Lý thuyết lợi thế so sánh: Xác định rằng xuất khẩu những mặt hàng lợi thế của mình và những mặt hàng việt nam ít bấtlợi nhất theo quan điểm của lợi thế so sánh, tham gia thương mại quố
Trang 11 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
2 Lý thuyết lợi thế tương đối của Ricacdo ( 1772 – 1823)
-Lợi thế so sánh của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
-Một số giải pháp để tận dụng hiệu quả lợi thế so sánh
3 Lý thuyết H-O.
Sự khác biệt giữa lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết Heckscher – Ohlin
4.Đánh giá chung về các lý thuyết:
5.Vận dụng lý thuyết này để giải thích cho TMQT ở Việt Nam.
CHƯƠNG 4-Câu 3: Hai xu hướng cơ bản trong chính sách TMQT : tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại Liên
hệ CS TMQT Việt Nam.
Câu4: Các công cụ của Chính sách thương mại quốc tế và tác động của chúng: thuế quan, hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, trợ cấp xuất khẩu và các công cụ khác Liên hệ Việt Nam.
Câu 5: Cơ hội và thách thức của Việt Nam đối với các công cụ phi thuế quan
Câu 6: Phân biệt thuế quan nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu, Liên hệ thực tế việc áp dụng tại VN
Câu7: Mức độ bảo hộ thực tế:
CHƯƠNG 2-Câu 8: Liên kết kinh tế quốc tế (LKKTQT): khái niệm, đặc trưng, vai trò và tác động.
Câu 9: Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Câu 10: Tính tất yếu của Việt Nam tham gia vào các liên kết và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (chủ yếu là ASEAN, APEC, WB, IMF và WTO).
Câu 11: Những cơ hội và thách thức đối với VN khi tham gia vào WTO Cho ví dụ minh họa.
Câu 12: Đặc điểm của các liên kết và tổ chức mà Việt Nam đã là thành viên: ASEAN, APEC, WB, IMF, WTO
Câu 13 Đánh giá ưu nhược điểm của thương mại quốc tế Việt Nam thời gian qua Các biện pháp để nhập khẩu có hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh cuả hàng hoá Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
CHƯƠNG 1: Câu 1: Khái niệm và những xu hướng vận động chủ yếu của nền KTTG Tác động của những xu hướng này đến việc hoạch đinh CS KTĐN của VN
+ Tác động của xu hướng này
- Cơ cấu ngành kinh tế sẽ thay đổi, cụ thể là công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với nông nghiệp
- Có sự thay đổi căn bản trong quan niệm về nguồn lực phát triển trong đó yếu tố con người ở vị trí trung tâm và cũng
là yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của một quốc gia cũng như toàn thế giới
- Đột biến trong tăng trưởng kinh tế từ những năm 70 trở lại đây đặc biệt đối với các nước Nic và Trung Quốc
- Xã hội loài người bứơc sang một nền văn minh mới là văn minh trí tuệ, điều này khẳng định vai trò chất xám của conngười
Từ những tác động trên đây của xu hướng này, việc hoạch định chính sách của một quốc gia nói chung và Việt Nam nóiriêng phải có sự thay đổi thích hợp và kịp thời Chính sách phát triển của VN phải đặt phát triển con người lên hàng đầu đồngthời việc thu hút đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ phải đựoc chú ý …
b Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới
+ Biều hiện
Trang 2Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các khối liên kết, các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu như WTO, ASEAN, EU,
+ Tác động
Các nứơc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng phải mở cửa và tham gia vào quá trình hội nhập Muốn làm đựơcđiều này, VN phải đưa ra một lộ trình và xây dựng mục tieu mở cửa phù hợp với khả năng và nguồn lực trong nước và xu thêbiến động trong khu vực cũng như trên thế giới
c Xu hướng giữa các quốc gia chuyển từ đối đầu sang đối thoại
+ Biểu hiện
Các quốc gia giải quyết các mâu thuẫn thông qua đàm phán, thoả thuận và đi đến ký kết các hiệp định song, đa phương
+ Tác động
Tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế của VN
d Xu hướng phát triển mạnh mẽ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương
- Thách thức đối với VN đó là quá trình phát triển của VN có sự tương đồng với các quốc gia này nên sự cạnh tranhdiễn ra là điều không thể tránh khỏi nên VN phải có những chính sách linh động nhằm phát huy tiềm lực của nứơc mìnhnhằm nâng cao khả năng cạnh tranh đặc biệt là về thu hút đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế
e Xu hướng hầu hết các quốc gia chuyển sang mô hình kinh tế thị trường mở cửa.
Trên đây là nhứng xu hướng chủ yếu của nền kinh tế thế giới có tác động trực tiếp tới các quốc gia thông qua đó tạo ra cơhội và điều kiện mới nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đặc biệt là sự cạnh tranh khốc liệt trong quá trình hộinhập
Chương 3 - Câu2: (KTQT): Các lý thuyết cổ điển và tân cổ điển về thương mại quốc tế: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết lợi thế so sánh, lý thuyết H-O Vận dụng các lý thuyết này để giải thích cho thương mại quốc tế của Việt Nam.
Trả lời:
1.Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Adam Smith (1723 – 1790), người Anh
Mác suy tôn ông là cha đẻ của nền kinh tế cổ điển
Tác phẩm tiêu biểu của ông là: “Của cải của các dân tộc” năm 1776
Khái niệm: Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sảnxuất và trao đổi những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với quốc gia khác và thấp hơn mức trung bình chungquốc tế thì tất cả các quốc gia sẽ đều cùng có lợi
Tư tưởng chủ yếu
- Ông loại bỏ quan điểm cho rằng vàng bạc, đá quý là đại diện duy nhất cho sự giàu có của các quốc gia
- Thương mại quốc tế sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia , nếu bên nào bị thiệt hại họ sẽ từ chối ngay
- Cơ sở trao đổi thương mại quốc tế là dựa trên lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia và quốc gia nào có lợi thế tuyệt đối ở mặthàng nào sẽ xuất khẩu mặt hàng đó và nhập khẩu những mặt hàng không có lợi thế tuyệt đối
Giả định
- Thế giới chỉ có hai quốc gia, mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt hàng
- Giả sử rằng chi phí sản xuất đồng nhất với tiền lương công nhân
Trang 3- Giá cả hoàn toàn do chi phí sản xuất quyết định.
2.Lý thuyết lợi thế tương đối của Ricacdo ( 1772 – 1823)
Khái niệm: Lợi thế tương đối là lợi thế đạt được trong trao đổi quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá sảnxuất và trao đổi các sản phẩm có lợi thế là lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi
Tư tưởng chủ đạo: Theo quan điểm của Ricacdo thì nếu 1 quốc gia bị bất lợi trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thìquốc gia đó vẫn được tham gia vào thương mại quốc tế nếu như họ lựa chọn mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất xuất khẩu và nhậpkhẩu những mặt hàng có bất lợi lớn nhất, quá trình đó các quốc gia sẽ đều thu được lợi ích
Giả định:
- Thế giới có 2 quốc gia mỗi quốc gia sản xuất 2 mặt hàng
- Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất chỉ được di chuyển trong nội bộ quốc gia mà không di chuyển quốc tế
- Công nghệ là hoàn toàn cố định (không đổi)
- Các chi phí vận tải, bảo hiểm, đều bằng 0
- Thương mại hoàn toàn tự do
Đánh giá:
- Thành công:
+ Lý thuyết đã chứng minh được trường hợp tổng quát nếu 1 quốc gia bị bất lợi trong việc sản xuất cả 2 mặt hàng thì vẫn cóthể tham gia vào trao đổi TMQT khi họ lựa chọn mặt hàng có lợi thế s2 để XK và NK n~ mặt hàng k0 có lợi thế s2 và trongtrao đổi thì tất cả các qgia đều cùng có lợi
+ TMQT có thể làm thay đổi cơ cấu các ngành, những ngành nào có lợi thế s2 thì sẽ được tăng cường mở rộng quy mô vàngược lại
- Hạn chế:
+ Coi lđ là yếu tố s/x duy nhất và đồng nhất với nhau, trong khi đó ở giữa các ngành lại có NSLĐ, mức lương, tay nghề và
cơ cấu lđ khác nhau
+ Công nghệ s/x luôn có sự thay đổi
+ Nếu tỷ lệ trao đổi nội địa giữa các qgia là như nhau thì có nên tham gia vào TMQT hay k0, ông k0 giải thích được
Lợi thế so sánh của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, từ sự phân tích và lập luận ở trên cho thấy: lợi thế so sánh của Việt Nam là các lợi thế tĩnh hay còn gọi các
lợi thế cấp thấp, nếu các lợi thế này không có khả năng tái sinh thì nó sẽ mất dần đi Điều này thấy rất rõ ở hai lợi thế mà ViệtNam đang có là tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào Mặc dầu Việt Nam được coi là một đất nước phong phú vềcác loại khoáng sản, nhưng nếu tính theo mức đầu người thì không phải là nước giàu khoáng sản Về lao động, Việt Nam có nguồn lao động trẻ dồi dào, tuy nhiên lực lượng này lại chưa quen với lối lao động công nghiệp, việc tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế Do đó chất lượng lao động không cao, thế nhưng tiền công lao động lại quá cao nếu tính theo năng suất
Thứ hai, so với các nước ASEAN, hoạt động thương mại và đầu tư của Việt Nam vẫn ở trình độ thấp Theo số liệu
thống kê năm 2007 của WTO, trong 50 nền kinh tế của thế giới được đưa ra phân tích thì Việt Nam được xếp thứ 50 cuối danh sách Đáng chú ý là các nước ASEAN 4: Singapore, Malaisia, Thái Lan và Indonêsia lần lượt theo thứ tự là 14,19, 25 và
32 Trong điều kiện tương đồng về cấu tạo tài nguyên thì lợi thế dựa trên điều kiện sản xuất cấp thấp sẽ nhỏ bé Nếu chỉ dựa vào lợi thế này thì thương mại của Việt Nam trong ASEAN chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và được coi là kém phát triển Nguyên nhân chính không phải ở chỗ có sự tương đồng về cấu tạo tài nguyên gây ra mà là ở chỗ các điều kiện sản xuất vốn có của cácquốc gia ASEAN hơn hẳn Việt Nam
Hiện tại lợi thế so sánh cấp thấp (sản xuất ra sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố lao động, giá trị gia tăng thấp) đang là một nhân
tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Nhưng nếu chỉ đơn thuần dựa vào lợi thế này thì Việt Nam khó có khả năng thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp ở mức độ cao hơn Hơn nữa, điều kiện tự do của AFTA, cùng với sự phát triển nhiều loại hình công nghệ mới, sẽ hướng các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước cócác điều kiện và lợi thế sản xuất cấp cao hơn (gọi là lợi thế động bao gồm vốn, công nghệ cao, nhân công lành nghề, cơ sở hạ tầng hiện đại…) Trên cơ sở các hoạt động sản xuất, các công ty xuyên quốc gia có thể tận dụng triệt để lợi thế và điều kiện
Trang 4sản xuất của các quốc gia đã có, nhằm tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh, các linh kiện và chi tiết… tại các quốc gia trong điều kiện tự do mậu dịch.
Thứ ba, giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra chủ yếu dựa trên lợi thế về điều kiện sản xuất cấp thấp (nguyên liệu thô, gia công và sơ chế) luôn rẻ hơn so với các mặt hàng chế biến dựa trên lợi thế về các điều kiện sản xuất cấp cao hơn (lao động được đào tạo, công nghệ trung bình thích hợp) Hiện tại Việt Nam đang xuất khẩu dầu thô, gạo, khoáng sản… nếu không đi thẳng vào công nghệ hiện đại sử dụng lao động dồi dào để sản xuất hàng xuất khẩu thì Việt Nam sẽ phải chịu thiệt thòi về giá hàng xuất khẩu (giá trị gia tăng thấp) Thực tế đó đã được chứng minh qua nhiều năm.Tuy nhiên những phân tích trên đây không có nghĩa là Việt Nam phải từ bỏ các lợi thế so sánh cấp thấp, mà cần hiểu lợi thế so sánh cấp thấp chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn Về lâu dài, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của Nhật Bản, NIES mau chóng chuyển
từ lợi thế so sánh cấp thấp sang lợi thế so sánh cấp cao hơn (sản xuất ra sản phẩm cần nhiều vốn, lao động phải được đào tạo, công nghệ trung bình và cao, năng suất lao động cao và giá trị gia tăng trong sản phẩm lớn) Trong mô hình: lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều mặt hàng, thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá Việt Nam chỉ có lợi thế so sánh cấp thấp, biểu hiện sản xuất ở một số nhóm hàng, mặt hàng sử dụng nhiều lao động và lợi thế về tài nguyên tự nhiên Nhưng với quá trình phát triển (công nghiệp hoá, hiện đại hoá), Việt Nam sẽ có một bước chuyển rất căn bản: mở rộng lợi thế so sánh ra nhiều mặthàng, nhóm hàng có giá trị cao Muốn vậy phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt về năng suất
Một số giải pháp để tận dụng hiệu quả lợi thế so sánh
Thứ nhất là đối với lợi thế về điều kiện tự nhiên:
- Đất đai phì nhiêu nên chú trọng vào việc trồng trọt và chăn nuôi Nhà nước, chính quyền địa phương và người dân nên có những chiến lược hoặc chính sách khoanh vùng để phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững Những vùng đất có hàm lượngphù sa lớn như ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long nên có chính sách khoanh vùng trồng lúa Tránh việc lấn chiếm đất để xây dựng cơ sở hạ tầng Ở những vùng đất đỏ ba gian như trung du miền núi phía bắc, ở tây nguyên và vùng tây nam bộ phát triển những loại cây trồng có giá trị phục vụ cho công nghiệp chế biến như cây chè ở Thái Nguyên, cây cao
su ở Tây nguyên và cây điều, cây ca cao ở Tây nam bộ Việt Nam có nhiều vùng đồi núi thoai thoải rất phù hợp cho việc chăn thả gia súc, đặc biệt là gia súc lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao Hơn nữa việc kết hợp " 3 nhà": nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông cũng rất hiệu quả cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay Do đó mô hình này cũng nên được nhân rộng ra Vì nó không những mang lại lợi ích cho nông dân mà còn đối với doanh nghiệp chế biến và phân phối sản phẩm, với nhà nước
- Việt nam có bờ biển dài và đẹp thì phát triển du lịch kinh tế biển Như đã giới thiệu ở trên Việt Nam có bờ biển dài 3.260km không kể các đảo Đây là một trong những lợi thế to lớn mà thiên nhiên ưu đãi cho Việt Nam Với những bờ biển đẹp trải dài
từ bắc vào nam Đặc biển có những bờ biển được xếp hạng là một trong những bải biển đẹp nhất hành tinh như bải biển ở Nha Trang Nhờ vào lợi thế biển thì loại hình dịch vụ du lịch tham quan nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí đã và đang được các tỉnh có bờ biển tích cực mở rộng và đưa vào khai thác Để loại hình du lịch biển này mang lại lợi ích tối đa Nhà nước và địa phương nên tích cực quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước nhằm thu hút khách du lịch Đi kèm với việc quảng bá thì việc đầu tư vào các công trình như khách sạn, nhà hàng hay các khu resort nghỉ dưỡng cũng nên đẩy mạnh; Thông thường khách du lịch thường chú ý đến phong cách phục vụ do đó cần phải đào tạo đội ngũ các nhà quản lý
và nhân viên tốt đảm bảo chất lượng Như vậy việc phát triển du lịch biển không chỉ dựa vào lợi thế mà tự nhiên ban tặng mà còn phải kết hợp với nhiều loại hình dịch vụ khác thì hiệu quả phát triển du lịch kinh tế biển mới thực sự là một trong những nguồn lợi thế quan trọng của đất nước Ngoài việc phát triển du lịch thì loại hình đánh bắt thuỷ sản ngoài khơi và việc nuôi trong thuỷ sản trên biển, trên các vùng đất cát cũng thu về một nguồn lợi rất lớn Phục vụ cho việc chế biến thuỷ sản xuất khẩu
- Việt nam có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp kết hợp với di tich lịch sử và văn hoá ở từng vùng miên nên triển khai mở rộng dịch vụ du lịch dịch vụ Mỗi vùng trên nước ta đều có những địa điểm và và thắng cảnh đẹp Để tận dụng được lợi thế này cácđịa phương nên áp dụng các dịch vụ du lịch này, vừa quảng bá địa phương mình với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước
và nước ngoài Như vậy mọi người đều biết đến địa phương mình mà còn thu hút khách du lịch đến tham quan mang lại lợi ích về mặt kinh tế cho địa phương Hiện nay việc triển khai áp dụng biện pháp này chưa hiệu quả cho nên các địa phương phải biết tận dụng các lợi thế này để pháp triển để giới thiệu lịch sử, văn hoá của địa phương Đặc biệt là việc phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống của địa phương, vừa duy trì được ngành nghề truyền thống vừa tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương
- Cần tăng cường cảnh báo các thiên tai nhằm giảm tối đa những tổn thất có thể gây ra cho kinh tế Việc thiên tai, lũ lụt thường xuyên diễn thường xuyên Chính phủ cần nền xây dựng các trạm thuỷ văn hiện đại để dự báo kịp thời các thiên tai để chính quyền địa phương và người dân kịp thời phòng tránh, giảm thiểu tối đa các thệt hại Chủ động khắc phục hậu quả mà thiên tai gây ra, khôi phục sinh hoạt của người dân và việc sản xuất trở lại hoạt động bình thường
Trang 5- Cần xấy dựng nhiều các khu công nghiệp, các khu chế biến và khai thác khoáng sản Cần quy hoạch hợp lý, và nên xây dựng ở những vùng có gần nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất
- Khai thác một cách có hiệu quả đi đôi với cải tạo tư nhiên, … tránh làm tổn hại đến môi trường tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường
- Phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải về các vùng sâu vùng xa
Thứ hai: Nâng cao chất lượng lao động để đáp ứng với sự đòi hỏi của nên kinh tế
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật: phát triển cơ sở hạ tầng tiên tiến, hiện đại hơn phù hợp với công nghệ hiện đại đang tiến hành nhập khẩu từ nước ngoài,
- Về lao động: phát huy nguồn lao động chất lượng cao; phân bố lao động một cách hợp lí theo cơ cấu kinh tế
- Nâng cao chất lượng dạy và học trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp và Dạy nghề Nhà trường không chỉ đào tạocác ngành nghề phù hợp với các nhu cầu của xã hội mà còn phải giáo dục cho sinh viên về ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp ngay khi ngồi ở ghế nhà trường Việc tìm hiểu nhu cầu của các tổ chức, doanh nghiệp đòi hỏi đối với người lao động nói chung và sinh viên mới ra trường nói riêng như thế nào để nhà trường đưa ra những phương pháp giáo dục mới mang lại hiệu quả cao cho sinh viên
- Tổ chức các cuộc tư vấn, hướng nghiệp về nghành nghề cho giới trẻ để họ tìm được những công việc phù hợp trình độ và năng lực của bản thân Việc tổ chức tư vấn này là rất quan trọng đối với người tìm việc làm và đối với doanh nghiệp Người lao động có thể tìm được việc làm phù hợp với sở thích, năng lực của bản thân Doanh nghiệp thì tìm được đúng và đủ nhân viên cho các vị trí còn thiếu Cần có sự kết hợp giữa các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, các trường dạy nghề và doanh nghiệp như tổ chức các cuộc hội thảo, các cuộc trao đổi hay cho sinh viên đi tham quan công việc, hoặc thực tập ngay chính doanh nghiệp Việc tổ chức tư vấn này nên cần được triển khai khi người lao động đang ngồi trên ghế phổ thông, định hướng cho các em về nghề nghiệp trong tương lai Khi sinh viên chuẩn bị ra trường thì nên hướng cho họ tìm việc đúng với ngành nghề mà mình được đào tạo Thường xuyên mở hội chợ về giới thiệu việc làm hay các sàn giao dịch việc để người lao động đến tìm hiểu để biết được trình độ và kinh nghiệm của mình đến đâu, có đáp ứng với yêu cầu của công việc hay không
Từ đó người lao động có ý thức tự trao dồi kiến thức cho bản thân
- Thường xuyên tổ chức trau dồi kiến thức cũng như tay nghề cho người lao động trước và trong quá trình làm việc để đảm bảo cho chất lượng công việc được hiệu quả Trước khi vào một tổ chức nào đó để làm việc thì người lao động cần có kiến thức kỷ năng cơ bản để đảm cho công việc Nhưng quá trình làm việc thì việc củng cố và bổ sung kiến thức cũng là điều không thể thiếu cho người lao động Bởi trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ngày càng phát triển, công nghệ máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất cũng trở nên hiện đại hơn, công việc ngày càng khó khăn phức tạp hơn Đòi hỏi trình độ của người lao động phải được nâng cao
- Nâng cao tình thần tự giác và tự chủ của người lao động trong quá trình làm việc Xu hướng làm việc đi sớm về muộn ở một số doanh nghiệp vẩn xảy ra ảnh hưởng đến chất lượng công việc Do đó cần phải xây dựng tinh thần tự giác và tự chủ động của người lao động ngay từ khi lao động mới vào làm việc Đề ra các quy tắc, quy định xử phạt công bằng để đảm bảo quyền lợi cho cả người lao động và cả doanh nghiệp
- Rèn luyện tính làm việc có kỷ luật và tác phong công nghiệp cho toàn bộ người lao động
Thứ ba là các chính sách của chính phủ để phát triển kinh tế
- Giảm các thủ tục hành chính khi tổ chức, cá nhân muốn xây dựng, mở rộng việc sản xuất kinh doanh hay là các công ty nước ngoài đầu tư ở Việt Nam
- Chính phủ cần đặt ưu tiên vào ổn định kinh tế vĩ mô Nhiệm vụ điều hành ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới tiếp tục rất phức tạp và khó khăn, đòi hỏi Chính phủ và các cơ quan chức năng phải bám sát tình hình, có những chính sách, giải phápchỉ đạo điều hành kịp thời và linh hoạt Các định hướng chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ trong cả năm cần được công
bố ngay từ đầu năm để cho người dân và doanh nghiệp được biết Những dự kiến thay đổi cụ thể về chính sách ở từng thời điểm cụ thể trong năm chỉ nên công bố khi chắc chắn sẽ thực hiện Cùng với thông tin về quyết định chính sách, các thông tinkinh tế vĩ mô (như nhập siêu, bội chi ngân sách, dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán, nợ quốc gia…) phải được công khai, minh bạch ở mức cần thiết để người dân và doanh nghiệp tránh bị động trong sản xuất kinh doanh Cần có cơ chế phối hợp đồng bộ, toàn diện hơn nữa giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự phối kết hợp chặt chẽ ngay từ khâu hoạch định chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách tỷ giá và các chính sách khác để giải quyết và đạt được các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường ngoại tệ Chính phủ cũng cần nâng cao năng lực dự báo và tăng cường phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan dự báo và cơ quan giám sát để đảm bảo thống nhất khi công bố
- Đối với vấn đề bội chi ngân sách, chính phủ cần xác định rõ lộ trình và giải pháp cho việc giảm bội chi và tiến tới cân đối ngân sách một cách tích cực Cần cải cách lại cơ chế cấp phát ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi nhằm đảm bảo chi ngân sách có hiệu quả Chi ngân sách cần gắn liền với công khai, minh bạch và dân chủ Xây dựng và áp dụng cơ chế thưởng phạt cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong quản lý, điều hành ngân sách nhà nước Đối với vấn đề kiểm soát nhập siêu, cần đặt trong tổng thể của tất cả các chính sách từ chính sách tài khóa, tiền tệ đến chính sách tỷ giá, từ việc chuyển đổi cơ cấu xuất khẩu đến phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ vì nhập siêu bản chất là vấn đề cơ cấu kinh tế
- Thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng và hấp thụ vốn đầu tư của nền kinh tế Để thực hiện điều này, cần
Trang 6tập trung vào tái cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNN, theo hướng rà soát lại hệ thống doanh nghiệp
DNNN, kiên quyết cắt bỏ các DNNN làm ăn thua lỗ Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn đầu tư từ ngân sách Nghiên cứu lại việc phân bổ và sử dụng nguồn lực theo hướng nguồn lực cần phải được phân bổ đến những ngành có độ lan tỏa lớn, có giá trị gia tăng cao Ưu tiên hỗ trợ những doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi và những doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được với công nghệ hiện đại để giúp họ trang bị lại thiết bị, cải tiến công nghệ nhằm bắt kịp với nền sản xuất của thế giới
- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh Khi cùng chung sống trong một môi trường kinh tế và chính sách kinh
tế, các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nhà nước hay ngoài nhà nước cần có được sự bình đẳng như nhau về cơ hội kinh doanh Hơn nữa, khi nền kinh tế ngày càng thị trường hóa sâu hơn đòi hỏi phải tách biệt giữa chức năng kinh doanh và chức năng hỗ trợ chính sách kinh tế của khu vực doanh nghiệp nhà nước Điều này sẽ vừa nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp này vừa không gây ra những méo mó trong nền kinh tế Ở khía cạnh khác, để tạo môi trường đầu tư minh bạch có tínhcạnh tranh, cần tách biệt vai trò của chính phủ là chủ sở hữu ra khỏi vai trò điều hành chính sách
- Để đảm bảo tăng trưởng trước mắt cũng như lâu dài cần giải quyết các “nút thắt” của nền kinh tế, đó là cơ sở hạ tầng và công nghiệp phụ trợ yếu kém; chất lượng nguồn nhân lực thấp; hệ thống tài chính còn bất ổn và mang tính đầu cơ; bộ máy hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả Thực tế cho thấy, việc thực hiện các chính sách để giải quyết các “nút thắt” này luôn mang lại những tín hiệu tốt cho dài hạn và không làm méo mó toàn bộ nền kinh tế trong ngắn hạn Do vậy, một khi nền kinh
tế đã phục hồi trở lại, cần chuyển sang ưu tiên tập trung giải tỏa các “nút thắt” trên
- Nhà nước cần mở cửa thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào các vùng sâu, vùng xa, những vùng kinh tế chưa phát triển.Việc thu hút vốn đầu từ là rất quan trọng nhưng đầu tư ở vùng sâu vùng xa lại quan trọng hơn Việc đầu tư mang lại hiệu quả thì nhà nước cần có những chính sách thông thoáng kích thích nhà đầu tư Một trong những điều đó chính là chính sách của địa phương dành cho doanh nghiệp và việc phát triển cơ sơ hạ tầng như đường xá giao thông, mạng lưới điện
- Phát triển đồng đều các ngành kinh tế ở các vùng miền Phát triển kinh tế không phải chỉ tập trung ở mỗi các các thành phố lớn mà còn phải phát triển ở vùng nông thôn, trung du và miền núi
- Để giảm thách thức và tận dụng được cơ hội do Trung Quốc và ASEAN mang lại, Việt Nam phải chuyển dịch nhanh cơ cấuxuất khẩu sang các nước này, phải có khả năng cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị trường khu vực và thế giới Muốn vậy phải xác định được những ngành có lợi thê so sánh, chuyển hướng chiến lược cho phù hợp với tình hình mới va tận dụng ngoại lực để vừa làm tăng nội lực vừa nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh Tìm lợi thế
so sánh động và chuyển hướng chiến lược Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế có ngay bây giờ, có ngành đã được phát huy, cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế nhưng cũng có ngành chưa được phát huy do môi trường hoạt động của Doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Lợi thế so sánh động là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi các điều kiện về côngnghệ, về nguồn nhân lực và khả năng tích lũy tư bản cho phép Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện đó sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực Việt Nam cần chuyển chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang xúc tiến xuất khẩu những sản phẩm nguyên chiếc mà biện pháp cụ thể là giảm giá thành những sản phẩm
đó bằng cách bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận
- Phát huy mạnh những lợi thế vốn có, khắc phục những hạn chế còn tồn tại thực hiện được như vậy thì chúng ta mới thực sựphát triển một cách toàn diện những lợi thế kinh tế để phát triển đất nước
3 Lý thuyết H-O.
Sự khác nhau về tỷ lệ trao đổi hàng hoá trong nước chính là cơ sở để tăng thêm được lợi ích thu được từ TM tuy nhiên cómột câu hỏi đặt ra là vì sao có sự khác nhau về tỉ lệ trao đổi đó
Tư tưởng chủ đạo
Tư tưởng chủ đạo của lý thuyết Heckscher-Ohlin đó là chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau
và hàm lượng các yếu tố sản xuất sử dụng để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là nhân tố quan trọng quy định thương mạiquốc tế
Câu hỏi mà Heckscher và Ohlin muốn trả lời đó là “ Tại sao năng suất lao động lại khác nhau giữa các nước?” TheoDavid Ricardo thì lý do là công nghệ sản xuất ở các nước khác nhau Tuy nhiên, Heckscher và Ohlin lại cho rằng nguyênnhân ở chỗ các quốc gia có sự khác nhau về mức độ trang bị cũng như mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất Cụ thể là cácquốc gia được trang bị khác nhau về các yếu tố như đất đai, lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên, điều này dẫn đến hìnhthành lợi thế so sánh
Lý thuyết H-O không những giải thích được bản chất của lợi thế so sánh, mà còn cho phép phân tích được tác động củathương mại quốc tế đến giá cả các yếu tố sản xuất và quá trình phân phối thu nhập giữa các quốc gia, cũng như trong phạm vitừng quốc gia Lý thuyết H-O có thể dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sảnxuất sẵn có của quốc gia
Các giả định:
Trang 7- Thế giới có 2 qgia và mỗi qgia chỉ sx 2 loại h2 và chỉ có 2 ytố chi phối đến qtrình sx là lđộng vàTB.
- Hai qgia sẽ sdụng công nghệ sx là giống như nhau và thị hiếu của các dtộc là như nhau
- Giả định rằng h2 X chứa nhiều lđộng, h2 Y chứa đựng nhiều TB
- Tỷ lệ giữa đtư và sản lượng của 2 loại h2 trong 2 qgia là một hằng số Cả 2 qgia đều chuyên mônhoá sx ở mức độ không hoàn toàn
- Yếu tố cạnh tranh là hoàn hảo trong thị trường h2 và thị trường các yếu tố đầu vào của cả 2 qgia
- Các ytố đầu vào được tự do di chuyển trong từng qgia nhưng lại bị cản trở trong phạm vi qtế
- Không có cfí vtải, hàng rào thuế quan và các trở ngại khác trong TM giữa 2 nước
Hàm lượng các ytố sx trong hàng hóa và đường giới hạn khả năng sx
- Hàng hoá Y là h2 chứa đựng nhiều TB nếu như tỷ số giữa TB và lđộng ở hh Y đều lớn hơn hh X ở cả 2 qgia
- Nếu như qgia 2 là qgia có sẵn TB so với qgia thứ 1 Nếu tỷ giá giữa tiền thuê TB/tiền lương ở qgia này thấphơn so với qgia thứ 1
- Sản xuất mặt hàng vải cần nhiều lao động hơn, còn sx mặt hàng thép cần nhiều TB hơn
Sơ đồ: Quá trình hình thành giá cả sản phẩm
(Khung cân bằng tổng quát của lý thuyết H-O)
Trong sơ đồ trên H – O đã tách riêng sự khác biệt về khả năng vật chất, hay khả năng cung cấp các ytố vật chất (Tách sởthích và công nghệ) để giải thích sự khác biệt về giá tương đối của hàng hoá và thương mại giữa các nước
Đbiệt theo lý thuyết này Ohlin giải thích về sở thích và phân phối thu nhập giống nhau về hàng hoá cuối cùng tuy các ytố sx
là khác nhau
Vì vậy các ytố cung và ytố sx ở các nước khác nhau → giá cả tương đối ở các qgia là khác nhau Vì vậy hoạt động TM diễn
ra giữa các qgia
→ Tóm lại: Nguyên nhân của TM là do sự khác nhau về giá cả tương đối do sự dư dật về cung các ytố sx khác nhau
Những kiểm nghiệm thực tế và khả năng vận dụng lý thuyết này trong thực tế
- Kiểm nghiệm thực tế qua Hoa Kỳ là 1 trong những nước giàu có về vốn:
+ Hoa Kỳ nên XK những mặt hàng hàm lượng TB lớn
+ Hoa Kỳ nên NK những mặt hàng hàm lượng lđộng lớn
+ Nhằm điều chỉnh chính sách TM của các qgia (cụ thể là sdụng thuế để điều chỉnh dòng vận động X-NK)
+ Điều chỉnh chính sách nguồn nhân lực cho các qgia
Đánh giá lý thuyết H-O
a) Ưu điểm (so sánh với lý thuyết lợi thế so sánh của D.R)
*GIỐNG NHAU:
- Giả thiết thế giới chỉ có 2 quốc gia và chỉ sản xuất 2 mặt hàng x và y
- Thương mại là tự do, chi phí vận chuyển bằng 0
- Yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia
- Cả hai mặt hàng đều được sản xuất trong điều kiện hiệu suất không đổi theo quy mô
- Chỉ bàn đến yếu tố cung chứ không đề cập tới yếu tố cầu: đều giả định sản xuất ra thì người mua đều mua hết
Giá cả s/p
Cung yếu tố s/
x
Kỹ thuật công ngiệp
thị hiếu
sở thích người td
Phân phối thu nhập
Trang 8*KHÁC NHAU:
Lý thuyết lợi thế so sánh Lý thuyết H-O
- Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất
và đồng nhất trong tất cả các ngành sản xuất
- Mỗi quốc gia thực hiện chuyên môn
hóa sản xuất và trao đổi mặt hàng mà mình
có lợi thế so sánh với các quốc gia khác
(Chuyên môn hóa hoàn toàn)
- Thương mại hình thành do sự khác
biệt công nghệ sản xuất giữa các nước Sự
khác biệt về NSLĐ do sự khác biệt công
nghệ sản xuất (là yếu tố tĩnh)
- 2 yếu tố sản xuất: vốn và lao động
- Mỗi quốc gia sẽ xuất khẩu những mặthàng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dàotương đối và nhập khẩu những mặt hàng sửdụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất khan hiếmtương đối (Chuyên môn hóa không hoàn toàn ởhai quốc gia)
- Thương mại hình thành do sự khácnhau về giá cả tương đối do sự dư dật về cungcác yếu tố sản xuất khác nhau
- 2 quốc gia sử dụng công nghệ giốngnhau
- Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia
Có những đặc điểm trong thương mại quốc tế mà mô hình này không thể giải thích ví dụ như:
- Một là quan hệ thương mại nội ngành (intra-industry trade) Ví dụ Mỹ xuất khẩu xe hơi sang Nhật và Châu Âu nhưngcũng nhập khẩu xe hơi từ Nhật và châu Âu Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành này không thểxảy ra vì với một mặt hàng, chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sang nơi không có lợi thế sản xuất mặt hàng đónhưng thực tế lại không diễn ra như vậy
- Hai là không giải thích được tại sao một số nền kinh tế như Đài Loan và Hàn Quốc lại thành công trong việc chuyển
