Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, ngân hàng nhà nước đã thực hiện việc kiểm soát, điều tiết thị trường tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp như: hạn mức tín dụng, lãi suất
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện theo xu hướng năng động, tích cực, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế Mặc dù đến nay quy mô của thị trường này còn rất khiêm tốn nhưng nó đã đóng vai trò nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân hàng, các doanh nghiệp… Đặc biệt, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong việc đảm bảo khả năng thanh toán, an toàn hệ thống, cũng như mở rộng nguồn vốn cho vay Trong những kết quả đó, không thể không kể đến vai trò của ngân hàng nhà nước Việt Nam
Để kiểm soát và điều tiết thị trường tiền tệ, ngân hàng trung ương các nước thường sử dụng hệ thống các công cụ như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở Đối với Việt Nam, hệ thống các công cụ kiểm soát và điều tiết thị trường tiền tệ đã được hình thành và phát triển cùng với quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, ngân hàng nhà nước đã thực hiện việc kiểm soát, điều tiết thị trường tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp như: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá, đồng thời thiết lập và bước đầu sử dụng các công cụ gián tiếp như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, ngiệp vụ thị trường mở
Dựa vào thực tế có thể thấy rằng hoạt động ngân hàng và chính sách tiền tệ nước ta chưa đạt được độ hoàn thiện và tương xứng với những yêu cầu mà nền kinh tế đặt ra, thị trường tiền tệ nước ta vẫn phát triển ở mức độ thấp Các thành viên tham gia thị trường tiền tệ còn có nhiều hạn chế, bản thân một số tổ chức chưa quản lý vốn một cách linh hoạt và hiệu quả, chưa chủ động tham gia thị trường tiền tệ để sinh lời nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình Ngân hàng chưa phát huy tốt vai trò hướng dẫn thị trường,
khuyến khích các thành viên tham gia các giao dịch ngân hàng và sử dụng nguồn vốn Chế độ lãi suất chưa hoàn toàn linh hoạt nhằm thu hút lượng vốn nhàn rỗi trong dân cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài Từ những vấn đề trên, nhóm 3 xin chọn đề tài: “Phân tích các công cụ mà ngân hàng nhà nước Việt Nam đã sử dụng để điều tiết thị trường tiền tệ” Việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp cận và vận dụng hệ thống các công cụ thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường chính sách tiền tệ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong việc điều tiết nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu ổn định hệ thống tiền tệ kiềm chế lạm phát, tạo môi trường kinh tế ổn định và phát triển bền vững, lành mạnh
Kết cấu bài thảo luận gồm 3 chương:
Chương 1: Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Do hiểu biết của nhóm 3 về thực tế thị trường tiền tệ Việt Nam còn hạn hẹp, khả năng đánh giá chưa sâu sắc, với kiến thức được trang bị và sự giúp đỡ của thầy nhóm 3 đã hoàn thành đề tài thảo luận Tuy nhiện, không thể tránh khỏi những yếu kém và sai sót nên nhóm 3 rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý của thầy và các bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn
Nhóm 3 xin chân thành cảm ơn !
CHƯƠNG I:
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình để đạt được các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế… (Theo Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Trang 2Nam quy định ngày 12/12/1997)
1.1.2 Vị trí của chính sách tiền tệ
Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác: chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại Đối với NHTW, việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách kinh tế vĩ mô là một tổng hòa của các phương thức mà NHTW thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của một đất nước trong một thời kỳ nhất định 1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất trong các mục tiêu của chính sách tiền tệ Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh
tế phải được hiểu cả về khối lượng và chất lượng Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế, tức là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tăng lên
Muốn tăng trưởng kinh tế thì phải gia tăng đầu tư thực hiện tái sản xuất mở rộng Để gia tăng đầu tư, bên cạnh việc sử dụng công cụ tài trợ của ngân sách Nhà nước, người ta phải chủ yếu trông vào sự gia tăng đầu tư tín dụng của hệ thống ngân hàng dưới tác động của NHTW Như vậy với tư cách là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này
1.2.2 Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát
Kiểm soát lạm là một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại thường xuyên xảy ra lạm phát Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán
những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả
1.2.3 Tạo việc làm, giảm thất nghiệp
Tạo công ăn việc làm là mục tiêu của tất cả các chính sách vĩ mô Tạo việc làm luôn là một đòi hỏi bức xúc và thường trực của xã hội Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm chủ yếu tùy thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế Khi đầu tư tăng và các hoạt động kinh tế được mở rông thì người lao động càng có them cơ hội tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả cải tiến kỹ thuật thì việc làm có thể không tăng
mà có thể giảm, dẫn đến thất nghiệp tăng
Sự phối hợp giữa 3 mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là rất quan trọng Bởi vì, không phải cùng một lúc cả 3 mục tiêu đều có thể thực hiện được mà không có sự mâu thuẫn Do vậy, khi xác định các mục tiêu này, phải tùy thời điểm mà sắp xếp thứ tự ưu tiên Điều quan trọng là phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến của quá trình thực hiện các mục tiêu để kịp thời điều chỉnh chúng khi cần thiết với những giải pháp thích hợp Để đạt được các mục tiêu đề ra thì NHTW được coi là có nhiều khả năng thực hiện việc này
vì NHTW nắm trong tay các công cụ điều chỉnh tiền cung ứng Như vậy, mục tiêu và
nhiệm vụ của chính sách tiền tệ chính là xuất phát điểm để đưa ra các công cụ điều hành 1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Để thực thi chính sách tiền tệ thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTW đã sử dụng hàng loạt các công cụ như: dự trữ bắt buộc, chính sách tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá hối đoái…Mỗi loại công cụ có chơ chế vận hành riêng và ưu điểm, nhược điểm khác nhau Do đó tùy thuộc vào tình hình nền kinh tế
để sử dụng các công cụ một cách linh hoạt, hiệu quả
Trang 31.3.1 Dự trữ bắt buộc
a, Khái niệm: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng phương tiện thanh toán bị vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, tức là NHTM phải gửi tại NHTW một phần của tổng số tiền gửi mà NHTW nhận được từ dân cư và các thành phần khác trong nền kinh tế theo một tỷ lệ nhất định
b, Cơ chế tác động
NHTW sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nhằm tăng, giảm quy mô tín dụng của các
NHTM bằng cách làm giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ trong cơ chế tạo tiền của các NHTM
Nếu tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ làm khả năng cho vay của các NHTM giảm, từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm Và ngược lại, nếu giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm khả năng cho vay của các NHTM tăng, từ đó làm cho lượng cung ứng tiền tăng
c, Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tác động như nhau và tác động một cách đầy quyền lực đến các ngân hàng
- Giúp NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng
* Nhược điểm:
- Rất khó khăn để thực hiện những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ
- Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng tới khả năng thu doanh lợi của các NHTM Hơn nữa, nếu thường xuyên thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ gây ra tình trạng không ổn định cho các NHTM và làm cho việc quản lý khả năng thanh toán của các ngân hàng này khó khăn hơn Do đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cần được nghiên cứu kỹ lưỡng
để đưa ra các mức phù hợp
- Tính linh hoạt không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó
có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM
1.3.2 Chính sách tái chiết khấu
a, Khái niệm
Chính sách tái chiết khấu là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay chiết khấu (cửa sổ chiết khấu)
b, Cơ chế tác động
Khi NHTW tăng (giảm) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng) Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửu sổ chiết khấu lại
c, Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán, và có thể kiểm soát được hoạt động tín dụng của các NHTM
- Đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông qua ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể
* Nhược điểm:
- Hiệu quả của công cụ này còn phụ thộc vào hoạt động cho vay của các NHTM
- Mặt khác, lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường
- Là công cụ thụ động của NHTW vì yếu tố chủ động vay và không vay nằm ở NHTM tức là NHTW phải chờ NHTM đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu đến để xin tái cấp vốn
- Nếu NHTW tăng lãi suất chiết khấu quá cao thì các NHTM có thể tìm đến các nguồn vay khác với lãi suất thấp hơn như tại các ngân hàng khác của nước ngoài
Trang 41.3.3 Nghiệp vụ thị trường mở
a, Khái niệm
Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng
Là công cụ linh hoạt nhất, quan trọng nhất
b, Chủ thể tham gia
Chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở rất đa dạng và phong phú Tuy vậy, cũng tùy thuộc vào quy định riêng của mỗi quốc gia mà các thành viên tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở là khác nhau Thông thường chủ thể tham gia bao gồm NHTW, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi tín dụng, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân… nhưng không phải tất cả các chủ thể đều có thể tham gia mà phải có những điều kiện cần thiết Có 3 điều kiện để xem xét phạm vi thành viên, đó là:
- Thứ nhất: NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lượng tiền cung ứng bao gồm cả tiền mặt và tiền gửi, về mặt lý thuyết thành viên tham gia mua bán trong trường hợp này được
mở rộng không chỉ gồm các tổ chức tín dụng mà còn gồm các tổ chức khác, thậm chí có thể cả các cá nhân nếu họ có tiền mặt và tiền gửi
- Thứ hai: Nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động theo hướng đa năng như hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì phạm vi thành vieentham gia mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ
- Thứ ba: Khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán Nếu cá nhân không có sec hoặc tiền trên tài khoản gửi tại NHTW thì không thể tham gia mua bán được trên thị trường
mở, nếu tổ chức tín dụng không có mạng kết nối với NHTW trong điều kiện giao dịch trên mạng thì cũng không thể trở thành thành viên
c, Cơ chế hoạt động
- Việc mua bán chứng khoán của NHTW ảnh hưởng tới dự trữ của NHTM thông qua tác động đến tiền gửi của NHTM tại NHTW và tiền gửi của khách hàng tại NHTM
- Việc mua bán chứng khoán của NHTW còn tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường
Ví dụ:
+ Khi NHTW thay mặt chính phủ đưa chứng khoán ra thị trường sơ cấp để phát hành, nhân dân và các tổ chức đem tiền mặt đến mua chứng khoán Đó là nghiệp vụ bán trên thị trường mở của NHTW Như vậy với nghiệp vụ này NHTW đã hút bớt một lượng tiền ra khỏi lưu thông hoặc làm cho dự trữ của các TCTD giảm làm giảm khối lượng cho vay tín dụng của các TCTD; qua đó ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ, số nhân tiền tệ làm lượng tiền cung ứng MS giảm và lãi suất trên thị trường tăng
+ Ngược lại với nghiệp vụ bán là nghiệp vụ mua, nếu NHTW muốn phát hành tiền vào lưu thông qua thị trường mở, nó đơn giản dùng tiền mặt mua chứng khoán trên thị trường thứ cấp hoặc của các tổ chức tín dụng Khi cá nhân hay tổ chức bán chứng khoán cho NHTW, chứng khoán về tay NHTW ngược lại tiền mặt trong nền kinh tế tăng Như vậy khi mua chứng khoán trên thị trường mở, NHTW đã thêm một lượng tiền vào lưu thông làm tăng lượng tiền cung ứng và làm lãi suất thị trường giảm
d) Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Nghiệp vụ thị trường mở phát sinh theo ý tưởng chủ đạo của NHTW, trong đó NHTW hoàn toàn kiểm soát được khối lượng giao dịch Tuy nhiên việc kiểm soát này là gián tiếp không nhận thấy được Ví dụ trong nghiệp vụ chiết khấu NHTW có thể khuyến khích hoặc không khuyến khích các NHTM, chỉ thông báo lãi suất chiết khấu , mà không kiểm soát trực tiếp khối lượng cho vay chiết khâú
- Nghiệp vụ thị trường mở tương đối linh hoạt và chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ mức
độ nào Khi muốn thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ của các ngân hàng trung gian ở biên độ nhỏ, NVTTM có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứng khoán Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung gian ở biên độ nhỏ, NHTW cũng có đủ khả năng thực hiện thông qua việc mua hoặc bán một khối lượng lớn tương ứng các chứng khoán
Trang 5- Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều: nếu NHTW có mắc sai sót nào trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa sai sót đó bằng các nghiệp vụ bán (nếu như trước đó mua vào quá nhiều) hay mua (nếu như lúc đó bán ra quá nhiều )
- Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao: giao dịch trên thị trường mở hầu như không gặp rủi ro, xét trên cả góc độ của NHTW hay NHTM; vì cơ sở bảo đảm cho các giao dịch trên thị trường mở đều là những giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao, không rủi ro tài chính
- Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng không vấp phải sự chậm trễ của các thủ tục hành chính: khi NHTW muốn thay đổi lượng tiền cung ứng thì chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán và sau đó việc mua bán sẽ được thực hiện ngay
* Nhược điểm:
- Các NHTW không nhất thiết phải tăng hoặc giảm lượng cung ứng tín dụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm đi do các tác động của nghiệp vụ thị trường mở Vì có một
số yếu tố ngăn cản các NHTM sử dụng tối đa dự trữ thừa cho việc MR tín dụng : nhu cầu trả nợ NHTM, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng
- Khi lãi suất tiền tệ giảm, không nhất thiết khối lượng tín dụng tăng lên tương ứng Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức RR
- Vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường
- Để sử dụng công cụ này có hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, vốn
1.3.4 Hạn mức tín dụng
a) Khái niệm
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
b) Chủ thể tham gia
Áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm Thường khi cho vay loại này ngân hàng yêu cầu đảm bảo tín dụng
c) Cơ chế tác động
Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nên kinh tế có quan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM
d) Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, lãi vay trả cho ngân hàng thấp
- Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ khác kém hiệu quả Đặc biệt có tác dụng nhất thời cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ
lệ làm pháp quá cao của nền kinh tế
* Nhược điểm:
Ngân hàng dễ bị ứ đọng vốn kinh doanh, thu nhập từ lãi cho vay thấp Làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW
1.3.5 Lãi suất
a) Khái niệm:
- Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất sẽ kéo theo sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khối lượng tín dụng trong nền kinh tế Do đó, lãi suất là một trong các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ
- Là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn
Theo luật Ngân hàng nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho đồng Việt Nam do ngân
Trang 6hàng nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh b) Cơ chế tác động:
- Việc điều chỉnh lãi suất tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo
c) Ưu điểm, nhược điểm
* Ưu điểm: Giúp NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ
* Nhược điểm: Dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là giá cả của vốn, do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế Mặt khác, việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình
1.3.6 Tỷ giá hối đoái
Là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối
Tỷ giá hối đoái là công cụ là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước
Chính sách tỷ giá hối đoái tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu
tư, dự trữ của đất nước
Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015
2.1 Thực trạng sử dụng các công cụ CSTT ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Bước sang năm 2011, kinh tế toàn cầu bắt đầu le lói phục hồi nhưng còn nhiều khó
khăn, tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước Trong 6 tháng đầu năm, lạm phát tăng 13,29% so với đầu năm và tăng 20% so cùng kỳ năm trước, gây khó khăn cho
nỗ lực kiềm chế lạm phát dưới 15% theo mục tiêu đề ra, thị trường bất động sản và
chứng khoán sụt giảm mạnh
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng để kiểm soát lạm phát và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống, thực hiện mạnh mẽ các biện pháp điều hành nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20% và điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sản xuất, giảm tỉ trọng
dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất xuống 22% đến 30/6/2011 và xuống 16% đến
31/12/2011
Nhờ đó, đến cuối năm 2011, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng lần lượt tăng
khoảng 10% và 12%, các mức lãi suất trên thị trường đã được điều chỉnh phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và chỉ đạo của Chính phủ Việc tăng cường thanh tra, giám sát
và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động đã tạo điều kiện cho việc giảm dần mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong những tháng cuối năm
Trong đó, lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu giảm 0,5-1%/năm và dao động ở mức 14,5-17%/năm, thậm chí chỉ còn 13,5%/năm
Tình hình kinh tế những tháng cuối năm đã có dấu hiệu cải thiện, GDP năm 2011 tăng 5,89%, lạm phát so cùng kỳ năm trước bắt đầu có dấu hiệu chững lại và giảm dần từ mức 22% trong tháng 10/2011 xuống 20% trong tháng 11 và 18,13% trong tháng 12
Để định hướng thị trường, ngay từ đầu năm 2012, NHNN đã đưa ra mục tiêu giảm lãi suất huy động xuống còn 9-10%/năm vào cuối năm 2012, đồng thời đưa ra lộ trình giảm trung bình mỗi quý 1%/năm Từ tháng 5/2012, NHNN đã qui định trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công
Trang 7nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên được điều chỉnh giảm từ mức 15%/năm xuống 12%/năm, phù hợp với xu hướng giảm của trần lãi suất tiền gửi VND
Đến cuối năm 2012, lãi suất huy động VND giảm mạnh từ 3-6%/năm, lãi suất cho vay giảm từ 5- 9%/năm so với cuối năm 2011 và trở về mức lãi suất của năm 2007 Lãi suất cho vay ưu tiên giảm về mức 12%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác và cho vay tiêu dùng ở mức 12-15%/năm, riêng lãi suất cho vay đối với các khách hàng tốt chỉ còn 9-11%/năm Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng lần lượt khoảng 20% và 9%, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp (6,8%), góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Trên cơ sở kết quả điều hành chính sách tiền tệ đã đạt được, và các mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đề ra trong năm 2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, chủ động điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và kiểm soát tiền tệ
Đến cuối tháng 8/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 9,16% so với cuối năm 2012, phù hợp với định hướng tăng 14-16% trong năm 2013, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được đảm bảo Các mức lãi suất chủ chốt được điều hành theo hướng giảm dần, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế Mặt bằng lãi suất VND trong 8 tháng đầu năm đã giảm khoảng 2- 5%/năm so với đầu năm, trong đó lãi suất huy động giảm 2-3%/năm, lãi suất cho vay giảm 3- 5%/năm và đã trở về mức lãi suất của thời kỳ 2005-2006, các TCTD cũng chủ động giảm lãi suất đối với những khoản cho vay còn tồn đọng
Đến nay, trần lãi suất huy động đã giảm về mức 7%/năm và chỉ áp dụng đối với kỳ hạn dưới 6 tháng, trần lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên là 9%/năm, tỉ trọng những khoản cho vay có lãi suất đến 13%/năm chiếm khoảng 74,97%
Sau nhiều tháng tăng chậm, tín dụng bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc, nhu cầu của doanh nghiệp về vốn cho sản xuất kinh doanh đã tăng mạnh do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa đã cải thiện mạnh Tính đến cuối tháng 8/2013, tín dụng cho nền kinh tế đã tăng 6,45% so với đầu năm, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% trong năm 2013 đang trở thành hiện thực
Đến cuối tháng 6/2014, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán khoảng 11,4%, giảm so với mức khoảng 12,4% vào cuối năm 2012-2013 Tỷ giá và thị trường ngoại tệ và tỷ giá về cơ bản ổn định nhờ các giải pháp điều hành nhất quán, kết hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá, lãi suất và các công cụ chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và công tác truyền thông Sau điều chỉnh tỷ giá của NHNN, tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đã dần ổn định trên mặt bằng giá mới nhưng mặt bằng này vẫn thấp hơn so với mức trần quy định, thanh khoản thị trường vẫn được duy trì như trong những tháng đầu năm Nhờ tỷ giá ổn định, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ để nâng
dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức kỷ lục, khoảng 35 tỷ USD Tín dụng tăng 3,52% so với cuối năm 2013, trong đó có sự đóng góp từ việc tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao (tín dụng ngoại tệ tăng 12,03%, tín dụng bằng VND tăng 2,17%)
Lãi suất của các khoản vay cũ tiếp tục được các tổ chức tín dụng giảm mạnh Đến tháng 12/2014, dư nợ cho vay có lãi suất trên 15% chiếm 3,9% tổng dư nợ cho vay, giảm so với tỷ trọng 6,3% cuối năm 2013, dư nợ có lãi suất trên 13%/năm chiếm 11,7% tổng dư
nợ cho vay, giảm so với tỷ trọng 19,72% cuối năm 2013
Năm 2014 lạm phát giảm so với năm 2013 và là mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ Tốc độ tăng giá tiêu dùng (tính theo năm) đã trượt về ngưỡng 2%, tính đến cuối năm
2014 CPI tăng khoảng 1,84%
Năm 2015, tính đến ngày 21/12/2015, tổng phương tiện thanh toán tăng 13,55% so với cuối năm trước, phù hợp với kinh tế vĩ mô, tiền tệ và các giải pháp điều hành của NHNN Mặt bằng lãi suất giảm nhưng huy động vốn vẫn tăng (đến ngày 21/12/2015, huy động
Trang 8vốn tăng 13,59% so với cuối năm trước) tạo điều kiện cho các TCTD cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế Mặt bằng lãi suất cho vay giảm khoảng 0,3-0,5%/năm so với cuối năm trước (lãi suất ngắn hạn giảm khoảng 0,3%/năm, lãi suất trung và dài hạn giảm khoảng 0,3-0,5%/năm), đưa mặt bằng lãi suất giảm khoảng 50% so với thời điểm cuối năm 2011; Lãi suất huy động giảm khoảng 0,2-0,5%/năm và hiện ở mức tương đối thấp nhưng lòng tin vào đồng Việt Nam tiếp tục được củng cố Tỷ giá và thị trường ngoại tệ tiếp tục được giữ ổn định, niềm tin vào đồng tiền Việt Nam được củng cố, tình trạng đôla hoá trong nền kinh tế tiếp tục giảm, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Tín dụng tăng 17,17% so với đầu năm, cao hơn mức tăng của cùng kỳ các năm 2011-2014; với diễn biến này, ước cả năm tín dụng có thể đạt khoảng 18%
Kết quả tích cực của thị trường ngoại hối trong năm qua phản ánh sự điều hành chủ động các giải pháp điều hành CSTT, linh hoạt điều chỉnh tăng 3% tỷ giá bình quân liên ngân hàng và nới biên độ tỷ giá từ +1% lên + 3% nhằm ứng phó kịp thời với các tác động bất lợi từ thị trường tài chính quốc tế; kết hợp với điều chỉnh lãi suất tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng hợp lý, mua bán ngoại tệ can thiệp thị trường, ban hành các quy định nhằm ngăn chặn tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ Các động thái điều hành của NHNN được Chính phủ và các tổ chức quốc tế ủng hộ và đánh giá cao
2.2 Thành tựu điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Điều hành lãi suất linh hoạt, bám sát mục tiêu bao trùm của CSTT, đảm bảo là công cụ
để kỳ vọng lạm phát, ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Một số thay đổi trong điều hành lãi suất những năm qua luôn tuân thủ nguyên tắc không gây ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế NHNN đã có những đánh giá, nhận diện khá chính xác tình hình để có được hướng điều hành hợp lý nhất Khi mặt bằng lãi suất cho vay ở mức rất cao, có thời điểm đã vượt 20%/năm, NHNN đã quyết định phải ổn định lại mặt bằng lãi suất thông qua áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp (quy định trần lãi suất huy động
và trần lãi suất cho vay) Việc áp dụng trần lãi suất huy động đã giúp giảm động cơ cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng, hỗ trợ siết chặt kỷ luật thị trường Trong khi đó, việc quy định trần lãi suất cho vay, đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên, góp phần gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp
Bên cạnh những ứng biến linh hoạt trong việc sử dụng công cụ trần lãi suất, các mức lãi suất chính sách cũng có những bước chuyển biến căn bản theo hướng chủ động, dẫn dắt thị trường và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền
tệ trong từng thời kỳ Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ
Điều hành tỷ giá ổn định, hỗ trợ tích cực cho công tác kiểm soát, kiềm chế lạm phát Hàng năm, NHNN đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá giao động trong khoảng 1%-3% mỗi năm (mức điều chỉnh không quá 1% trong các tháng cuối năm 2011, không quá 2%-3% trong năm 2012 và 2013; không quá 1%-2% trong năm 2014, không quá 2% trong năm 2015) nhằm tăng cường tính minh bạch, định hướng thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh Tần suất điều chỉnh tỷ giá cũng giảm dần so với giai đoạn trước chỉnh quân liên ngân hàng 9,3%/năm vào giữa tháng 2/2011 (trong bối cảnh thị trường ngoại tệ căng thẳng kéo dài do tác động của giá vàng thế giới và lạm phát tăng cao), mỗi năm tiếp theo
tỷ giá được điều chỉnh tăng nhẹ qua các năm (1%-2%/năm), ngoại trừ năm 2015 sau sự kiện phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và kỳ vọng điều chỉnh tăng lãi suất điều hành của Fed
Trong quá trình điều hành, bên cạnh các biện pháp trực tiếp như công bố tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng, các kỹ thuật can thiệp thị trường, NHNN đã chủ động phối hợp
Trang 9đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ để hạn chế tối đa các áp lực tác động đến ổn định của tỷ giá Theo đó, NHNN đã chú trọng điều hành công cụ lãi suất, gồm cả lãi suất nội tệ
và lãi suất ngoại tệ phù hợp với diễn biến của kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích nắm giữ
đồng nội tệ, khuyến khích công chúng chuyển từ nắm giữ USD sang VND
Ngoài ra, NHNN cũng tích cực sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) trong
việc điều tiết mức cung tiền một cách nhịp nhàng để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoản hợp
lý, nhằm hạn chế sự dịch chuyển của dòng tiền, đặc biệt vào thời điểm tỷ giá có biến
động và thanh khoản hệ thống dư thừa
Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh và đầu tư vàng, tạo
điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt
NHNN đã nỗ lực trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh
và đầu tư vàng, trong đó ghi dấu ấn quan trọng nhất là việc tham mưu cho Chính phủ ban
hành khuôn khổ pháp lý mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định
24/2012/NĐ-CP, ngày 03/04/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng)
Nghị định 24 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới nhằm tổ chức, sắp xếp lại thị trường
vàng, giao cho NHNN cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ
chức sản xuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên
liệu để sản xuất vàng miếng và tổ chức huy động và mua, bán vàng miếng
Những thay đổi về mặt pháp lý như trên đã đáp ứng sự thay đổi của thực tiễn, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tác động bất lợi của hoạt động kinh doanh vàng đến
CSTT, tỷ giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và đó cũng chính là bước
tiến quan trọng trong lộ trình chống vàng hóa trong nền kinh tế
Trên cơ sở pháp lý mới ban hành, NHNN cũng đẩy nhanh việc chuyển quan hệ huy độngcho vay vàng sang quan hệ mua, bán vàng trên thị trường, đấu thầu vàng thông qua việc
chỉ đạo đẩy nhanh việc tất toán số dư huy động vàng và giảm số dư cho vay vốn bằng
vàng; giám sát chặt chẽ việc tổ chức tín dụng thực hiện lộ trình tất toán số dư cho vay
vốn bằng vàng Nhờ vậy, thị trường vàng ngày càng đi vào ổn định, tự điều tiết theo quy
luật cung cầu; không còn các “cơn sốt” vàng gây bất ổn kinh tế ngay cả khi giá vàng thế
giới có biến động, tình trạng “vàng hóa” từng bước được ngăn chặn, qua đó góp phần ổn
định thị trường ngoại hối và kinh tế vĩ mô
Đến tháng 4/2015, các tổ chức tín dụng đã giảm dần số dư cho vay bằng vàng, dư nợ cho vay vàng của toàn hệ thống (giảm 90% so với ngày 30/4/2012) Điều đó đã loại bỏ toàn
bộ rủi ro liên quan đến sự biến động giá vàng và chấm dứt tình trạng vàng hóa trong hệ
thống tổ chức tín dụng
Chính sách tín dụng theo hướng tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất, kinh doanh, hỗ
trợ đắc lực chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trong vòng 2 năm 2010, 2011, trước hai thách thức lớn của nền kinh tế là lạm phát cao
và khu vực sản xuất gặp nhiều khó khăn, NHNN đã mạnh dạn áp dụng cơ chế điều hành
mới là xây dựng và công bố chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm thay cho việc các tổ
chức tín dụng sẽ tự quyết trong giai đoạn trước Cơ chế quản lý này đã góp phần kiểm
soát mức tăng trưởng tín dụng phù hợp với quản lý kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho mục
tiêu kiềm chế và kiểm soát lạm phát Đồng thời, chính sách này cũng phù hợp với năng
lực của từng tổ chức tín dụng để vừa có thể đảm bảo an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, vừa từng bước tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Để có thể tập trung vốn cho những khu vực quan trọng, hạn chế vốn chảy vào các khu
vực “bong bóng”, NHNN đã thay đổi và có cách tiếp cận mới đối với thị trường tín dụng
Cụ thể, NHNN đã quy định rõ những lĩnh vực không khuyến khích và các lĩnh vực ưu
tiên để các tổ chức tín dụng chủ động kế hoạch cung ứng vốn cho phù hợp Đó là việc
đưa lĩnh vực bất động sản và cho vay tiêu dùng ra khỏi danh mục của nhóm lĩnh vực
không khuyến khích Điều này tạo cơ sở quan trọng để phục hồi thị trường bất động sản,
là “phao cứu trợ” cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất liên quan
đến bất động sản và làm hồi sinh trở lại dòng vốn của ngân hàng vào khu vực này
Ngoài ra, NHNN cũng định hướng các tổ chức tín dụng xây dựng chính sách phải hướng
Trang 10tới khách hàng của mình nhiều hơn, phải có các chính sách tín dụng mang tính tổng thể, phù hợp với từng lĩnh vực ngành nghề sản xuất Chính vì thế, giai đoạn vừa qua đã chứng kiến sự ra đời của nhiều chính sách tín dụng mang tính đặc thù, như “gói” tín dụng cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ; chính sách tín dụng đặc thù đối với các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ lực của nền kinh tế hoặc có liên quan đến đời sống của người dân (chương trình cho vay tạm trữ lúa gạo, chương trình cho vay theo vụ mùa, chương trình tín dụng dành cho cá tra, tôm, cho vay tái canh cây cà phê giai đoạn 2014–2020; cho vay đóng mới và nâng cấp tàu khai thác hải sản xa bờ,…); triển khai chương trình thí điểm cho vay đối với mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp
Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất kinh doanh, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng xem xét cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất cho khách hàng, tiếp tục cho vay mới để có vốn tiếp tục sản xuất, vượt qua khó khăn Đây là những hỗ trợ hết sức cần thiết
và kịp thời để giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ và có nguồn lực tài chính cho chu kỳ sản xuất mới
Và những tác động đến nền kinh tế
Với các giải pháp điều hành tiền tệ thận trọng, linh hoạt và có nhiều đổi mới sáng tạo, chính sách của NHNN đã truyền dẫn hiệu quả đến nền kinh tế Kết quả đó được thể hiện
rõ nét qua từng năm với những dấu ấn đáng ghi nhận, cụ thể:
Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế, giảm đều và hiện đang ở mức thấp
Tỷ lệ lạm phát sau khi tăng cao trong nửa đầu năm 2011 đã giảm xuống và diễn biến ổn định cho tới nay Cụ thể, từ mức đỉnh 18,13% năm 2011 xuống còn 6,81% năm 2012, 6,04% năm 2013 và dưới 2% giai đoạn 2014-2015 Ngoài ra, tăng trưởng cung tiền và tín dụng kể từ năm 2012 đến nay không tạo áp lực tăng lạm phát như những thời kỳ trước đó
do đã được tập trung hướng vào các lĩnh vực sản xuất trọng tâm của nền kinh tế
Lãi suất nhanh chóng hạ nhiệt, hỗ trợ hợp lý cho khu vực sản xuất
Tính cho đến thời điểm hiện tại, mặt bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng khoảng 47% so với cuối năm 2011 và tương đương mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 (giai đoạn kinh tế phát triển ổn định), góp phần hỗ trợ giảm chi phí vốn vay của doanh nghiệp
và hộ dân Với những nỗ lực trong công tác điều hành lãi suất, chỉ trong thời gian ngắn, lãi suất cho vay đã giảm hơn một nửa, từ 20%/năm (thậm chí 24%/năm) xuống chỉ còn 9%-11% và còn khoảng 6,5%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên
Bên cạnh các khoản vay mới với lãi suất thấp, NHNN cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng đưa lãi suất của các khoản vay cũ về mức 15%/năm và sau đó là 13%/năm, góp phần tháo
gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo điều kiện giải phóng kênh tín dụng
Bên cạnh đó, lãi suất cho vay USD cũng được điều hành giảm ổn định theo hướng không
để tồn tại khoảng cách chênh lệch đáng kể với lãi suất cho vay VND, hiện lãi suất cho vay USD ngắn hạn ở mức 3%-5,5% và dài hạn từ 5,5%-6,7%
Có thể nói, với mặt bằng lãi suất hiện nay đã góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, tăng thêm khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường và bước đầu đã tháo gỡ hàng tồn kho để chuẩn bị chu kỳ sản xuất mới
Tăng trưởng tín dụng hợp lý, đạt được mục tiêu điều hành, phù hợp với tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm
Nếu như trong năm 2011, NHNN phải nhanh chóng áp dụng các chính sách chặt chẽ để kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao trên 30% xuống còn trên 14% để hỗ trợ công tác kiểm soát lạm phát, thì ngay trong năm 2012 khi tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu "ngưng trệ" ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, NHNN đã nhanh chóng thay đổi mục tiêu điều hành theo hướng tăng trưởng tín dụng nhưng thận trọng Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, song phải theo nguyên tắc đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế phân bổ vốn vào khu vực không khuyến khích có nguy cơ gây ra lạm phát cao và tăng trưởng thiếu bền vững trong tương lai Nhờ đó, tăng trưởng tín dụng đã có sự phục hồi qua các năm, cụ thể: năm 2012 là 8,85%; năm 2013 là 12,51%; năm 2014 là 14,16%;
6 tháng đầu năm 2015 tăng 7,83% Trong giai đoạn này, tín dụng tăng bình quân khoảng