ĐƯỜNG LỖ CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHƯƠNG II. ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (19301945) MỤC LỤC I. Hội nghị thành lập Đảng 3 II. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 4 III. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 6 IV. Chủ trương đấu tranh từ năm 1930 đến 1935 7 1. Hoàn cảnh lịch sử 7 a. Tình hình thế giới 7 b. Tình hình trong nước 7 2. Đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1930 – 1935 13 a. Hội nghị lần thứ nhất BCH TW lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (14 30101930) 13 b. Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng: 16 V. Chủ trương đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của đảng trong những năm 1936 1939: 18 VI. Chủ trương đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của đảng trong những năm 1939 1945: 20 1. Tình hình thế giới và trong nước 20 2. Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 21 VII. Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền 22 1. Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần 22 2. Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước 24 3. Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám 26 I. Hội nghị thành lập Đảng Đến cuối năm 1929, nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam Ngày 27101929, Quốc tế Cộng sản gửi những tài liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương .Quốc tế Cộng sản chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lập Đảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp: chỉ rõ mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế. Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Hương Cảng, Trung Quốc. Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng. Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm Năm điểm lớn, với nội dung: • Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản ở Đông Dương; • Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; • Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng; • Định kế hoạnh thực hiện việc thống nhất trong nước; • Cử một Ban Trung Ư
Trang 1CHƯƠNG II ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH
GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)
MỤC LỤC
I Hội nghị thành lập Đảng 3
II Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 4
III Ý nghĩa lịch sử - sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 6
IV Chủ trương đấu tranh từ năm 1930 đến 1935 7
1 Hoàn cảnh lịch sử 7
a Tình hình thế giới 7
b Tình hình trong nước 7
2 Đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1930 – 1935 13
a Hội nghị lần thứ nhất BCH TW lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (14 - 30/10/1930) 13
b Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng: 16
V Chủ trương đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của đảng trong những năm 1936 - 1939: 18
VI Chủ trương đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của đảng trong những năm 1939 - 1945: 20
Trang 21 Tình hình thế giới và trong nước 20
2 Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược .21 VII Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Trang 3Hội nghị thành lập Đảng
Đến cuối năm 1929, nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong
phong trào cộng sản ở Việt Nam
Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những tài liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương Quốc tế Cộng sản chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lập Đảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp: chỉ rõ mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế
Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Hương Cảng, Trung Quốc
Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng Hội nghị thảo luận đề nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm Năm điểm lớn, với nội dung:
Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản ở Đông Dương;
Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;
Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng;
Định kế hoạnh thực hiện việc thống nhất trong nước;
Cử một Ban Trung Ương lâm thời gồm chín người, trong đó
có hai đại biểu chi bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương Lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam
Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 4Quyết định ra báo, tạp chí của Đảng
Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời họp và ra Nghị quyết chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Như vậy, đến ngày 24-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn tất việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
II.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng
Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông
Về kinh tế: thủ tiêu hết các thứ Quốc trái; tịch thu toàn bộ sảnnghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng,…) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nôngbinh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8giờ
Về văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục theo công nông hóa
Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại
bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổđịa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến; phải làm cho các đoàn thể, thợ thuyền và dân cày khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức
Trang 5liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên[4], Tân Việt [5]…để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ.
Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạoViệt Nam Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp
Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp
Trở thành một bộ phận cách mạng thế giới
Tạo cơ sở cho những bước nhảy vọt sau này
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã qui tụ 3 tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản duy nhất- Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tưtưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trang 6Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp
Về quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Chủ tịch Hồ ChíMinh đã khái quát: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào côngnhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”
Tháng 10 năm 1929, khủng hoảng diễn ra sớm nhất ở Mĩ rồi lan sang các nước tư bản khác Khủng hoảng diễn ra ở tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính Cuộc khủng hoảng đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nề không chỉ kinh tế mà cả chính trị
và xã hội cho thế giới tư bản chủ nghĩa
Cuộc khủng hoảng ở các nước tư bản đã lan sang các xứ thuộc địa, nhân dân ở các nơi này phải chịu gánh nặng khủng hoảng của “chính quốc”
Tại Pháp, cuộc khủng hoảng diễn ra muộn hơn, nhưng lại hết sức mạnh và sâu sắc khủng hoảng công nghiệp xen kẽ khủng hoảng nông nghiệp và tài chính Sản lượng công nghiệp Pháp giảm sút 1/3, nông nghiệp giảm 2/5, ngoại thương giảm 3/5 thu nhập quốc dân giảm 1/3
Trang 7cuộc khủng hoảng, giới tư bản tài chính Pháp tìm cách trút hậu quả nặng
nề của nó lên đầu nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa (trong đó có Đông Dương)
b Tình hình trong nước
Kinh tế ở Việt Nam vốn đã bị phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp, nay trong cuộc khủng hoảng này lại càng phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn Chính quyền thực dân ở Đông Dương đã thi hành một loạt biện pháp kinh tế - tài chính
Nông nghiệp bị phá hoại nặng nề do giá nông sản bị sụt nhanh
chóng: giá gạo từ 13,1 đ/tạ năm 1930 xuống còn 3,2 đ/tạ năm 1933; giá cao su từ 20 france/kg năm 1929 xuống còn 4 france/kg năm 1931 Hàngngàn hécta đồng ruộng bị bỏ hoang, hàng trăm đồn điền bị thu hẹp diện tích hoặc ngưng hoạt động Từ năm 1930 - 1933 diện tích đất hoang hóa
từ 200.000 ha - 500.000 ha Sản xuất gạo giảm từ 1.797.000 tấn năm
1928 xuống còn 959.000 tấn năm 1931
Sản xuất công nghiệp cũng bị đình đốn, nhất là ngành khai mỏ
Hàng loạt nhà máy xí nghiệp đóng cửa, thương mại xuất nhập khẩu đều
bị sút giảm, trị giá xuất khẩu giảm từ 18.000.000 đồng Đông Dương (năm 1929) chỉ còn 10.000.000 đồng Đông Dương (năm 1934), hàng vạncông nhân và lao động bị sa thải hoặc nghỉ việc
Để góp phần giải quyết khủng hoảng kinh tế ở chính quốc và giữ cho Đông Dương trong quỹ đạo thực dân, thực dân Pháp cho ngưng lại cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II theo quy mô lớn đang diễn ra, đồng thời chúng khẩn trương áp dụng những biệp pháp cấp thiết ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Trước hết là việc Pháp cho thắt chặt hàng rào thuế quan, chỉ ưu
tiên cho hàng hóa Pháp vào Đông Dương, kiên quyết giành độc quyền thương mại ở thị trường này Hàng Pháp vào Đông Dương từ chỗ chỉ
Trang 8chịu mức thuế thấp nhất (2,5%) đến việc miễn thuế hoàn toàn, trong khi hàng các nước vào thị trường này chịu thuế ngày một cao, có thứ phải nộp thuế 100% giá trị hàng hóa.
Việc tăng thuế cũng là một biện pháp sớm được chú ý Thuế thân ở
Bắc Kỳ và Trung Kỳ tăng 20%, thuế môn bài tăng từ 3 - 8 lần Các biện pháp thu tài chính khác ở Đông Dương như mở công trái, lạc quyên, vay dài hạn… cũng được áp dụng, tất cả đã đem về cho ngân sách liên bang một nguồn thu lớn và tăng nhanh Chỉ tính năm 1930 có 17 khoản thu ngoài thuế đã đem về cho ngân sách 117.000.000 đồng Chính phủ Pháp còn quy định lại giá trị đồng bạc Đông Dương, tiến hành thu bạc cũ đổi bạc mới có lượng bạc kém hơn Chỉ tính khoản thu chênh lệch 7 gram/ đồng đã thu được 49.000.000 đồng
Đối với chủ tư bản người Pháp ở thuộc địa, chính quyền thực hiện
“trợ cấp tài chính” để giúp họ khỏi bị phá sản Một số nhà tư bản được hợp nhất lại cả vốn liếng vào quy mô kinh doanh, tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn để tồn tại và phát triển, nhất là trong các ngành trồng lúa, cao su,
cà phê Trong quan hệ chủ - thợ, chính phủ thực dân cho ban hành một
số quy chế lao động mới như chế độ lao động đới với phụ nữ, trẻ em, trách nhiệm vi phạm luật lệ lao động, hoà giải tranh chấp về lao động…, nhìn chung là các “qui chế” này chỉ nhằm bảo vệ cho giới chủ tư bản, góp phần xoa dịu bởi mâu thuẫn của giới lao động
*Về chính trị - xã hội, chính quyền thực dân ở Đông Dương thi
hành chính sách hai mặt Một mặt là đẩy mạnh các biện pháp văn hóa giáo dục, tuyên truyền lôi kéo người bản xứ, tranh thủ các tầng lớp
thượng lưu, tô vẽ cho cái gọi là “văn minh khai hóa”, đề cao tư tưởng chống cộng, coi chống cộng là một chủ thuyết trong các hoạt động chính trị - xã hội
Trang 9Mặt khác chúng thi hành chính sách khủng bố trắng một cách tàn bạo ở cả thành thị và thôn quê, nhất là từ sau khởi nghĩa Yên Bái tháng 2/1930 Bạo lực của chính quyền thực dân đã gây ra nhiều tổn thất cho các lực lượng yêu nước, nhưng địch vẫn không tạo được sự yên ổn về chính trị và trật tự xã hội, ngược lại nó chỉ làm ngột ngạt thêm không khí
ở thuộc địa, làm âm ỉ thêm trong lòng xã hội những ngọn lửa đấu tranh quyết liệt mà thôi
Trong các xưởng dệt ngày làm việc từ 7 giờ sáng đế 9 giờ tối, ở cácđồn điền công nhân phải làm việc từ 15 - 16 giờ một ngày…” Do đó cáctầng lớp lao động như nông dân, thợ thủ công, vô sản, cùng những ngườilàm nghề tự do ở cả thành thị và thôn quê, đều mong muốn đấu tranh cải thiện đời sống và chống lại xã hội thuộc địa
Song ngay cả trong giai cấp địa chủ, tư bản và tầng lớp thượng lưu bản xứ cũng có những bộ phận gặp nhiều khốn khó vì bị phá sản, bị chèn
ép, bị vỡ nợ bởi thuế má ngày một cao và không đủ sức cạnh tranh với tưbản Pháp Từ năm 1929 - 1933 ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn
có 502 vụ án khánh tận và 160 vụ án phát mãi tài sản
Đó cũng là lúc các thuộc địa nói chung, Đông Dương nói riêng, từ trong cùng cực của đời sống kinh tế, phải giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại bang bằng chính sức mạnh của mình Đông Dương trong cuộc khủng hoảng kinh tế không còn bình yên như trước nửa, đã trở thành mộtĐông Dương sôi động trong sự phân hóa của xã hội thuộc địa Điều kiện vật chất xã hội ấy là cơ sở cho sự phát triển các tư tưởng mới đang du nhập vào Việt Nam
Tư tưởng tư sản tiếp tục ăn sâu vào nhiều bộ phận xã hội nhưng kể
từ sau thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng, những bộ phận tích cực đi theo đường lối ấy bị thất bại và tan vỡ về tổ chức làm cho nhiều người mất phương hướng, một số đi theo đường lối cải lương thì được tán
Trang 10dương chủ thuyết Pháp - Việt đề huề, hoặc lao sâu vào con đường tiêu cực chống phá cách mạng giải phóng dân tộc Trong lúc đó tư tưởng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần chiếm ưu thế Sự xuất hiện Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu năm 1930 khác hẳn sự ra đời của các tổ chức chính trị đương thời, đã thu hút sự chú ý của đông đảo các giai tầng xã hội Sự tuyên truyền chống cộng đã phản tác dụng, vô hình chung lại đề cao chủng nghĩa Cộng sản Đó cũng là lúc hình ảnh nhà nước công - nông ở Liên Xô đang có sức thuyết phục khá lớn, nhiều dân tộc bị áp bứcđang mơ ước chế độ Xô - Viết… Như thế một thời kỳ đấu tranh cách mạng đi theo xu hướng mới đã xuất hiện.
* Khái quát về cao trào cách mạng 1930 – 1931
Ở Việt Nam từ năm 1930 trở đi, con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh bằng những cao trào rộng lớn Mở đầu chonhững bước phát triển mới là sự bùng nổ cao trào chống đế quốc phong kiến những năm 1930 - 1931, đỉnh cao là sự xuất hiện và tồn tại của các
Xô - Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Không phải là do “Cộng sản kích động” như các quan chức thực dân lúc ấy nhận định, cao trào cách mạng những năm 1930 - 1931 bùng nổ ngay sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, là hậu quả của những chính sách kinh tế - xã hội của thực dân Pháp ở Đông Dương trong giai đoạn này Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 đã kịp thời đưa ra đường lối phù hợp nhất với nguyện vọng đấu tranh của xã hội lúc đó, vì vậy Đảng Cộng Sản đã trở thành người lãnh đạo phong trào dân tộc
Bắt đầu là những cuộc đấu tranh ôn hòa ủng hộ các chiến sĩ Yên Bái, chống chính sách khủ bố trắng của Pháp, nổ ra từ tháng 2 - 4/1930 Phong trào được mở màn bằng các cuộc bãi công ở đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, lan nhanh ra khắp thành thị và thôn quê ở Bắc - Trung - Nam Qua đó các Đảng bộ địa phương được thống nhất về tổ chức, quần chúng
Trang 11công nông được tập hợp lại, tinh thần đấu tranh của nhân dân tiếp tục được hâm nóng lên và gây dựng phong trào thành phong trào mới.
Ngày 1/5/1930 nhân kỷ niệm Quốc Tế Lao động, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ động giành lấy việc phát động phong trào trên phạm vi toàn quốc với 2 lực lượng đông đảo nhất là vô sản và nông dân cờ đỏ búaliềm lần đầu tiên xuất hiện ở các thành phố lớn và nhiều vùng thôn quê Những cuộc mít - tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng kỷ niệm ngày 1/5được tổ chức thật rầm rộ Trong đó cuộc mít - tinh ở Vinh - Bến Thủy đã
bị thực dân Pháp đàn áp dã man Quần chúng rất căm phẫn, được nhân dân các vùng xung quanh ủng hộ, họ tiếp tục đấu tranh chống khủng bố Phong trào của công nông từ Vinh - Bến Thủy lan nhanh sang các huyện,tổng của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Với sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân theo lời kêu gọi của Xứ ủy Trung Kỳ Chỉ 3 tháng kể từ
1/5/1930 ở Nghệ An và Hà Tĩnh có 97 cuộc đấu tranh Đó là bước chuẩn
bị trực tiếp đưa phong trào ở đây lên đỉnh cao
Từ cuối tháng 8/1930 những cuộc biểu tình với quy mô lớn ở các vùng nông thôn 2 tình Nghệ An và Hà Tĩnh đã lôi kéo hàng chục ngàn người kết thành một khối, mít - tinh biểu tình, biểu dương lực lượng Cuộc đấu tranh nọ kế tiếp cuộc đấu tranh kia nổ ra không dứt và chuyển sang bạo động Ngày 30/8/1930, hơn 3 ngàn nông dân huyện Nam Đàn biểu tình kéo đến huyện lỵ phá huyện đường Ngày 1/9/1930, gần 20.000nông dân huyện Thanh Chương đấu tranh với khí giận ngút trời Ngày 7/9/1930 hơn 3000 nông dân huyện Can Lộc kéo vào huyện đường đốt
sổ sách, giấy tờ, sổ sách của chính quyền tay sai, phá nhà lao Ngày 12/9/1930, hơn 8.000 nông dân huyện Hưng Nguyên biểu tình và bị đàn
áp dã man tại ga Yên Xuân nhưng quần chúng vẫn không nao núng, họ càng tập họp đông hơn và xông lên tấn công vào hệ thống chính quyền địch ở cơ sở Quần chúng nông dân các vùng nông thôn được công nhân các nhà máy, xí nghiệp ở Vinh, Bến Thủy ủng hộ, đã biểu dương sức
Trang 12mạnh đoàn kết, lòng căm thù, ý chí quyết đấu đòi tự do cuộc sống Trongquá trình đó sự tàn bạo của kẻ thù càng làm cho nhân dân sôi sục.
Trước khí thế “xông lên chọc trời” của quần chúng cách mạng, chính quyền thực dân phong kiến ở nhiều nơi của Nghệ An - Hà Tĩnh đã
bị tan rã, hoặc tê liệt, bỏ chạy Trong tình hình đó các chi bộ Đảng và tổ chức Nông Hội Đỏ ở các thôn - xã đứng ra quản lý, điều hành mọi hoạt động trong địa phương thay thế vào vị trí các cơ sở chính quyền địch đã
bỏ trống Dựa theo những hiểu biết sơ lược về chính quyền Xô Viết ở nước Nga qua các tài liệu và báo chí của Đảng, người ta gọi các tổ chức vừa dựng lên là Xã Bộ Nông, Thôn Bộ Nông hoặc các Xô Viết Mặc dù còn sơ khai nhưng các Xô Viết Nghệ Tĩnh đã có thực chất là một chính quyền cách mạng của công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng tiên phong của nó Việc đập tan bộ máy chính quyền cũ, xây dựng bộ máy chính quyền mới, tổ chức một xã hội mới dân chủ tự do thật sự cho nhân dân lao động, tích cực bảo vệ chính quyền vừa giành được…, đó là những nhiệm vụ lớn lao mà các Xô Viết đã bước đấu thực hiện, nhất là các Đảng bộ ở đây chưa sẵn sàng, các điều kiện chủ quan, khách quan, thu thuận lợi của cách mạng cả nước chưa có, những việc làm tích cực đó còn là sự đột phá táo bạo Các Xô Viết ở Nghệ Tĩnh chỉ được tồn tại chưa đầy 8 tháng, kể từ tháng 9/1930, nhưng đã có nhiều cố gắng sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa
- xã hội Đó là những hoạt động bãi bỏ các thứ thuế vô lý, bất công; chia lại đất công cho nông dân nghèo kể cả nam và nữ; quy định lại tô tức; tổ chức sản xuất chung; trợ cấp gia đình thiếu túng; bài trừ phong tục tập quán lạc hậu; lập Đội Tự Vệ Đỏ; xây dựng các đoàn thể quần chúng… Chính bọn tay sai của thực Pháp cũng phải thừa nhận một thực tế trong các Xô Viết: “Họ chôn cất người chết, cấp tiền bạc cho gia đình người chết hoặc bị nạn trong các cuộc biểu tình, cho cả những người nghèo khổnữa Họ phát thuốc cho người ốm, xử các vụ kiện tụng Họ trừng trị
Trang 13những người nghiện thuốc phiện, nghiện rượu và cấm các hội hè cúng tế trong làng…”
Xô Viết Nghệ Tĩnh đã thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều lực lượng trong, ngoài nước lúc đó Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng Sản Đông Dương, cả nước dấy lên phong trào đấu tranh, ủng hộ Xô Viết,chống khủng bố trắng Nguyễn Ái Quốc và Quốc Tế Cộng Sản rất chú ý theo dõi và góp ý kiến cho những người cộng sản Đông Dương để bảo vệcác Xô Viết ở Nghệ Tĩnh Ở các nước Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ đã có nhiều hoạt động báo chí và xã hội ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh
Còn bọn thực dân phong kiến thì vô cùng hoảng sợ Chúng cho rằng “Từ khi nước Pháp đặt nền đô hộ trên đất nước này, chưa bao giờ
có một nguy cơ nào đe dọa sự an nguy nội bộ của mình lớn hơn, thực sự hơn” và nó “Rất trầm trọng… tầm rộng lớn của nó đã làm chúng ta sửng sốt…” Chính vì vậy từ Toàn quyền Đông Dương Pasquier, Khâm sứ Trung Kỳ Le Fol đến các lực lượng tay sai trong chính phủ Nam triều, đều trực tiếp đến Nghệ An - Hà Tĩnh để vạch kế hoạch bình định Sau đó
là hàng loạt biện pháp tàn bạo và nham hiểm cùng với các biện pháp lừa bịp của chúng đã được tung ra để đàn áp các Xô Viết
Đồn bót được dựng lên dày đặc, binh lính các nơi được điều động
về, bắn giết bắt bớ giam cầm là những hoạt động đầu tiên của những công cụ bạo lực mà chính quyền thực dân đối phó với phong trào quần chúng Các chính sách “Lấy quan nhà trị dân nhà”, “Buộc dân cày ra đầuthú” được đem ra áp dụng Chúng “Phát thẻ quy thuận”, tổ chức “Rước
cờ vàng”, chúng lập “Xã đoàn”, dùng sách báo tranh ảnh tuyên truyền vucáo nói xấu công sản… Trong thực tế lúc ấy địch chỉ cần dùng 1 biện pháp quân sự cũng thừa sức để đàn áp các Xô Viết ở Nghệ Tĩnh, nhưng chúng đã không từ một biện pháp nào kể cả các biện pháp kinh tế xã hội
và lừa mị để đánh phá cách mạng Đến giữa năm 1933 các Xô Viết NghệTĩnh lần lượt thất bại Tuy nhiên, đó không phải là sự thất bại của đường
Trang 14lối và phương pháp Cách mạng vô sản Xô Viết Nghệ Tĩnh và cả phong trào cách mạng 1930 - 1931 là minh chứng hùng hồn nhất cho truyền thống yêu nước, lòng dũng cảm kiên cường, sức sống mãnh liệt và sức sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam Nó khẳng định trong thực tế: Đường lối cách mạng, uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng, của giai cấp
vô sản Việt Nam Nó sáng tạo ra nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh mới cho cách mạng; đồng thời nó để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho những người yêu nước và cách mạng đang đấu tranh cho nền tự do và độc lập của Tổ quốc
Về vị trí của cao trào cách mạng này, Đảng ta đã đánh giá: “Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đấtnhững năm 1930 - 1931 trong đó công - nông đã vung ra nghị lực cách mạng phi thường của mình thì không thể có cao trào những năm 1936 - 1939” Cao trào đấu tranh cách mạng 1930 -1 931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, là “Bước thắng lợi đấu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng.”
2 Đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm
thức do Tổng bí thư Trần Phú đứng đầu.
*Luận cương chính trị
Trang 15Luận cương đã phân tích đặc điểm tình hình xã hội thuộc địa nửa
phong kiến và nêu lên những vấn để cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo
Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một
bên là thợ thuyển, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc
Luận cương vạch ra phương hướng cách mạng Đông Dương là:
lúc đầu cách mạng đông là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tính chất thổ địa và phản đế “tư sản dân quyền cách mạng là thời kì dự bị
để làm xã hội cách mạng”, sau khi cách mạng tư sản dân quyển thắng lợi
sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kì tư bổn mà tranh đấu để thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”
Luận cương khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh
đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hainhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khắn khít với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chũ nghĩa mới phá tan được giai cấp địa chủ, để tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa Trong hai nhiệm vụ này, luận cương xác định: vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, là cơ
sở để Đảng lãnh đạo dân cày Về lực lượng cách mạng luận cương chỉ
rõ, giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng tư sản dân
quyền vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, tư sản công nghiệpthì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì
họ sẽ theo đế quốc Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng; tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có