từ xuất khẩu quần áo, giày dép vào những năm 1960 sang xuất khẩu máy tính, ô tô đến Mỹ và châu Âu như ngày nay
- Ba là quan hệ tự do hóa thương mại: kể từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thương mại quốc tế đã được
tự do hóa đáng kể và do đó có sự gia tăng nhanh chóng về quy mô Xuất phát từ định lý H-O thì sẽ có những biến đổi lớntrong phân bổ nguồn lực và mâu thuẫn xã hội Chẳng hạn định lý Stolper-Samuelson tự do hóa thương mại sẽ làm giảm thunhập của một yếu tố sản xuất và gây nên sự phân kháng của một số tầng lớp dân cư trong xã hội Tuy nhiên thực tế đã chứngminh thương mại quốc tế phát triển làm tăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất và tăng phúc lợi xã hội với mọi tầng lớpdân cư trong xã hội
Mô hình ban đầu do H-O xây dựng chưa phải là mô hình toán, chỉ giới hạn với hai quốc gia, hai loại hàng hóa có thểđem trao đổi quốc tế và hai loại yếu tố sản xuất (đây là hai biến nội sinh) Vì thế mô hình ban đầu còn được gọi là mô hình2x2x2 Về sau mô hình được Paul Samuelson là người đầu tiên áp dụng toán học vào nên có khi được gọi là mô hình H-O-S.Jaroslay Vanek mở rộng để áp dụng cho nhiều quốc gia và nhiều sản phẩm nên cũng thường được gọi là mô hình H-O-V.Như vậy thì lý thuyết về lợi thế so sánh được bắt đầu từ David Ricardo và tiếp tục được phát triển bởi nhiều các học giảvới sự chú ý đầy đủ hơn những nhân tố khác nhau của nền kinh tế thị trường Đến với lý thuyết H-O được coi là một trongnhững lý thuyết mạnh nhất của kinh tế học nói chung, mô hình H-O ngự trị tư duy kinh tế quốc tế trong suốt nửa thế kỷ vàgiải thích được hầu hết các mối quan hệ thương mại quốc tế thời đương thời Cho đến khi xuất hiện nghịch lý Leontief thì lýthuyết H-O đã gặp phải những thách thức nghiêm trọng Điều này đã khuấy động các cuộc tranh luận thương mại quốc tế vàdẫn đến sự ra đời của những lý thuyết mới
Sự khác biệt giữa lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết Heckscher – Ohlin
Giống nhau:
Trang 9o Đều khẳng định thương mại tự do sẽ mang lại lợi ích
o Một số giả định giống nhau:
- Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ có 2 loại sản phẩm
- Lao động có thể di chuyển tự do qua 1 quốc gia nhưng không có khả năng di chuyển giữa các quốc gia
- Chi phí sản xuất cố định
- Không có chi phí vận chuyển
- Thương mại tự do, không có thuế quan
- Công nghệ sản xuất cố định và như nhau ở các quốc gia
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- Mô hình thương mại quốc tế được xác định bởi sự khác biệt về năng suất lao động
- Yếu tố duy nhất là lao động
- Không tính đến nhu cầu tiều dùng của mỗi nước
- Không tính đến chi phí vận tải, mậu dịch, thuế quan
Hecksher-Ohlin:
- Mô hình bỏ qua lí thuyết về giá trị lao động và gắn cơ chế giá tân cổ điển vào lý thuyết thương mại quốc tế
Mô hình Hecksher- Ohlin lập luận rằng cơ chế thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tốnguồn lực
- Gồm 2 yếu tố sản xuất là lao động và nguồn lực
- Hai quốc gia sử dụng công nghệ giống nhau và thị hiếu của các dân tộc là như nhau Hàng hóa X chứa đựngnhiều yếu tố lao động còn hàng hóa Y chứa đựng nhiều yếu tố về vốn
- Nhiều công trình nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm mô hình H-O đưa ra những kết luận mâu thuẫn, trong đó cócông trình của Wassili Leontief còn được biết đến với tên gọi Nghịch lý Leontief
4 Đánh giá chung về các lý thuyết:
+ Các lý thuyết này đưa ra được các cách giải thích khác nhau về nguồn gốc và căn nguyên của TMQT
+ Đều tính toán được lợi ích của các qgia thu được từ TMQT
+ Trong các lý thuyết này mới chỉ đề cập đến khía cạnh cung mà chưa đề cập đến khía cạnh cầu
+ Các loại dịch vụ (h2 vô hình), các ytố về marketing, vấn đề trình độ quản lý thì chưa được tính toán đầy đủ trong các môhình Đồng thời cách giải thích mới chỉ đề cập đến nguồn gốc của TMQT ở khía cạnh bộ phận mà chưa giải thích được mộtcách tổng thế
5 Vận dụng lý thuyết này để giải thích cho TMQT ở Việt Nam.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối: Việt Nam đã xác định được lợi thế của mình là trong sản xuất nông nghiệp và sản xuấtnhững mặt hàng sử dụng nhiều lao động Trong thời gian này Việt Nam chủ yếu tập trung xuất khẩu những mặt hàng nôngsản, những mặt hàng thô chưa qua sơ chế và sau này là những mặt hàng như dệt may, giầy dép,… những mặt hàng sử dụngnhiều lao động
Lý thuyết lợi thế so sánh: Xác định rằng xuất khẩu những mặt hàng lợi thế của mình và những mặt hàng việt nam ít bấtlợi nhất theo quan điểm của lợi thế so sánh, tham gia thương mại quốc tế việt nam chú trọng xuất khẩu những mặt hàng thếmạnh là nông sản và hàng tiêu dùng nhưng bên cạnh đó còn chủ trọng những mặt hàng khác như
Lý thuyết H-O: Trước đây, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng thô có hàm lượng lao động cao như: than, càphê, dầu thô, may mặc,… đây là những mặt hàng mà việt nam có lợi thế do có nguồn nguyên vật liệu phong phú, đa dạngnguồn nhân công dồi dào, gia nhân công rẻ… Nhưng hiện nay việt nam đang tích cực và chủ trương thu hút vốn, công nghệ
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ bên ngoài để thay thế mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng những mặt hàng cóhàm lượng chất xám cao để tăng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời giảm các mặt hàng là nguyên liệu thô chưa qua sơ chế để sửdụng một cách có hiệu quả hơn các nguồn lực để phát triển kinh tế một cách bền vững
VD: Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hàng việt nam như sau: Đvị: triệu USD
Thuỷ sản : 3.364
Dầu thô : 8.323
Điện tử máy tính: 1.770
Sản phẩm gỗ: 1.904
Trang 10Chương 4-Câu 3: Hai xu hướng cơ bản trong chính sách TMQT : tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại Liên hệ
CS TMQT Việt Nam.
+ Khái niệm :CS TMQT là một bộ phận trong CS KTĐN của một quốc gia.
CS TMQT là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng
để điều tiết và quản lý các hoạt động TMQT của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được những định hướng,chiến lược, mục đích đã định trong chiến lược phát triển KT – XH của quốc gia đó
Mỗi một quốc gia có CS TMQT khác nhau, tuy nhiên chúng đều vận động theo những quy luật chung và chịu sự chi phốicủa hai xu hướng cơ bản sau:
Xu hướng tự do hóa thương mại và xu hướng bảo hộ mậu dịch
+ Các xu hướng cơ bản trong chính sách KTĐN
1 Xu hướng tự do hóa TM
+ Khái niệm : Quá trình tự do hoá thương mại là quá nhà nứơc giảm dần sự can thiệp vào các hoạt động kinh thương mại
quốc tế của quốc gia nhằm tạo điều kiện thông thoáng và thuận lợi cho các hoạt động đó phát triển một cách hiệu quả
+ Cơ sở:
- Xuất phát từ quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thê giới các quốc gia phải tăng cường quá trình hợptác truớc hết là trong lĩnh vực thương mại do đó nhà nứơc phải giảm dần sự can thiệp và tăng cường áp dụng các biện pháptheo chuẩn mực quốc tế và khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế quốc tế phát triển
- Các nứơc trên thế giới đang chuyển sang áp dụng mô hình kinh tế thị trường mở cửa nhằm tạo điềukiện phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh Thương mại quốc tế
- Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia cũng là cơ sở cho các nước thực hiện mô hình chính sách tự dohoá thương mại quốc tế
+ Nội dung
- Nhà nước tiến hành cắt giảm các công cụ biện pháp gậy hạn chế cho hoạt động TMQT như thuếquan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng phát triển quan hệ trao đổi mua bán hànghoá với nứơc khác
- Nhà nứơc từng bước đưa vào thực hiện các chính sách và biện pháp quản lý như quy định về tiêuchuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, chính sách đảm bảo quyền
sở hữu trí tuệ, thương hiệu hàng hoá theo các cam kết trong các hiệp định hợp tác đã ký kết và theo chuẩn mực chung của thếgiới
+ Các biện pháp : Nhà nước phải xây dựng một lộ trình tự do hoá thương mại một cách phù hợp với đều kiện và khả năng
của quốc gia và dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế của mình Chính phủ và các cơ quan phải áp dụng các biện pháp và hoạtđộng phù hợp để tuyên truyền và phổ biến các thông tin cơ bản của quá trình hội nhập kinh tế quốc tê và tự do hoá thươngmại Ngoài ra CP phải có biện pháp hỗ trợ kịp thới và thích hợp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tận dụng đựocnhững cơ hội cũng như vượt qua được những thách thức trong quá trình mở cửa thực hiện tự do hoá thương mại
2 Xu hướng bảo hộ mậu dịch
+ Khái niệm: Xu hướng bảo hộ mậu dịch là quá trình chính phủ các nước tiến hành xây dựng và đưa vào áp dụng các
biện pháp thích hợp trong chính sách TMQT nhằm hạn chế hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài
+ Mục tiêu: Bảo hộ hàng hoá trong nước và nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của các quốc gia khác, đặc
biệt là những ngành sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu
+ Cơ sở:
- Xuất phát từ sự khác nhau về khả năng và điều kịên tái sản xuất giữa các nước nên cần phải ápdụng các biện pháp bảo hộ đối với sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh với các mặt hàng sản xuất nước ngoài nhằmđảm bảo chủ quyền kinh tế cho quốc gia, tránh sự lệ thuộc với các quốc gia khác trong quá trình phát triển kinh tế
- Xuất phát từ nguyên nhân măt lịch sử trong quan hệ hợp tác kinh tế nói chung và trong quan hệgiữa các nước nói riêng
Trang 11- Một số lý do cụ thể khác như tạo công ăn việc làm cho lao động trong nứớc, tạo cơ hội cho cácngành công nghiệp non trẻ phát triển…
+ Nội dung: Chính phủ và các bộ ngành thực hiện việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các biện pháp công cụ chính sách
phù hợp với xu thế biến động của môi trường kinh tế quốc tế cũng như mục tiêu, điều kiện phát triển trong nước để bảo vệcho nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với hàng hoá nứơc ngoài
+Các biện pháp: Áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vừa đảm bảo cho lợi ích sản xuất trong nước đồng thời đảm
bảo lợi ích cho các quốc gia bạn hàng dựa trên nguyên tắc có đi có lại cũng như chế độ quan hệ bình thường Ngoài ra CP cầnxây dựng mục tiêu và lựa chọn các ngành sản xuất để bảo hộ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn lực trong nước.Hai xu hướng này không bao gìơ được thực hiện một cách triệt để hoàn toàn, mà thường đựoc kết hợp với nhau trong quátrình xây dựng các chính sách TMQT của các quốc gia trong đó xu hướng bảo hộ mậu dịch đựơc điều chỉnh theo hướng giảmdần đồng thời xu hướng tự do hoá thương mại ngày càng đựơc các quốc gia tăng cường trong đó các công cụ biện pháp bảo
hộ mậu dịch từng bứơc được chuyển dần từ những biện pháp truyền thống như thuế quan, hạn ngạch sang các biện pháp hiệnđại hơn như các rào cản về kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, biệnpháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Liên hệ: Với chủ trương hội nhập KT khu vực và thế giới, VN đang tiến tới tự do hóa TM, chúng ta đã gia nhập nhiều tổ
chức kinh tế lớn như “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN”, “Tổ chức thương mại quốc tế - WTO”… gia nhập vào các tổ chứcnày VN đã cam kết thực hiện cắt giảm thuế quan Ví dụ thực hiện theo lộ trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)của các nước ASEAN tiến tới cắt bỏ thuế quan hòan tòan trong khu vực ASEAN, áp dụng mức thuế quan MFN cho hàng hóacác nước được hưởng chế độ tối huệ quốc, giảm thuế nhiều mặt hàng xuống khi tham gia vào WTO
Ngoài ra chúng ta còn dỡ bỏ hạn ngạch đối với một số các mặt hàng như: “không áp dụng hạn ngạch thuế quan đối vớihàng hóa nhập khẩu thỏa mãn các điều kiện được hưởng thuế suất CEPT” theo quy định tại Thông tư số 45/2005/TT-BTCngày 6/6/2005 của Bộ Tài chính, dỡ bỏ hạn ngạch dệt may vào thị trường Hoa Kỳ, …
Chuyển việc cấm xuất khẩu một số mặt hàng hiện nay sang áp dụng điều chỉnh bằng thuế xuất khẩu, tiếp tục giảm và thuhẹp dần mặt hàng chịu thuế xuất khẩu Mở rộng diện các nhóm hàng hoá dịch vụ xuất khẩu được hưởng thuế suất thuế GTGT0% nhằm góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng độ mở của nền kinh tế, tạo điều kiện để nước ta có thể mở rộng và pháttriển thị trường ở nước ngoài
Đối với thuế nhập khẩu nên có sự nghiên cứu để giảm thuế suất tối đa, chuyển tối đa các quy định phi thuế quan sang thuếquan
Tuy nhiên để bảo hộ cho nền kinh tế non trẻ trước sức ép quá mạnh của các nền kinh tế khác nhà nước cũng đưa ra nhiều
biện pháp bảo hộ cho nền kinh tế:
Sử dụng những biện pháp phi thuế , thuế, hệ thống giấy phép nội địa, các biện pháp kỹ thuật để hạn chế hàng hóa nhậpkhẩu
Nâng đỡ các nhà xuất khẩu nội địa bằng cách giảm hay miễn thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, trợ cấp xuất khẩu,
… để có thể thâm nhập thị trường nước ngòai dễ dàng
Câu4: Các công cụ của Chính sách thương mại quốc tế và tác động của chúng: thuế quan, hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, trợ cấp xuất khẩu và các công cụ khác Liên hệ Việt Nam.
Trả lời:
+ Khái niệm :Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận trong hệ thống chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước gồm
hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc
tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa quốc gia đó
Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia, người ta sử dụng các công cụ chủ yếu sau:
1 Công cụ thuế quan
- Khái niệm: Thuế quan là một loại thuế đựơc áp dụng với hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới của quốc gia trong đó tổ
chức tham gia hoạt động xuất nhập khẩu phải nộp một khoản tiền nhất định tính theo giá trị hoặc khối lượng hàng hoá cho cơquan hải quan
Thuế quan bao gồm: Thuế quan xuất khẩu và thuế quan nhập khẩu
1.1 Thuế quan xuất khẩu
Thuế quan xuất khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu
Thuế xuất khẩu hiện nay ít được các quốc gia áp dụng vì hiện nay cạnh tranh trên thị trường quốc tế đang diễn ra quyết liệt,
để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh mở rộng nên Nhà nước chỉ đánh thuế đối với một số mặt hàng có kimngạch lớn, mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia
Tác động của thuế quan xuất khẩu:
Tác động tích cực:
- Thuế xuất khẩu làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Trang 12- Thuế xuất khẩu làm hạn chế xuất khẩu quá mức những mặt hàng khai thác từ tài nguyên thiên nhiên, gây mất cân bằngsinh thái, gây ô nhiễm môi trường, những mặt hàng ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia.
1.2 Thuế quan nhập khẩu
Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá nhập khẩu
Tác động của thuế quan nhập khẩu:
Tác động tích cực:
- Thuế quan nhập khẩu tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do hàng nhậpkhẩu bị giảm bớt, tạo thêm công ăn việc làm cho nâng cao đời sống xã hội
- Thuế nhập khẩu làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
- Thuế nhập khẩu tạo điều kiện cho những ngành công nghiệp còn non trẻ, có khả năng cạnh tranh còn yếu trên thị trườngquốc tế phát triển
- Thuế quan nhập khẩu có thể điều chỉnh hàng hóa từ thị trường nước ngoài vào thị trường trong nước
- Thuế nhập khẩu có tác động tác chính sách phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: từ người tiều dùng sản phẩm nộiđịa sang nhà sản xuất trong nước và Chính phủ, Chính Phủ có thể sử dụng nguồn thu này để làm phúc lợi xã hội, tạo điềukiện cho người nghèo có cuộc sống tốt hơn
Tác động tiêu cực
- Thuế nhập khẩu làm cho giá trị hàng hoá trong nước cao vượt hơn mức giá nhập khẩu và chính người tiêu dùng trongnước phải trang trải cho gánh nặng thuế này Điều đó đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu dùng đối với hàng nhậpkhẩu và làm hạn chế mức nhập khẩu thiệt hại lợi ích người tiêu dùng
- Thuế quan nhập khẩu khuyến khích một số doanh nghiệp sản xuất không hiệu quả trong nước gây tổn thất cho nhà sảnxuất và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
- Về lâu dài thuế quan nhập khẩu sẽ tạo ra những vấn đề buôn lậu, trốn thuế tạo ra nền sản xuất nội địa kém hiệu quả, gâyảnh hưởng đến xấu đến đời sống xã hội
Bên cạnh thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu còn có một số loại thuế quan đặc thù:
- Hạn ngạch thuế quan: là một biện pháp quản lý xuất nhập khẩu với 2 mức thuế xuất nhập khẩu; hàng hoá trong hạn ngạchmức thuế quan thấp, hàng hoá ngoài hạn ngạch chịu mức thuế quan cao hơn
- Thuế đối kháng: là loại thuế đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất xuất khẩu sản phẩm đó được Chínhphủ nước xuất khẩu trợ cấp
- Thuế chống bán phá giá: : Là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để ngăn chặn, đối phó với hàng hoá nhập khẩuđược bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh
Ngoài ra còn một số loại thuế khác như: Thuế tối huệ quốc, thuế phi tối huệ quốc, thuế thời vụ
2 Các công cụ phi thuế quan
2.1 Hạn ngạch
- Khái niệm: Hạn ngạch là những quyết định của nhà nước về lượng hàng hoá lớn nhất đuợc phép xuất khẩu hoặc nhập
khẩu từ một thị trường hoặc một khu vực cụ thể trong một thời gian nhất định
-Phân loại: gồm hạn ngạch xuất khẩu và hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch xuất khẩu quy định một lượng hàng hoá lớn nhất được phép xuất khẩu trong một thời hạn nhất định
Hạn ngạch nhập khẩu quy định lượng hàng hoá lớn nhất được nhập khẩu vào một thị trường nào đó trong 1 năm
Hạn ngạch xuất khẩu thường ít được sử dụng, hạn ngạch nhập khẩu phổ biến hơn và thường chỉ áp dụng đối với một số mặthàng nhập khẩu gây thiệt hại trong nước
-Tác động chung của hạn ngạch
- Chính phủ có thể kiểm soát chặt chẽ lượng hàng xuất nhập khẩu
- Chính phủ không có được nguồn thu như thuế nếu chính phủ không tổ chức bán đấu giá hạn ngạch
- Hạn ngạch có thể dẫn đến độc quyền trong kinhdoanh dẫn đến các tiêu cực trong tìm kiếm cơ hội để có được hạn ngạch
- Gây tốn kém trong quản lý hành chính, bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Tác động của hạn ngạch xuất khẩu:
Đối với nước xuất khẩu:
- Hạn ngạch xuất khẩu làm giảm lượng hàng xuất khẩu, làm giảm quy mô sản xuất dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng,thu nhập người lao động giảm, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội
Trang 13- Hạn ngạch xuất khẩu làm giảm thu ngân sách của nhà nước
- Hạn ngạch xuất khẩu nhằm đảm bảo lượng cung hàng hoá cho thị trường trong nước
- Tác động tới người tiêu dùng: Hạn ngạch xuất khẩu làm hạn chế sản lượng xuất khẩu, cung hàng hoá tại thị trường trongnước sẽ tăng lên làm giá cả hàng hoá thị trường trong nước giảm, tăng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng
Đối với nước nhập khẩu:
- Hạn ngạch xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu làm hạn chế hàng hoá từ nước ngoài thâm nhập vào nước nhập khẩu, tạođiều kiện cho nhà sản xuất nước nhập khẩu mở rộng quy mô, tạo việc làm, gia tăng thu nhập cho người lao động
- Đối với người tiêu dùng: Nó sẽ làm giảm lượng hàng nhập khẩu vào quốc gia nhập khẩu sẽ làm hạn chế mức tiêu dùng đốivới hàng nhập khẩu
Tác động của hạn ngạch nhập khẩu
Đối với nước nhập khẩu:
- Hạn ngạch nhập khẩu làm cho giá hàng nhập nội địa tăng lên và tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộngquy mô sản xuất, tạo việc làm cho người lao động
- Hạn ngạch nhập khẩu nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp còn non trẻ, chưa đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế phát triển
- Hạn ngạch nhập khẩu làm giảm lượng hàng nhập khẩu, dẫn tới lượng tiêu dùng trong nước giảm làm giảm lợi ích củangười tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội do cơ hôi lựa chọn ít hơn và mua với giá đắt hơn
Đối với nước xuất khẩu
- Sản lượng sản xuất hàng hoá ở nước xuất khẩu cũng bị giảm do đó quy mô sản xuất trong nước giảm làm gia tăng thấtnghiệp, giảm thu nhập của người lao động
- Lượng cung hàng hoá bị áp dụng hạn ngạch sẽ tăng lên, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn, và giáhàng hoá có thể giảm xuống gia tăng lợi ích của người tiêu dùng
2.2 Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
- Khái niệm: Tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định của nhà nước hay các tổ chức về tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, vệ
sinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định về an toàn lao động, bao bì đóng gói cũng như các tiêu chuẩn về bảo vệ môitrường sinh thái, quy định một tỷ lệ nguyên vật liệu nhất định trong nước để sản xuất một loại hàng hoá nào đó…đựơc sửdụng để bảo vệ môi trường sinh thái và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong TMQT
-Đặc điểm
- Đối tượng áp dụng bao gồm tất cả các sản phẩm công nghệ và nông nghiệp, các biện pháp vệ sinh động vật, thực vật
- Xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội
- Phản ánh trình độ phát triển đạt được của các quốc gia
- Thường bị khéo léo lạm dụng, bị sử dụng một cách chênh lệch giữa các công ty trong nước và ngoài nước
- Về mặt kinh tế, có tác dụng bảo hộ đối với thị trường trong nước
- Tác động:
+ Đối với nước nhập khẩu: Các nước có những qui đinh tiêu chuẩn kỹ thuật cao thường là các nước phát triển Quiđịnh tiêu chuẩn kỹ thuật bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và đời sống của hệ động - thựcvật sinh thái, bảo vệ các mục đích khác liên quan đến quy định về chất lượng và khuyến khích các lợi ích quốc gia, an ninhquốc gia
+ Đối với những nước xuất khẩu: Hạn chế và ngăn cản buôn bán, trao đổi các mặt hàng chủ lực của các quốc gia xuấtkhẩu, nghiêm trọng hơn làm giảm uy tín sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của các quốc gia này Hiện nay, có đến 1/3 khối lượnghàng hóa buôn bán quốc tế gặp trở ngại do quá nhiều tiêu chuẩn mà các quốc gia tự đặt ra Đồng thời, những tiêu chuẩn đểchung giúp tạo động lực để các quốc gia cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ sản xuất
2.3
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện:
+Khái niệm: Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là yêu cầu của nước nhập khẩu đối với nước xuất khẩu phải cắt giảm lượng
hàng hoá xúât khẩu một cách tự nguyện nhằm hạn chế việc gây thiệt hại về lợi ích cho các nhà sản xuất nội địa tại nướcnhập khẩu
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính miễn cưỡng được áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở mộtmặt hàng nào đó Nếu yêu cầu hạn chế xuất khẩu không được nước xuất khẩu thực hiện thì nước nhập khẩu sẽ tiến hànhnhững biện pháp trả đũa như áp dụng mức thuế cao, quy định hạn ngạch nhập khẩu…
-Đặc điểm
-Đây là hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan, mang tính miễn cưỡng và gắn với những điều kiện nhất định
Trang 14-Đây là những cuộc thương lượng mậu dịch của các bên nhằm hạn chế bớt sự xâm nhập của hàng ngoại, tạo công ăn việc làm cho thị trường trong nước.
-Nước xuất khẩu đồng ý và tự hạn chế hàng xuất khẩu sang nước yêu cầu.Khi hai nước đồng ý thực hiện biện pháp hạnchế xuất khẩu tự nguyện, nó sẽ có tác dụng tương tự như hạn ngạch là gây thiệt hại cho người tiêu dùng và bảo hộ sản xuất tạinước nhập khẩu
-Thường được thực hiện bởi các nước lớn Chỉ được áp dụng đối với một số mặt hàng và với một số nhỏ các nhà xuất khẩu Điều này dẫn đến tình trạng là các nước xuất khẩu khác có thể tăng khối lượng xuất khẩu của họ ở thị trường nhập khẩunày
- Áp dụng: Hình thức này được áp dụng khi một quốc gia nhập khẩu có khối lượng hàng nhập khẩu quá lớn ở một số
mặt hàng nào đó từ một quốc gia xuất khẩu khác Nên quốc gia nhập khẩu có yêu cầu quốc gia xuất khẩu hãy tự nguyện hạn chế xuất khẩu, nói là tự nguyện nhưng thực chất là một yêu cầu của nước nhập khẩu
-Tác động: Giống như hạn ngạch nhập khẩu
2.4 Biện pháp hỗ trợ xuất khẩu
+ khái niệm:Trợ cấp xuất khẩu là biện pháp mà chính phủ các quốc gia xây dựng và hoàn thiện nhằm thúc đẩy hoặc tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu phát triển, khai thác tốt hơn lợi thế của quốc gia
+ tác động:
Trợ cấp xuất khẩu làm tăng sản lượng xuất khẩu, giảm cung thị trường nội địa dẫn đến lợi ích người tiêu dùng bị giảmTrợ cấp xuất khẩu dẫn đến chi phí ròng xã hội tăng lên do sản xuất thêm sản phẩm xuất khẩu kém hiệu quả
* tác động tích cực:
Trợ cấp xuất khẩu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu góp phần điều chỉnh cơ cấu ngành và cơ cấu vùng kinh tế
Điều này thể hiện ở việc khi nhà nước có các chính sách hỗ trợ xuất khẩu cho ngành nào thì ngành đó sẽ có động lực
để phát triển Từ đó sẽ thu hút các nguồn lực tập trung vào các ngành này Cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dich về các ngành này.Điều đó cũng hoàn toàn tương tự khi nhà nước dành các chính sách hỗ trợbcho một khu vực (vùng) nào đó Tất yếu khu vực
đó sẽ thu hút nhiều vốn và có động lực để phát triển Trợ cấp XK là một công cụ của Nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấukinh tế theo ngành hay theo vùng lãnh thổ
Trợ cấp xuất khẩu có những vai trò nhất định trong các lĩnh vực Kinh tế - Chính trị khác
- Thúc đẩy sản xuất trong nước, bảo hộ các ngành sản xuất.- Giành ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác.- Là mộtcông cụ để “mặc cả” trong đàm phán quốc tế
Ổn định an sinh xã hội
Trợ cấp góp phần duy trì ổn định công ăn việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo đảm trật tự và ổn định xã hội, đặc biệt lànhững khoản trợ cấp dành cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, phá sản Sự hỗ trợ củachính phủ có thể giúp các doanh nghiệp này khỏi bị sụp đổ nhanh chóng, thúc đẩy các doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, tự điều chỉnh khả năng thích nghi và cạnh tranh trong thời kỳ quá độ do những khó khăn mà môi trường thương mại quốc tế tạo
ra
* Mặt trái của trợ cấp xuất khẩu
- Trợ cấp bóp méo sự cạnh tranh tự nhiên trong môi trường thương mại tự do- Chi phí của trợ cấp xuất khẩu là rất lớn,xét về dài hạn trợ cấp có thể bóp méo sự phát triển của chính ngành được trợ cấp- Trợ cấp không hiệu quả về mặt tài chínhngân sách- Xác suất chọn sai đối tượng trợ cấp rất cao- Trợ cấp có thể dẫn đến hành động trả đũa
Câu 5: Cơ hội và thách thức của Việt Nam đối với các công cụ phi thuế quan
1 Hạn ngạch
Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, chúng ta phải hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế củamình Chúng ta phải cam kết mở rộng thị trường, cắt giảm thuế quan, các biện pháp phi thuế quan cũng không ngoại lệ Vìvậy hạn ngạch xuất nhập khẩu đang dần dần bị cắt bỏ
Hàng hóa và dịch vụ Việt Nam còn bị phân biệt đối xử, khi gia nhập WTO những phân biệt đối xử đó mới được dỡ bỏ.Thí dụ, xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép sang châu Âu; vẫn không được hưởng ưu đãi thuế quan đối với nông sản,nên không bán gạo vào châu Âu được Hàn Quốc bảo hộ gạo, có hạn ngạch, gia nhập WTO chúng ta mới được chia hạn
Trang 15ngạch Với Hoa Kỳ, không gia nhập WTO chúng ta vẫn bị hạn ngạch dệt may Nếu gia nhập WTO, chúng ta được dỡ bỏ hạnngạch dệt may Gia nhập WTO chúng ta mới dỡ bỏ được rào cản, phân biệt đối xử mà chỉ dành riêng cho các thành viênWTO Hoa Kỳ sẽ bỏ hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam Khi bỏ hạn ngạch dệt may của Hoa Kỳ, thì EU và Canada đã bỏhạn ngạch cho chúng ta từ năm 2005 Khi gia nhập WTO, toàn bộ dệt may không bị hạn ngạch nữa Ðây là cơ hội cho cácdoanh nghiệp Việt Nam.
Khi gia nhập WTO các nước bắt buộc phải bãi bỏ hạn ngạch vì vậy nếu như báo chí có nhắc tới hạn ngạch hiện nay thì
là nói tới Hạn ngạch thuế quan (là một cơ chế hạn ngạch nhập khẩu đối với một khối lượng hàng nhập khẩu nhất định ở mộtmức thuế suất nhất định Một khi khối lượng hạn ngạch này đã được nhập khẩu hết thì bất kỳ lượng hàng nhập khẩu bổ sungnào cũng sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn.)
Song, chúng ta vẫn có những thách thức khi bỏ hạn ngạch: Mối lo bỏ hạn ngạch Theo nhận định của các chuyên gia BộCông Thương, việc xoá bỏ hạn ngạch thuế quan cho một số lượng các mặt hàng nông sản mà Việt Nam vốn có khả năng cạnhtranh thấp sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với những người nông dân sản xuất trực tiếp, nhất là trong bối cảnh nền sảnxuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất và chất lượng thấp, trong khi bình quân đất nôngnghiệp theo đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác trung bình ở mức 30 triệu đồng/ha Đặc biệt,trong ngành đường và muối của Việt Nam, chất lượng sản phẩm thấp trong khi giá thành sản xuất lại cao đã kéo theo lượnghàng nhập lậu lớn từ các nước láng giềng với chi phí thành phẩm thấp hơn một cách đáng kể Trong năm 2006, Việt Namphải nhập khẩu khoảng 185.000 tấn đường và 118.515 tấn muối, trong khi lượng hạn ngạch mà Việt Nam cam kết khi gianhập WTO là 55.000 tấn đường và 150.000 tấn muối Điều này cho thấy việc áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với nhữngmặt hàng này rõ ràng có tác động đáng kể đối với khả năng tiếp cận thị trường của các nhà nhập khẩu cũng như đời sốngngười nông dân
2 Trợ cấp xuất khẩu
Liên hệ trợ cấp nông sản khi gia nhập WTO tại Việt Nam
a) Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp
Cam kết trợ cấp nông nghiệp: Việt Nam cam kết áp dụng trợ cấp đối với hàng nông sản phù hợp với Hiệp định nôngnghiệp
b) Điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam khi gia nhập WTO
Hỗ trợ xuất khẩu: Chương trình trợ cấp dành cho các nhà xuất khẩu là miễn, giảm thuế trực tiếp, khấu trừ thuế căn cứvào tỷ lệ lãi suất phải chịu từ các khoản nợ ngân hàng; hỗ trợ tài chính trực tiếp, đặc biệt cho những nhà xuất khẩu lần đầu,những mặt hàng xuất khẩu đến các thị trường mới, thưởng xuất khẩu
Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xoá bỏ trợ cấp trực tiếp đối với hàng nông sản xuất khẩu
c) Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam khi tham gia hiệp định nông nghiệp
Cơ hội
Thứ nhất, cơ hội tiếp cận, mở rộng thị trường và
được đối xử bình đẳng trên thị trường quốc tế
Thứ hai, thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài, tiếp
cận khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới
Thứ ba tạo áp lực đổi mới, minh bạch chính sách
trong nước
Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh
Khó khăn, thách thức
Một là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt
Hai là nước ta phải điều chỉnh hệ thống, chính sáchnông nghiệp
Ba là tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môitrường trong điều kiện sản xuất trong nước còn nhiều hạnchế
3 Quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật
- Thách thức:
+ Với trình độ công nghệ, sản xuất lạc hậu hiện nay, buộc Việt Nam phải thay đổi để đảm bảo cho hàng hóa, dịch vụ cóthể vượt qua các rào cản phi thuế quan
+ Sự quản lý của nhà nước chưa tốt cũng là thách thức lớn đối với nước ta hiện nay
Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật của một số nước nhập khẩu đặt ra cho Việt Nam không ít thách thức: