Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chấ
Trang 1Câu 1: Phân tích quan điểm của chủ nghĩa duy vật Macxit về vật chất và ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người
Lênin – người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất
là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Định nghĩa trên thể hiện mấy nội dung sau:
Vật chất là một phạm trù triết học : Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày
Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất ) là cái có trước ( tính thứ nhất) còn “cảm giác” , (ý thức ) là cái có sau ( tinh thứ hai ) Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản ánh” Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất ) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm giác” (ý thức ) con người có thể nhận thức được Và “thực tại khách quan” (vật chất ) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức )
Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chất , tim ra những kết cấu mới , những thuộc tính mới và những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng vật chất của nhân loại
Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội Chủ nghĩa duy vật biên chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất
Y thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức là hình ảnh chủ
Trang 2quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý , vật chất như chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm
Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan , củng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tư giác , sáng tạo thế giới
Tính năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở việc con người thu nhận thông tin ,cải biến thông tin trên cơ sở cái đã có ,ý thức sẽ tạo ra tri thức mới về vật chất Ý thức có thể tiên đoán , tiên liệu tương lai , có thể tạo ra những ảo tưởng , những huyền thoại , những giả thiết khoa học … Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người ,song đây là sự phản ánh đặc biệt –phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới Quá trình ấy diển ra ở 3 mặt :sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh , mô hình hoá đối tượng trong tư duy hình ảnh tinh thần và chuyển vào mô hình hoá từ tư duy ra hiện thực khách quan hay gọi là hiện thực hoá mô hình tư duy-đây là giai đoạn cải tạo hiện thực khách quan Chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng ý thức không phải là hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà còn gọi là hiện tượng xã hội ý thức bắt nguồn từ thực tiển lịch sử xã hội , phản ánh những quan hệ xã hội khách quan Đây chinh là bản chất xã hội của ý thức
Quan điểm Mác xit cho rằng vật chất quyết đinh ý thức , ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc của con người Bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc –đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và thực tiển của xã hội
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thể hiện mấy quan điểm sau :
Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định những ước mơ phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử Chủ nghĩa xã hội khoa học đời củng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của cácmác
và Ăngghen
Do thưc tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người
Sự tác động trở lại theo hai hướng thúc đẩy hoặc kìm hảm thâm chí phá hoại sự phát triển bình thường của sự vật
Vai trò của ý thức là ở trổ nó chỉ đạo hoạt động của con người, hình thành mục tiêu , kế hoạch , ý trí biện pháp hoạt động của từng người Cho nên trong điều kiên khách quan nhất định ý thức – tư tưởng trở thành nhân tố quan trọng có tác dụng quyết định làm cho con người hoạt động đúng hay sai, thành công hay thất bại
Trang 3Sức mạnh của ý thức con người không phải ở trổ tách rời điều kiện vật chất thoát li điều kiện khách quan mà là biết dựa vào điều kiện vật chất đã có phản ánh đúng qui luật khách quan để cải tạo thế giới một cách chủ động sáng tạo và có hiệu quả “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan” (Lênin)
Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhân thức ,tác động cải tạo thế giới Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí
Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức , tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí ,bất chấp qui luật khách quan ,xa rời hiện thực , phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất
Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế ;về việc sử dụng các thành phần kinh tế …
Trong những năm 1976-1980 trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết đó là lực lượng sản xuất còn nhỏ
bé , chưa phát triển , còn chủ yếu là sản xuất nhỏ , lạc hậu , kinh tế hàng hoá chưa phát triển Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội mà không tính đến điều kiện thực tế của đất nước
Trong bố trí cơ cấu kinh tế ,trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư , thường chỉ xuất phát từ mong muốn đi nhanh , không tính đến điều kiện và khả năng thực tế đề ra những chỉ tiêu kế hoạch hoá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất
Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá
độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất
Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu ,yếu kém về lý luận ,do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp
Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiên đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng ” (VKĐH 6, trang 30 )
Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng ,phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất , của các qui luật tự nhiên và xã hội , không được xuất phát từ ý muốn chủ quan
Trang 4Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước heat đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận , nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đó
là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường , nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ
Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan
Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức Đảng ta xác định :
“Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan ) : “Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiện đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng “là khẳng định vai trò tích cực của ý thức trong việc chỉ đạo hành động con người Như vậy , từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất và ý thức , củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lảnh đạo cách mạng nước ta , Đảng ta đả rút ra bài học trên
Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước Hiện nay , trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng
ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng , tranh thủ đươc thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ ,do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại ,đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách
Câu 2: Làm rõ nguyên lý sự phát triển? ý nghĩa phương pháp luận?
Khái niệm: Đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về
lượng hay biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật,hiện tượng,là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa,nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật hiện tượng mới
Các tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển.Đó là quá trình bắt nguồn từ bản than sự vật hiện tượng,là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật hiện tượng Vì vậy phát triển là thuaacj tính tất yếu,khách quan,không phụ thuộc vào ý thức của con người
- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên,xã hội và tư duy
Trang 5- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng mỗi lĩnh vực có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng nhận thức thế giới và cải tạo thế giới
- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khác phục tư tưởng bảo thủ,trì trệ, định kiến,đối lập với sự phát triển
- Theo quan điểm phát triển,để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn,một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó vì vậy đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co,phức tạp của sự vật ,hiện tượng trong quá trình phát triển của nó
- Như vậy với tư cách là khoa học về mối quan hệ phổ biến và sự phát triển,phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Leenin giữ 1 vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức và thực tiễn.Khẳng định vai trò của phép biện chứng duy vật Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng,trong sự rang buộc,sự vận động,sự phát sinh,sự tiêu vong của chúng
Lần 2:
Câu 1 Trình bày quan điểm duy vật biện chứng về quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đôi về lượng của sự vật, hiện tượng và ngược lại, những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
a) Khái niệm chất, lượng
- Khái niệm chất
Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng Như vậy, tạo thành chất của sự vật, hiện tượng chính là các thuộc tính khách quan vốn có của nó nhưng khái niệm chất không đồng nhất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật, hiện tuợng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó thay đổi Việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản cua sự vật, hiện tượng phải tùy theo quan hệ cụ thể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trong quan hệ này là cơ bản thì trong quan hệ khác có thể là không cơ bản
Trang 6Mặt khác, chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành, mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua các mối liên hệ cụ thể Vì vậy, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất
và thuộc tính cũng chỉ có ý nghĩa tương đối Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà còn nhiều chất, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, hiện tượng, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó
- Khải niệm lượng Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của
sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Với khái niệm này cho thấy: một sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật, hiện tượng đó
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy Hai phương diện đó đều tồn tại khách quan Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vật, hiện tượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng
b) Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cùng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về ehất của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đển sự thay đổi về chất Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất Giới hạn
mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của
sự vật, hiện tượng Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Khi lượng thay đổi đền một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về chất Giới hạn đó chính là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điếm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi sự vật Đó là các bước nhảy: nhanh
và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát và tự giác, V.V
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một đường nút vô tận thể hiện cách thức vận động và phát triển cùa sự vật từ thấp đến cao Ph.Ăngghen khái quát tính tất
Trang 7yếu này: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất"
Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật Chất mới tác động tới lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất vả lượng Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút lất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
c) Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận thức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật, hiện tượng
- Vì những thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyển hóa thành những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và ngược lại Do đó, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng
để có thể làm thay đổi về chất: đồng thời, có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng
- Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu quy luật thì khi lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về chất của sự vật, hiện tượng Vì thế cũng cần phải khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc dù luợng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự biến hóa về lượng
- Vì bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, trong nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng tĩnh vực cụ thể Đặc biệt, trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất
Câu 2 Phân tích tính biện chứng giữa thực tiễn và lý luận? Ý nghĩa của vấn
đề này trong việc chống bệnh giáo điều và kinh nghiệm
Quan hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn Rút ra ý nghĩa phương pháp luận Liên hệ thực tiễn cách mạng Việt Nam
Trang 8Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những vấn đề quan trong của triết học Nhận thức đúng đắn và sâu sắc nội dung mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn
có ý nghĩa lớn lao đối với đời sống và sự phát triển của xã hội
- Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn:
Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận:
Khái niệm thực tiễn:
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thực tiễn là hoạt động nhận thức, hoạt động tinh thần Các nhà tôn giáo cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của những lực lượng siêu nhiên là thực tiễn Có nhà triết học duy vật trước Mác cho rằng: hoạt động thực nghiệm khoa học là thực tiễn Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đầy đủ
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Từ quan niệm này của triết học duy vật biện chứng về thực tiễn, chúng ta thấy thực tiễn có ba đặc trưng sau:
Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công
cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, đắp đê, cày ruộng,v.v…
Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định
Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn
Có ba hình thức thực tiễn cơ bản:
Một là, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người
Hai là, những hoạt động chính trị-xã hội Chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, mít tinh, biểu tình
Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức đặc biệt, bởi lẽ trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới
Ba hình thức thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất
- Khái niệm lý luận:
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những tri thức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống, nguyên lý, quy luật, phạm trù
Trang 9Lý luận có những đặc trưng :
Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ
Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận
Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất, hiện tượng
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật, làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó, con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp « vật liệu » cho nhận thức Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức Chính việc đo đạt ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp - La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago ra đời
Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói cách khác, thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức giải quyết Trên cơ sở đó, nhận thức phát triển
Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con người Chẳng hạn, thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác được rèn luyện Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn
Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc cho con người nhận thức hiệu quả hơn như kính thiên văn, máy vi tính đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó, thúc đẩy nhận thức phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ tưở mông muội, để sống, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn
Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức
Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng Thông qua quá trình đó, côn người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát
Trang 10triển Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn
Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng
để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng
Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm thực tiễn yêu cầu:
Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn của địa phương, của ngành và đất nước
Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành
Ba là, phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển
lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận
Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, coi thường,
hạ thấp lý luận) và bệnh giáo điều (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa
lý luận, coi thường và hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn; hoặc vận dụng kinh nghiệm của người khác, ngành khác, địa phương khác, nước khác không tính đến điều kiện thực tiễn
cụ thể của mình)
Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiện phương châm « nói đi đôi với làm » , tránh nói một đằng, làm một nẻo ; nói nhiều làm ít ; nói mà không làm
- Liên hệ thực tiễn cách mạng Việt Nam:
Những đường lối chủ trương cơ bản đúng đắn của Đảng đưa cách mạng Việt Nam
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác đã khẳng định sự vận dụng biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Những năm đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu, nghiên cứu sâu sắc truyền thống văn hóa dân tộc, học tập những tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt nghiên cứu thực tiễn của những cuộc cách mạng trong và ngoài nước, đúc kết thành những vấn
đề lí luận cơ bản cho đường lối cách mạng Việt Nam Xây dựng được mối quan hệ biện chứng ấy, Người đã tổ chức cách mạng, tập trung được lực lượng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội