc họ trở thành đám thịt nhão đầm đìa máu Mỗi người dân giành lấy một nắm chạy đi rải vào đồng ruộng, chuồng gia súc để cầu mong mọi vật sinh sôi nảy nở nhiều.]

Về mặt dân tộc học, người ta rút ra vài đặc tính đáng chú ý: dân Mĩ Latin ít bảo thủ, nhạy bén, khí chất nồng nàn mãnh liệt đến độ bạo liệt, vừa “hiện sinh” lại vừa “cô đơn”, vừa hâm mộ khoa học lại vừa sùng đạo Thiên chúa đến độ cuồng tín, kể cả những nhà khoa học

IV HAI PHƯƠNG THỨC SÁNG TÁC VĂN NGHỆ CHỦ YẾU Ở VÙNG MĨ LATIN

1 SƠ LƯỢC VỀ DÒNG VĂN HỌC THEO CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TIẾP NỐI

TRUYỀN THỐNG CHÂU ÂU THẾ KỈ XIX

Khuynh hướng văn học này nối tiếp văn học hiện thực phê phán của Tây Âu thế kỉ XIX, tất nhiên phản ánh được hiện thực Nam Mĩ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Truyện ngắn, đặc biệt tiểu thuyết có lối viết trong sáng, ngắn gọn, trực tiếp với lối viết quen thuộc Nó miêu tả hiện thực Mĩ Latin khá chính xác về chi tiết, bám sát địa bàn và sự kiện có thật, tất nhiên vẫn có hư cấu như mọi tiếu thuyết Tiêu biểu là tiểu thuyết “Nô tì Isaura” của nhà văn Bernador, “Những con đường đói khát”, “Đất Dữ”, “Ca Cao”, “Miền Đất Quả Vàng”, “Tereza” của George Amado Bên cạnh đó, còn có những tác phẩm tiêu biểu của Gabriel Gaccia Marquez (Ngài đại tá chờ thư, Trăm Năm Cô Đơn…), nhà văn Cuba Carpentier với truyện Vương quốc trần gian, thơ ca của Pablo Neruda v.v…

Nhìn chung, dòng văn học hiện thực phê phán Mĩ Latin chưa có những cách tân đáng kể về thi pháp nhưng cũng có giá trị trình bày hiện thực tàn khốc của vùng đất và con người xứ sở này

Nội dung chính của chuyên đề này là trình bày dòng văn học thứ hai: dòng văn học hiện thực huyền ảo cùng với phương thức sáng tạo nghệ thuật của nó

2 CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO MĨ LATIN:

Trong mấy thập kỉ cuối thế kỉ XX, giới nghiên cứu văn học châu Âu và vùng Mĩ Latin đã có nhiều công nghiên cứu với những quan điểm lí giải khác nhau Dưới đây chúng tôi lựa chọn một

số ý kiến tiêu biểu

Nhà phê bình P Trigo (Venezuela) đánh giá văn xuôi Mĩ Latin bằng công thức: “khát vọng hướng tới hiện thực được chuyển thành khát vọng hướng tới ngôn ngữ” Nghĩa là, nhà văn muốn

Trang 7

thâm nhập vào thực chất của sự vật thông qua hình thức của chúng Họ hướng tới tính quái dị và tính siêu thực của chúng Tiểu thuyết Mĩ Latin đầy sức sống, không hướng tới nhân vật mà hướng tới tình huống, hoàn cảnh.

Nhà phê bình James Joy (Bắc Ailen) phát thảo ra 7 đặc điểm của văn xuôi Mĩ Latin trong sự so sánh với tiểu tuyết hiện thực Tây Âu :

 Nhà văn muốn và có ý thức tách khỏi tiếu thuyết Tây Âu thế kỉ XIX

 Họ tìm tòi táo bạo và thể nghiệm tác phẩm trong những tình huống đa dạng nhất, họ sử dụng lối kết cấu đa thanh, bố cục của nghệ thuật điện ảnh, dòng ý thức, lối đối thoại cùngmột lúc

 Từ bỏ truyền thống ngôn ngữ vì phê bình chúng là bất lực và chỉ biết nhái lại thực tiễn,

họ biến đổi ngôn ngữ văn xuôi rất mạnh dạn

 Nhà văn không chỉ đặt ra những vấn đề tư tưởng mà còn nêu ra những vấn đề thẩm mĩ nữa

 Theo họ, không có sự đối lập giữa thành thị và nông thôn

 Các nhân vật của họ không có tính định trước theo khuynh hướng hẹp hòi

 Nhà văn cố gắng miêu tả hìng tượng hiện thực một cách trọn vẹn

Nhà nghiên cứu Emir Rodrigues (Uruguay) thì nhận xét một cách thất vọng: “tiểu thuyết mới Mĩ Latin là một cái không đồng nhất và không thể định nghĩa một cách rành rọt về lí luận” Ông chorằng tiểu thuyết Mĩ Latin đi theo “chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa hiện đại” (những khuynh hướng văn học Tây Âu nửa đầu thế kỉ XX hoặc “chủ nghĩa tự nhiên” cuối thế kỉ XIX)

Những năm cuối thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu Âu Mĩ có nhiều cố gắng làm sáng tỏ đặc trưng của “tiểu thuyết mới Mĩ Latin” Nhà phê bình Ferandez Retama (Cuba) đã tuyên bố: “càng ngày càng thấy rõ rằng, không thể lí giải nó bằng những khái niệm cũ của những nền văn học khác”

Và nhiều nhà nghiên cứu đã nêu lên những khái niệm mới “barokko mới” và “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” (huyền diệu)

Năm 1975, giảng bài tại Trường Đại học Tổng hợp Karakas (Venezuela), giáo sư nhà văn Cuba Carpentier đã cố gắng trình bày ngắn gọn hai khái niệm “tính barokko” và “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” và khẳng định đó là hai nhân tố quan trọng xác định một cách dứt khoát tính chất và nội dung của nghệ thuật Mĩ Latin Carpentier so sánh “Khác với phong cách Gotique, phong cách Roman và chủ nghĩa cổ điển vốn là những phong cách nghệ thuật có tính nhất thời về mặt lịch sử nghệ thuật, barokko mang tính phi thời gian, có tính tuyệt đối” Chống lại những ý kiến nói về bản chất suy đồi của barokko, giáo sư nhấn mạnh: “Đó là nghệ thuật của sự vận động, của

sự xung đột, nghệ thuật phục tùng sự ly tâm Nó xuất hiện ở nơi nào có sự chuyển hoá và đổi

Trang 8

mới.” Giáo sư đánh giá cao thánh đường Vasilij Blazhenyj ở nước Nga, “đó là một trong những mẫu mực tuyệt tác nhất của nghệ thuật Borokko Nga”.

Châu Mĩ là miền đất hứa của tính barokko vì châu lục này luôn luôn ở trong trạng thái vận động Mỗi sự cộng sinh, mỗi cuộc lai giống đều trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự nảy nở phong cách barokko Có thể nói bản thân hiện thực Mĩ Latin có tính barokko nên nghệ thuật của nó cũng mang tính barokko

ở Italia, Tây Ban Nha, Bồ, Đức, Pháp…và chưa đủ sức trở thành một trào lưu và phương thức sáng tác đáng kể Tuy vậy, khi mới bắt đầu nhen nhóm tính Baroque trong văn học thì văn học lãng mạn đi tiên phong với nhà văn Lope de Vega, Kalderon, Gogonru…mà theo Carpentier:

“Các nhà lãng mạn là những người hành động, những người tấn công, những người có sự vận động của ý chí, của sự tự khẳng định và phẫn nộ Cảm hứng lãng mạn của Baroque là sự thể hiệncực kì phong phú của nền văn minh, nó bay bổng và bộc lộ cảm xúc mãnh liệt”

Những tư tưởng của Carpentier được đa số giới phê bình nghiên cứu ủng hộ Người ta tin rằng

tính Baroque là một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Mĩ Latin Đề tài “barokko và barokko mới”

đã được thảo luận tại phiên họp đầu tiên của Hội nghị lần thứ 27 của Viện Văn học thế giới (Mĩ) với hơn 50 bản tham luận Mỗi người tham dự đưa ra một khái niệm Barokko theo ý riêng, do đóchưa thống nhất được

Khuynh hướng phê phán chỉ trích “tiểu thuyết mới” thì cho rằng “hiện thực được phản ánh trong tiểu thuyết rất lộn xộn và do đó mang tính Baroque Rằng đó là ví tác giả đã đem cấu trúc phi logic và phản thực tế, phá vỡ những mối liên hệ nhân quả và tuyến thời gian Dẫn chứng các tiểu thuyết “Gia đình xa xôi” của Fuentaz, “Buổi hoà nhạc Barokko” của Carpentier và “Kí sự về mộtcái chết được báo trước” của G.Marquez

Không có một nhà tiểu thuyết nào đến nay đã thể hiện được một cách đầy đủ tính cách của ngườicông dân Tân thế giới (New World: châu Mĩ)

Nhà phê bình Natalia (người Mĩ) đã nêu được một hệ thống dấu hiệu tính Barokko của tiểu thuyết Mĩ Latin như sau:

1 Sự tìm tòi tất cả những cái mới và cái lạ thường

Trang 9

2 Cường điệu phóng đại, thiên về ngoa dụ

3 Sự giả tạo và rối rắm về tư tưởng, hướng tới một thiểu số trí tuệ

4 Cảm thụ rất chủ quan đối với hiện thực

5 Sự rối rắm của phong cách

6 Văn thể hiện sự mất cân bằng về tinh thần, sự hư vô và sự thất vọng, bi quan.Nhìn chung, đa số nhà nghiên cứu vẫn khẳng định giá trị của “Barokko mới”, như bà Rumb nhà nghiên cứu – giáo sư Đại học tổng hợp California – đã coi việc nắm bắt hiện thực trong toàn bộ chỉnh thể sâu sắc của nó là đặc điểm chủ yếu của barokko Mĩ Latin Bà khẳng định rằng “tính barokko đó không chỉ là sự coi trọng “sự vận động”” Thực chất, đó là một cái gì lớn lao hơn thế

Ý đồ nắm bắt dòng hiện thực sống động, mãnh liệt trong tính toàn vẹn của nó đã thôi thúc Carpentier, ông quan tâm đến cuộc sống trong mọi biểu hiện của nó Ông đã đoạn tuyệt với cách viết tiểu thuyết hiện thực truyền thống

2.2 NHỮNG QUAN NIỆM VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO

Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là phương pháp, khuynh hướng, trường phái, thế giới quan hay phong cách? – chưa có được một lời giải đáp thoả đáng cho những câu hỏi đó Tuy vậy, nó vẫn được sử dụng trong phê bình văn học, thậm chí còn rộng rãi hơn trước Mọi công trình nghiên cứu về các tác gia lớn như Carpentier (Cuba), GG Marquez (Colombia), Ros Batoz (Brasil) đều phải dùng thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” – magic realism

Vinh dự của sự phát minh ra thuật ngữ này thuộc về nhà nghiên cứu nghệ thuật người Đức là Frans Roh Năm 1925 ông đã dùng thuật ngữ này nói về hội hoạ của chủ nghĩa biểu hiện…Ở châu Mĩ Latin, thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong văn học là năm 1948 do nhà phê bình nổi tiếng Uslar Retri (người Venezuela) khi phân tích một trong những truyện ngắn Ông

nêu lên tính chất tổng hợp lạ thường giữa cái hiện thực và cái huyền ảo / bí ẩn Nhà phê bình viết

rằng: “Đó là cái không thể gọi bằng từ nào khác chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”.

Nhà văn giáo sư Carpentier lại thôi thúc mạnh mẽ nhằm truyền bá thuật ngữ đó hơn ai hết Trong

Lời nói đầu cuốn tiểu thuyết Vương quốc trần gian của mình (năm 1949) ông đã nói đến cái

“tính hiện thực của cái kì diệu” hoặc “hiện thực thần kì”

Những công trình nghiên cứu văn học Mĩ Latin gần cuối thế kỉ 20 về chủ nghĩa HTHA gồm 3 nhóm chính:

NHÓM THỨ NHẤT:

Được phổ biến rộng hơn cả, cho rằng CHHTHA là một khuynh hướng văn học được phát triển trực tiếp từ chủ nghĩa siêu thực của văn học Pháp đầu thế kỉ 20 Bà Auor Ocampo – nhà nghiên cứu văn học người Mexico không những đã đặt cơ sở văn học sử mà còn đặt cơ sở sinh lí học cho CNHTHA Trong bài tham luận, bà đưa ra những lời xác nhận của các bác sĩ thần kinh, tâm

Trang 10

thần về vai trò chủ yếu của giấc mộng trong hoạt động cơ thể, rằng “giấc mộng là một trong những nhịp điệu chủ yếu của hoạt động sống” Từ đó tác giả kết luận: “cả chủ nghĩa siêu thực lẫnCNHTHA đều nảy sinh trên mảnh đất của nó, đều là biểu hiện tính hiện thực của sự tồn tại con người Khác nhau ở chỗ, chủ nghĩa siêu thực phù hợp với cái vô thức của cá nhân và tư tưởng Freud còn CNHTHA thì phù hợp với cái vô thức của tập thể và tư tưởng triết học Jung” Nhà

nghiên cứu Langovski nêu ra ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực đối với toàn bộ tiểu thuyết Mĩ

Latin hiện đại, gồm các nội dung:

1 Tinh thần “nổi loạn” chống lại những quy tắc của tiểu thuyết Tây Âu

2 Khát vọng tìm kiếm cái kì diệu khi đi sâu vào cái vô thức

3 Tính ẩn dụ nổi bật và tính hình tượng kèm theo sự rối rắm về cú pháp

4 Sự sùng bái tính phi lí của “hài hước đen”

5 Lối tự sự biến hiện thực thành phi hiện thực (thủ pháp)

6 Những biện pháp tu từ đặc biệt (hồi cố, montage / chồng chéo kiểu điện ảnh)

7 Việc sử dụng thời gian không tuyến (nhiều loại thời gian, đảo lộn, chồng chéo hình ảnh).NHÓM THỨ HAI

Việc lí giải CNHTHA là sự kêu gọi trả lại ý nghĩa đúng đắn cho tiểu thuyết Mĩ Latin và chỉ áp dụng thuật ngữ đó cho Mĩ Latin Nhóm này phát triển ý kiến của Caperntier (không chấp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực Pháp với tính hiện thực của cái kì diệu) rằng “thế giới của cái

kì diệu, khi người ta định đưa nó vào cuộc sống với thái độ không tín ngưỡng như các nhà siêu thực đã làm bao nhiêu năm nay, đã và sẽ chỉ là một ảo thuật văn học” James Roy và Pedro Trigocho rằng: “tính hiện thực của cái kì diệu là là thuộc tính riêng của tiểu thuyết Mĩ Latin chứ khôngphải sự vay mượn những khám phá của chủ nghĩa hiện đại” Đáng chú ý là cuốn sách của nhà

nghiên cứu nhà văn Antonio Bravo (Peru) nêu lên tám bộ phận hợp thành của chủ nghĩa hiện

thực huyền ảo gồm tựu trung hai nhân tố:

- Niềm tin: người ta tin vào một cái gì đó mang tính siêu nhiên, nó giao kết với tín đồ Sự giao kết ấy là cái kì diệu (niềm tin của nhà văn, của người đọc và của nhân vật vào cái kì diệu ấy)

- Cảnh vật, lịch sử, các sự kiện được bao phủ bằng tấm màn bí ẩn huyền diệu.Antonio lại chia chúng ra ba phần:

1 Phong cảnh môi trường huyền bí.

2 Nhân vật:

- Có những phẩm chất siêu nhân

Trang 11

- Có hành động khác thường

- Những người quan sát cái kì diệu và những người có niềm tin vào cái kì diệu

3 Những sự kiện phi thường.

Tiếp đó tác giả lại áp dụng sơ đồ ấy vào ba cuốn tiểu thuyết tiêu biểu: “Trăm năm cô đơn” của G.G Marquez, “Vương quốc trần gian” của Carpentier và “Pedro Paramo” của J Russo

Antonio cho rằng đi theo chiều hướng “tính hiện thực của cái kì diệu” nhà văn không chỉ kết hợpcái có thực và cái kì diệu mà còn “đấu tranh với tính hiện thực” Tác giả nhấn mạnh rằng “phóng đại, cường điệu là thủ pháp chủ yếu của cuộc đấu tranh với hiện thực, tức là cải tạo hiện thực bằng nghệ thuật” Theo ông, tất cả những chủ đề chính của tiểu thuyết Mĩ Latin hiện đại gồm: cáichết, tình yêu, du ngoạn, lòng căm thù, chính trị và sự cô đơn đều được xử lý bằng thủ pháp cường điệu phóng đại

NHÓM THỨ BA

Đây là cách tiếp cận “dân tộc học” được thể hiện trong luận án tiến sĩ của nhà nghiên cứu Ortiz Aponte (Puertorico) với tên đề tài là “ CÁI SIÊU NHIÊN TRONG VĂN XUÔI MĨ LATIN ” Nhà nữ nghiên cứu đã xuất phát từ một tiền đề hoàn toàn hợp lí: “nếu như trong tiểu thuyết Mĩ Latin chứa đầy những cái kì diệu chính là vì trong thực tế có nhiều điều kì diệu” Nhưng khác với Carpentier và những môn đồ của ông, bà quan niệm về những phạm trù “hiện thực” và “kì diệu” không phải với tất cả vẻ dị dạng của nó mà là rất hẹp như một tầng nền của những tín ngưỡng cụ thể, những nghi lễ, huyền thoại, những cách thờ cúng còn giữ lại được cho đến ngày nay Chính những tầng văn hoá còn được tồn tại ấy đã thăng hoa trong văn học dưới hình thức

“chủ nghĩa hiện thực huyền diệu” Luận án tiến sĩ này đã kết hợp phương pháp và tư liệu của hai

bộ môn khoa học “dân tộc học” và “ngữ văn” Phần đầu, tác giả điểm lại một cách tổng quát dưới dạng dân tộc học những phong tục thờ cúng đa dạng lưu truyền trên lãnh thổ châu Mĩ Phầnhai, bà thử đem chúng đối chiếu với những tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu ở Mĩ Latin

Một tuyển tập luận văn của tác giả Francoise Perus (người Pháp quốc tịch Mexico) vừa được

xuất bản được chú ý đặc biệt và được trao giải thưởng của nhà xuất bản Cuba Casa de Las America Cuốn sách có vẻ biệt lập khác những công trình đã trình bày ở trên, được coi là theo khuynh hướng macxit – duy vật biện chứng trong công việc nghiên cứu văn học Mĩ Latin F Perus xuất phát từ luận điểm cho rằng: trong lĩnh vực phê bình hiện đại vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh không ngừng giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật Luận điểm này đã dẫn bà tới cuộc bút chiến Theo bà, những trào lưu duy tâm tập hợp xung quanh hai quan niệm chính: quan niệm thứ nhất dựa trên sự tuyệt đối hoá vai trò của cá tính sáng tác và phạm sai lầm tách chủ thể ra khỏi khách thể và tách ý thức cá nhân ra khỏi ý thức xã hội Quan niệm thứ hai thì dựatrên sự tuyệt đối hoá phong cách, hình thức, ngôn ngữ của tác phẩm văn học

Tranh luận với những nhà phê bình thiên về lối nhìn đặc điểm folklore của tác phẩm văn học táchrời sự tồn tại lịch sử, Perus khẳng định luận điểm “trong văn học không có những giá trị và

Trang 12

những nhận định vĩnh cửu bất biến”, bà quả quyết rằng: tất cả những thông số thẩm mĩ của văn chương đều do tính cụ thể và gắn liền với một thời đại nhất định.

Từ quan điểm đó tác giả nhìn nhận đặc trưng của tiểu thuyết Mĩ Latin hiện đại Cao trào của văn học mới ở vùng này được bà giải thích bằng những nhân tố xã hội – chính trị và gắn với cách

mạng: “sự nở rộ của văn chương Mĩ Latin đã gắn bó mật thiết với thắng lợi của cách mạng Cuba

– cuộc cách mạng làm thay đổi cơ bản vai trò của Mĩ Latin trên vũ đài quốc tế Nó cũng được

tạo ra bởi sự đoàn kết của lực lượng dân chủ và chống đế quốc khiến người ta nhận ra rằng: số phận của họ trực tiếp gắn liền với cuộc đấu trang giải phóng dân tộc của các nước dang phát

triển.

TIỂU KẾT

Vấn đề xác định đặc trưng của TIỂU THUYẾT MỚI Mĩ Latin vẫn còn tiếp tục Chừng nào thiết lập được cơ sở vững chắc cho việc khái quát về mặt loại hình tác phẩm của văn xuôi Mĩ Latin hiện đại thì những thuật ngữ như “barokko mới, hiện thực huyền ảo”, “tính hiện thực của cái huyền diệu” sẽ được chọn hoặc thay thế

Tuy nhiên chúng tôi cũng chọn lấy những quan niệm tương đối phổ biến hiện nay để trình bày thành tựu văn học Mĩ Latin trong thế kỉ 20

HAI QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA NHÀ VĂN MỸ LA TINH

1 Quan niệm về hiện thực

Theo nhà văn Mĩ Latin, hiện thực là tất cả cuộc sống thực tại bao gồm mọi hoạt động của conngười, kể cả đời sống tâm linh (niềm tin tôn giáo, mộng mị, thần giao cách cảm, trí nhớ di truyền, lời nguyền…) Tóm lại, hiện thực là tất cả những gì mà cảm giác, trí tuệ con người có thểthu nhận được

2 Cảm hứng chủ đạo

Do gắn bó sâu sắc với cộng đồng và thời đại, người trí thức luôn luôn bị giày vò đau khổ về tình trạng lạc hậu và chia xẻ phân tán của các dân tộc hỗn tạp vùng Mĩ Latin Họ vừa bất bình vừa lo sợ tình cảnh đất nước ngày càng bị phụ thuộc vào các ông chủ Mĩ

Họ lại buồn nản vì thấy nhiều người đang bị tha hoá, sa đoạ trong đời sống tinh thần sinh hoạt, kiếm sống và vô chính phủ về mặt chính trị Họ tin rằng sự chia rẽ chính là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ Mĩ Latin Văn chương của họ giàu triết lí v6è số phận con người, số phận dân tộc và cả châu lục Mĩ Latin

Mặc khác, Cơ Đốc giáo tuy mới tồn tại vài trăm năm ở lục địa Mĩ Latin nhưng đã gây dấu ấn sâu đậm nơi đây tới tận tầng lớp trí thức khoa học Cái “mặc cảm khải huyền” là tinh thần cơ bảncủa Kinh Thánh đang chế ngự cuộc sống tinh thần của dân chúng vùng Trung Nam Mĩ “Mặc cảm khải huyền” là mặc cảm về ngày tận thế – ngày phán xét cuối cùng của nhân loại Mặc cảm

đó lại gặp gỡ tinh thần tư duy biện chứng khiến nhà văn nảy sinh mặc cảm nỗi ám ảnh về ngày

Trang 13

cáo chung của hình thái kinh tế – xã hội tư bản tư hữu và dự cảm ngày khởi thuỷ của một hình thái kinh tế – xã hội mới và con người mới (Đó là chủ nghĩa xã hội hay là một cái gì khác?)

Trong tiểu thuyết “Trăm Năm Cô Đơn”, thi pháp thời gian nghệ thuật thể hiện một tâm trạng

đợi chờ lo lắng khắc khoải một tương lai không rõ buồn vui sắp đến

Theo cảm hứng đó, nhà văn hiện thực huyền ảo muốn đi ngược thời gian nghệ thuật truyền thống Họ miêu tả nhân vật và sự kiện trong những kết cấu thời gian lạ lùng như: thời gian đa chiều, thời gian ngược chiều, thời gian đồng hiện, thời gian – không gian – thời gian…

Ở cấp độ chi tiết nghệ thuật, họ không ngần ngại miêu tả cả những chi tiết phi lý, hoang đường

Về tư tưởng-nghệ thuật, họ tự mâu thuẫn khi vừa tiếp thu chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng lại vừa

“nổi loạn” bài bác chống lại nó Có lẽ cần phải có một tư tưởng mĩ học mới cho thời đại

Họ chủ trương văn học phóng túng, chống giáo điều tôn giáo nhưng họ cũng rất sùng tín

Họ ca ngợi, ước ao cuộc sống vật chất dồi dào và khoáng đạt tinh thần cho con người đồng thời lại kêu gọi cuộc sống khắc kỉ theo lí trí

Trên đây chúng tôi đã tóm tắt, chọn lọc những ý kiến, quan điểm đánh giá và xác định đặc trưng nền văn học mới Mĩ Latin trong vài chục năm cuối thế kỉ 20 Đặc biệt khi cuốn tiểu thuyết

“Trăm Năm Cô Đơn” của Marquez (Colombia) được trao giải Nobel 1982 thì sự khẳng định của giới nghiên cứu văn học về một dòng tiểu thuyết Mĩ Latin theo khuynh hướng hiện thực huyền

ảo mang bản sắc riêng độc đáo cũng được thừa nhận như MỘT BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC.

PHẦN HAI

Phần này giới thiệu hai tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học “hiện thực huyền ảo” Mĩ Latin Đó

là tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” và truyện ngắn “Biển của thời đã mất” của nhà văn Gabriel

Gacia Marquez

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN

(Cien anos de solidad)

Tác giả Gabriel Gacia Marquez – nhà văn Colombia

Người dịch: Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng

Nhà Xuất Bản Văn hoc, Hà Nội 1986

1 CỐT TRUYỆN VÀ ĐỀ TÀI

Trang 14

Tểu thuyết kể câu chuyện về dòng họ Buendya tồn tại được bảy thế hệ (khoảng 100 năm), ngườiđầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuôí cùng bị kiến ăn Đó là một dòng họ tự lưu đày đến cõi

cô đơn để chạy trốn tội loạn luân

Tội loạn luân phát sinh do việc tên cướp biển Francis Dark tấn công vùng Rioacha khiến cho các cụ tổ của bà Ucsula Igoaran phải chuyển đi lập nghiệp ở một làng hẻo lánh Nơi đây họ gặp

gỡ dòng họ Hose Accadio Buendya cũng đến đây sinh sống bằng nghề trồng thuốc lá Hai dòng

họ này kết thân và hôn nhân chồng chéo suốt ba thế kỉ Cuộc hôn nhân cuối cùng là một thảm hoạ: đẻ ra đứa bé có cái đuôi lợn Tấm gương khủng khiếp ấy khiến cha mẹ của chàng trai Buendya và cha mẹ của Ucsula tìm cách ngăn cản con trai con gái hai dòng họ lấy nhau Không

có sức mạnh nào ngăn cản nổi hai người đến với nhau Khi làm đám cưới, Mẹ cô dâu Ucsula tìm cách trì hoãn việc ăn ở của con gái bằng cách may cho cô “chiếc đai trinh tiết” dặn cô sử dụng

để ngăn chặn thảm hoạ Mới đầu sợ hãi, cô nghe lời mẹ trước khi đi ngủ nhớ mặc “chiếc quần trinh tiết” Sự giữ gìn ấy kéo dài một năm, dân làng ngạc nhiên tò mò và đồn đại anh chồng bị bệnh bất lực Buendya tyên bố: “dù có đẻ ra con kỳ nhông anh cũng cóc cần” Bị một người bạn thua đá gà chế giễu, Buendya nổi nóng giết chết anh ta, rồi phá đai trinh tiết của vợ Cuộc hôn nhân của họ không còn được thanh thản, từ đây càng thêm lo lắng Họ rủ rê nhiều cặp trai gái khác bỏ làng ra đi, tìm đến một nơi xa xôi hẻo lánh, lập ra làng Macondo Họ chấp nhận tự lưu đày ở cái làng cô đơn tách rời quê hương suốt một trăm năm Nơi đây, những con trai,con gái cháu trai, gái lần lượt ra đời với nỗi cô đơn, thấp thỏm phạm tội loạn luân.

Bà cụ tổ Ucsula càng già càng cố sống lâu để nhắc nhở, canh chừng, ngăn cản lũ con cháu tránh chung đụng xác thịt, tỉnh táo nhận rõ họ hàng dòng họ, tránh loạn luân để khỏi rơi vào thảm hoạ sinh con có đuôi lợn (Một gã đàn ông người làng quê cũ khi bị bà Ucsula từ chối tình yêu đã nguyền rủa độc địa rằng: nếu chúng mày loạn luân thì rồi sẽ lại đẻ đứa con có đuôi lợn

và lúc ấy cả dòng họ mày sẽ tuyệt diệt Từ đó bà lo sợ suốt đời) Nhưng bà không thể sống mãi

để ngăn cản cô cháu gái đời thứ 5 là Amaranta kết hôn với đứa cháu trai đời thứ 6 Đôi trai gái này là hai dì cháu nhưng họ không được người lớn cho biết (vì người lớn ngoại tình sinh ra họ nên cố tình giấu giếm) Cụ bà chỉ ra sức ngăn cản nhưng không dám nói sự thật Hai người yêu nhau mãnh liệt Khi chàng tìm ra gốc gác của mình thì đã trễ: nàng sinh đứa con trai có đuôi lợn Con vật huyền thoại này đã kết liễu dòng họ Buendya – Ucsula cùng với cả làng Macondo

bị một cơn bão lốc khủng khiếp cuốn đi Thế là cuộc chạy trốn tội loạn luân của họ đã không thoát khỏi sự trừng phạt.

Sự loạn luân của hai người, kéo theo lũ con cháu cũng bị loạn luân đã mở đầu và kết thúc thiên truyện làm nên cốt lõi của câu chuyện dài trăm năm Tuy vậy thiên truyện còn miêu tả số phận của cái làng Macondo nữa

Lúc đầu Macondo là một làng quê hiền hoà toàn những người trẻ tuổi Làng chưa có người già chưa có trẻ con, không có nghĩa địa Trình độ văn hoá của dân làng còn rất thấp, cuộc sống theo kiểu bộ lạc Đứng đầu làng là chàng trai Hose Accadio Buendya được coi là tộc trưởng Anh đã lãnh đạo dân làng theo kiểu công xã nông thôn Dân chúng sinh sôi nảy nở, sống hiền lành, không phạm tội Họ không cần quan cai trị hành chính và cũng không cần linh mục để săn sóc phần hồn Mặc dù sống biệt lập với thế giới bên ngoài, dân chúng Macondo cũng biết xây dựng làng thành một miền quê trù phú và yên vui

Ngày đăng: 22/05/2018, 08:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w