• Chính phủ hoàn thành Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo CPRGS với sự đóng góp lớn từ các bộ ngành và quan hệ đối tác; • Nhiều nhà tài trợ đã quyết định sử dụng CPRGS làm
Trang 1§−a Quan hÖ §èi t¸c vµo ho ¹t
Trang 2Lời cảm ơn
Báo cáo cập nhật này là sản phẩm của tinh thần làm việc tập thể và quan hệ đối tác ở Việt nam, và tập hợp các đóng góp của nhiều nhóm quan hệ đối tác của chính phủ-nhà tài tài trợ-tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, tất cả những người đang cùng làm việc để giúp Việt Nam đạt được những mục tiêu phát triển của mình, và để tăng cường việc điều phối và cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) Báo cáo này
được hoàn thành nhờ sự hợp tác, sự đóng góp và sự hỗ trợ tích cực của rất nhiều đối tác phát triển, bao gồm cả các cán bộ chính phủ, nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ Danh sách dưới đây cung cấp tên của những người liên hệ chính (không nhất thiết phải
là trưởng nhóm) của các nhóm đóng góp cho báo cáo này
Nhóm Làm việc về Dagmar Schumacher (UNDP); Alessandro Pi vấn đề nghèo/PTF (ADB); Nisha Agrawal (World Bank); Alan
Johnson (DFID); Mr Shimokawa (JBIC)
Cải cách DNNN và Cổ phần hóa Kazi Matin/Theo Larsen (World Bank)
Ngân hàng Kazi Matin/Theo Larsen (World Bank)
Thương mại Kazi Matin/Theo Larsen (World Bank)
Quản lý tài chính công Kazi Matin/Nguyen Van Minh (World Bank) Phát triển SMEs và Khu vực tư nhân Helen La Cour (UNIDO); Japan (Mr Ozawa) Giáo dục Mandy Woodhouse (Oxfam GB)/ Erik Bentzen
(UNICEF)/ Bill Tod (SCF-UK)/ Chris Shaw (World Bank)
HIV/AIDS Jordan Ryan (UNDP); Lisa Messersmith (Ford
Foundation) Nhóm CPRGS của Bộ NN&PTNN Bede Evans (FAO)
Forestry/5 MHaP Nguyen Van Kien (5MhaP); Wijnand van Ijssel
(Netherlands) Các xã nghèo nhất Chris Gibbs (World Bank)
Thiên tai Maurice Dewulf (UNDP); Niko Bakker
(Netherlands)
HCMC ODAP Mr Than (HCMC DPI)/Terry Standley (HCMC
ODAP)
Cải cách Hành chính công Rini Reza (UNDP)/ John Samy (ADB)
Steve Price-Thomas (World Bank) tổ chức thực hiện báo cáo này, điều phối các báo cáo chuyên đề vắn của các nhóm Quan hệ Đối tác Phát triển và là tác giả phần Giới thiệu và Tổng quan Nguyễn Thuý Ngân (World Bank) đã đóng góp tích cực cho việc thực hiện báo cáo
Báo cáo này có tại Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam, Tầng 1, 63 Lý Thái Tổ và tại www.worldbank.org.vn
Trang 3Mục lục
Giới thiệu 1
Nhóm Hành động chống nghèo đói 6
Giới 8
Nhóm Trợ giúp Quốc tế về Môi trường (ISGE) 11
Đô thị 13
Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước 16
Cập nhật Quan hệ Đối tác - Cải cách Ngân hàng 19
Cải cách Thương mại 25
Quản lý Tài chính công 28
Đẩy mạnh sự phát triển của SME và Khu vực Tư nhân 32
Giáo dục 35
HIV/AIDS 38
Nhóm làm việc về CPRGS của Bộ NN&PTNN 43
Quan hệ Đối tác Chương trình 5 triệu héc ta rừng 45
Quan hệ hợp tác hỗ trợ các xã nghèo nhất 47
Quan hệ Đối tác cho Giảm nhẹ Thiên tai ở miền Trung Việt Nam 48
Tài nguyên nước 50
Giao thông 53
Quan hệ Đối tác Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODAP) thành phố HCM 54
Cải cách Hành chính công 58
Đánh giá Nhu cầu Pháp lý (LNA) 62
Trang 4• Chính phủ hoàn thành Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo
(CPRGS) với sự đóng góp lớn từ các bộ ngành và quan hệ đối tác;
• Nhiều nhà tài trợ đã quyết định sử dụng CPRGS làm cơ sở và hướng dẫn cho những
kế hoạch hoạt động của mình; và,
• Tiến bộ của chính phủ và của nhóm các nhà tài trợ song phương “cùng quan điểm”
và những đối tác khác trong việc đơn giản hóa và hài hoà hóa các thủ tục ODA Nhiều nhóm quan hệ đối tác phát triển ở Việt Nam đã làm việc trong suốt 6 tháng qua để đảm bảo là những mối quan tâm của ngành của họ được phản ánh đầy đủ trong CPRGS, trong khi vẫn cố gắng hoàn thành những mục tiêu phát triển đã đề ra trong báo cáo “Đưa quan hệ đối tác vào hoạt động ở Việt Nam” (Cuộc họp Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 12/2001) Báo cáo lần này bao gồm những báo cáo vắn chuyên đề của nhiều quan hệ đối tác phát triển trả lời những “câu hỏi chính” được trình bày trong Hộp 1 Cần lưu ý rằng chỉ có một số quan hệ đối tác được lựa chọn để cung cấp báo cáo cập nhật hằng năm Việc không có mặt trong báo cáo này không có nghĩa là những quan hệ đối tác khác không có hoạt động gì
Hộp 1: Ba “Câu hỏi chính“ được trả lời trong các Báo cáo vắn về Quan hệ Đối tác
1 Trong vòng sáu tháng qua, quan hệ đối tác của bạn đã có những tiến bộ cụ thể nào để:
• đạt được những tiêu chí thành công nêu trong báo cáo “Đưa Quan hệ Đối tác vào hoạt động ở Việt Nam” (Báo cáo cho CG 2001), và
• hỗ trợ các chiến lược và chương trình của ngành, và CPRGS?
2 Trong vòng sáu tháng tới, nhóm của bạn sẽ có những hành động cụ thể gì, nhằm điều
chỉnh sự hỗ trợ của các nhà tài trợ theo CPRGS?
3 Các tiêu chí thành công đã sửa đổi lại của nhóm bạn cho tháng 12/2002, nhằm đảm bảo
là nhóm của bạn sẽ đạt được những kết quả phát triển và CPRGS sẽ được thực hiện một
cách hiệu quả?
Trang 5Giới thiệu
•
Hộp 2: Ví dụ về những hoạt động của nhóm Quan hệ Đối tác trong 6 tháng qua
Nghèo đói
• Chính phủ hoàn thành CPRGS với sự hỗ trợ của PTF
• 6 cuộc tham vấn cấp làng xã, và 7 hội thảo tham vấn khu vực đã được thực hiện cho CPRGS
• một cuộc hội thảo với đại biểu của 6 nước nhằm trao đổi kinh nghiện về chiến lược giảm nghèo quốc gia đã được tổ chức
Giới
• Thủ tướng thông qua chiến lược quốc gia 10 năm
• Tỷ lệ phụ nữ trong chính phủ đã được luật pháp hóa (ít nhất 30% đại biểu quốc hội là nữ)
• Đào tạo cho hơn 200 phụ nữ ra ứng cử quốc hội lần đầu
Môi trường
• Nhóm ký Ghi nhớ chính thức vào tháng 5/2002
• Hỗ trợ cho việc đưa môi trường vào trong CPRGS
Diễn đàn đô thi
• Nhóm chuyên trách về nghèo đói đô thị được thành lập và đóng góp vào quá trình soạn thảo CPRGS
• Phương pháp tiếp cận một cửa đã sẵn sàng cho việc áp dụng toàn quốc; dự kiến sẽ được thông qua vào tháng 6/2002
Cải cách DNNN và Cổ phần hóa
• Huy động viện trợ kỹ thuật
• Năng lực thực hiện chung của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Cải cách và Phát triển Doanh nghiệp được củng cố
Cải cách Ngân hàng
• Hai tiểu ban về cải cách ngân hàng trung ương và cải cách tín dụng nhỏ được thành lập
• Phân tích và đánh giá hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính phi ngân hàng đã được khởi xướng và
đưa ra thảo luận
• Chi tiết của chương trình cải cách ngân hàng nhiều năm được phản ánh rõ trong CPRGS
• Thủ tướng thông qua Chiến lược ngành giáo dục cho đến 2010
• Giáo dục được chọn để làm thí điểm cho việc thử nghiệm cơ chế cấp ngân sách theo kết quả cho FY2003
• UNESCO hỗ trợ Bộ GD&ĐT điều phối khuôn khổ EFA và các kế hoạch hành động
Trang 6Giới thiệu
Hộp 2: Ví dụ về những hoạt động của nhóm Quan hệ Đối tác trong 6 tháng qua (tiếp theo)
Quản lý tài chính công
• Mức độ minh bạch ngân sách tăng lên
• Thí điểm ngân sách cả gói cho Thành phố HCM được áp dụng ở nơi khác
• Luật ngân sách được sửa đổi lại
Chương trình 5 triệu héc ta rừng
• Hình thành cơ cấu Quan hệ Đối tác (PSC, TEC, Văn phòng điều phối FSSP)
• Hội thảo nghiên cứu rừng tổ chức tháng 11/ 2001
• Hội thảo đào tạo lâm nghiệp tổ chức tháng 3/2002
Quan hệ Đối tác hỗ trợ các xã nghèo nhất (PAC)
• Một khoản viện trợ $415,000 từ ASEM II đã được thông qua để hỗ trợ việc điều phối và phân tích sự phát triển hướng vào cộng đồng ở Việt Nam; viện trợ này sẽ do MPI quản lý và do PAC định hướng (đang chờ phê duyệt của Chính phủ)
Nhóm chuyên trách CPRGS của Bộ NN&PTNN
• Thành lập Nhóm chuyên trách và Nhóm chuyên gia
• Đóng góp cụ thể và quan trọng cho CPRGS
Tài nguyên nước
• Quan hệ Đối tác ngành nước Việt Nam (VNWP) hình thành vào ngày 4/2/ 2002
• Đánh giá chung về nhu cầu đào tạo và chuẩn bị kế hoạch đào tạo
• Đã chuẩn bị được điều khoản tham chiếu và chương trình hành động 2002-2003 Đã xác định các nghiên cứu về những chính sách quan trọng
• Chính phủ thực hiện nhiều hành động để xúc tiến PAR
• Ban chỉ đạo PAR được mở rộng; chương trình hành động được xúc tiến
Nhu cầu pháp lý
• Các nhu cầu phát triển pháp lý chính được xác định và phân tích rõ
• Chiến lược phát triển dài hạn được soạn thảo kỹ
• Đặt ra chương trình hành động để thực hiện chiến lược
• Đề xuất khuôn khổ ODA hỗ trợ cho việc thực hiện chương trình hành động
Phát triển SMEs và khu vực tư nhân
• Việc ban hành Nghị định Hỗ trợ Phát triển SME ngày 23/11/2001 và Quyết định Số cho quỹ bảo đảm tín dụng SME ngày 20/12/2001 đã thúc đẩy các thảo luận của các nhà tài trợ về việc làm thế nào để xúc tiến các hoạt động của quan hệ đối tác
• Một loạt các hội thảo chính về chính sách hỗ trợ SME/Khu vực tư nhân đã được tổ chức
Trang 7Giới thiệu
Chia sẻ viễn cảnh: tiến tới thực hiện CPRGS
Sự hợp nhất xung quanh CPRGS như một chiến lược chính định hướng cho ODA
là một sự hợp nhất xuất sắc, và đang thách thức sự đáp ứng từ cộng đồng ODA và quan hệ
đối tác Mỗi nhà tài trợ, NGO và chính phủ sẽ phải làm việc với một ý thức sâu sắc và bền bỉ hơn về quan hệ đối tác, chuẩn bị cơ sở bằng cách điều chỉnh chương trình cho phù hợp với CPRGS Sự cần thiết của việc phải tránh trùng lắp và giảm các khoảng trống trở nên lớn hơn khi mà CPRGS trở thành chiến lược chung cho ODA ở Việt Nam: nếu không, CPRGS sẽ không thực hiện được hết tiềm năng của mình
Nhiều nhóm đối tác đã nhận ra rằng trong khi làm việc để ảnh hưởng đến CPRGS,
và bây giờ là thực hiện CPRGS, họ đang tiến dọc theo “Hành trình Quan hệ Đối tác”, đi qua 6 giai đoạn khác nhau - (i) chia sẻ thông tin và hiểu nhau; (ii) một sự chẩn đoán kỹ thuật chung; (iii) thống nhất về nguyên tắc tìm ra giải pháp; (iv) cùng phát triển một chương trình hành động cụ thể; kết quả là (v) làm rõ các nhiệm vụ và nguồn tài trợ, và (vi) giám sát và đánh giá kết quả, và phản hồi
Tiếp nhận sự thách thức: tiến tới hài hoà hóa
Vì các kế hoạch hoạt động của mỗi nhà tài trợ đang được điều chỉnh dần cho phù hợp với CPRGS – một sự hài hoà hóa các chiến lược của đất nước thành một chiến lược duy nhất, chiến lược của chính phủ – một số nhà tài trợ đang tìm cách hài hòa hóa các thủ tục quản lý và cung cấp ODA Chính phủ đóng vai trò chủ trì trong lĩnh vực này, ít nhất là thông qua việc thực hiện Nghị định 17 (về quản lý ODA) và quyết định 64 (về quản lý nguồn vào từ các tổ chức phi chính phủ quốc tế) Chính phủ cũng khuyến khích một số sáng kiến đang được thực hiện, bao gồm cả sáng kiến về nhóm các nhà tài trợ song phương “cùng quan điểm”, nằm trong những cố gắng chung của Cộng đồng Trợ giúp Phát triển toàn cầu DAC, và một sáng kiến mới sẽ được thử nghiệm ở Việt Nam, với những cố gắng ban đầu tập trung vào việc hài hòa hóa giữa các ngân hàng phát triển
Trong khi quan hệ đối tác và các nhà tài trợ có rất nhiều viễn cảnh về chi phí và lợi ích của việc hài hoà hóa các thủ tục ODA ở cấp quốc gia, có lẽ những người lựa chọn khởi đầu cho cố gắng này sẽ tập trung vào một số lĩnh vực trong đó có thể thực hiện những tiến bộ cụ thể, đó là:
• Tăng cường và khai thác sự phối hợp trong xác định, xác định phạm vi, đặt chương trình, và chuẩn bị các công tác phân tích;
• Sử dụng CPRGS như một khuôn khổ chiến lược trong xác định lĩnh vực ưu tiên cho công việc phân tích;
• Cố gắng hài hòa hóa các hướng dẫn cho các công việc phân tích quốc gia, và các sắp xếp để đảm bảo chất lượng;
• áp dụng các thủ tục chung cho việc xác định dự án và sử dụng các mẫu tiêu chuẩn cho đề xuất dự án và nghiên cứu tiền khả thi;
• áp dụng đào tạo chung cho các Ban quản lý dự án/ Ban thực hiện dự án trong việc thực hiện dự án, kiểm soát và giám sát
• Hài hòa hóa các phương pháp báo cáo và kiểm toán, các tiêu chuẩn quản lý tài chính cho dự án, ngành và hỗ trợ ngân sách;
Trang 8• Điều chỉnh việc giám sát và đánh giá cho phù hợp; và
• Tăng cường sự hợp tác trong Đánh giá Danh mục Dự án quốc gia
Nhìn về phía trước: sáu tháng tới
Trong các báo cáo chuyên đề vắn tạo thành nội dung chính của báo cáo này, trong khi đánh giá lại các tiến bộ đạt được, mỗi nhóm quan hệ đối tác cũng đặt ra kế hoạch và tiêu chí thành công cho nửa sau của năm 2002 Phương thức tiếp cận mà quan
hệ đối tác đã thực hiện ở Việt Nam đang ngày càng được công nhận là một kinh nghiệm tốt cho toàn cầu: thách thức bây giờ chính là dựa vào đó để đạt được những kết quả phát triển theo một phương cách phù hợp nhất, hiệu quả nhất và tốn ít thời gian nhất Việc các nhóm quan hệ đối tác đang giúp hiện thực hóa việc này như thế nào sẽ được trình bày ở những trang sau đây
Trang 9Nhóm hành động chống nghèo đói
Nhóm Hành động chống nghèo đói
Tiến bộ trong 6 tháng qua
1 Nhóm hành động chống nghèo đói đã có những tiến bộ đáng kể trong việc đạt
được những tiêu chí thành công xác định trong “Thực hiện Quan hệ Đối tác (2001)”, như tổng kết trong bảng dưới đây Tất cả các hoạt động đều nhằm hỗ trợ Chiến lược Toàn diện
về Tăng trưởng và Giảm nghèo của Chính phủ (CPRGS)
Sửa lại và hoàn thiện
8 nghiên cứu chuyên
đề về mục tiêu phát
triển của Việt Nam
1/2002 ADB, DFID, UNDP,
WB, JBIC
Các bản thảo đã gần hoàn thiện; nhiều mục tiêu phát triển của Việt Nam đã được nhóm soạn thảo của MPI đưa vào CPRGS; việc hoàn thành các chuyên đề sẽ được thảo luận tại cuộc họp ngày 17/5/2002
Hỗ trợ MPI thực hiện
14 cuộc hội thảo
tham vấn về CPRGS
12/2001 – cuối tháng 3/2002
ADB, WB, GTZ, SCF (UK), ActionAid, Oxfam GB, CRS, Plan International
6 cuộc tham vấn cấp cơ sở đã
được thực hiện vào tháng 12/1; 8 cuộc hội thảo khu vực/quốc gia đã được thực hiện từ tháng 2-4/2002
Hỗ trợ MPI hoàn
thành CPRGS
(hỗ trợ kỹ thuật)
Tháng 11/2001 – tháng 4/2002
UNDP, DFID, IMF,
WB Theo dự kiến CPRGS sẽ được trình Thủ tướng phê duyệt vào
tháng 5/2002 và được giới thiệu ở Cuộc họp giữa kỳ của Nhóm tư vấn các nhà tài trợ vào tháng 5/2002
Tổ chức hội thảo khu
bổ sung cho 6 nươc trong khu vực về vấn đề đưa giới vào tài liệu chiến lược giảm nghèo quốc gia đã được tổ chức vào tháng 3/2002
Tiếp tục hỗ trợ GSO hoàn thành chiến lược khảo sát hộ gia đình
Ba cuộc hội thảo về
các lỗi không do mẫu Tháng 11/2001 WB Hai cuộc hội thảo đã được tổ chức vào tháng 11/2001 tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (cuộc hội thảo dự kiến thứ ba đã được kết hợp vào hai hội thảo này)
Khảo sát thử nghiệm Tháng 10/2001 WB, UNDP Do GSO thực hiện; hoàn
thành vào tháng 12/2001 Thực hiện hai vòng Tháng 1 và UNDP, SIDA, WB Vòng đầu đã hoàn thành vào
Trang 10Nhóm hành động chống nghèo đói
đầu của Khảo sát hộ
gia đình đa mục tiêu
điều chỉnh kế hoạch hoạt
động của họ cho phù hợp với CPRGS
2 Ngoài ra, các thành viên của PTF còn làm việc với rất nhiều nhà tài trợ và các bộ ngành để đảm bảo là mối quan tâm của các ngành sẽ được phản ánh một cách đầy đủ tới nhóm soạn thảo CPRGS Việc này bao gồm cả sự hỗ trợ cho các nhóm CPRGS của từng
bộ ngành
Kế hoạch và tiêu chí thành công cho 6 tháng tới
3 Trong vòng 6 tháng tới, mục tiêu chung của Nhóm hành động chống nghèo đói là
hỗ trợ công việc của Ban thư ký CPRGS Theo kế hoạch Ban thư ký sẽ do chính phủ thành lập để quản lý việc thực hiện CPRGS PTF cũng xem xét các phương thưc hỗ trợ cho việc giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện CPRGS
4 Các tiêu chí thành công chính của PTF sẽ liên quan đến việc thực hiện, giám sát
và đánh giá CPRGS, sẽ được thực hiện cho đến Cuộc họp Nhóm tư vấn các nhà trợ vào cuối 2002 Các hoạt động cụ thể cho 18 tháng tới bao gồm:
Hố trợ chính phủ thực hiện CPRGS
Thỏa thuận và bắt đầu thực hiện một chương trình hỗ trợ cho Ban Thư
ký của CPRGS (các hoạt động sẽ được xác định theo yêu cầu) Tới tháng 12/2002 Hoàn thành các nghiên cứu chuyên đề VDT Tháng 6/2002
Hỗ trợ chính phủ trong đưa CPRGS vào kế hoạch (hành động) kinh tế xã
hội và kế hoạch hàng năm của các ngành để thực hiện Tới tháng 12/2003
Hỗ trợ chính phủ phát triển các CPRGS cho các khu vực Tới tháng 12/2003 Nghiên cứu phát triển vùng đồng bằng sông Cửu long (bao gồm cả các
Hỗ trợ GSO trong vòng 4 của VLHSS bao gồm cả các câu hỏi thử
nghiệm về quản trị nhà nước và có thể là những ý kiến nhận xét về dịch
vụ công
10/2002
Hỗ trợ GSO trong phát triển chiến lược khảo sát doanh nghiệp 12/2002
Trang 11Giới Giới
1 Nhóm Quan hệ đối tác về giới mới xem xét lại mục tiêu và phương thức hoạt
động của mình nhằm củng cố sự hỗ trợ của nhóm cho sự bình đẳng giới ở Việt Nam Một cuộc hội thảo mới đây của các thành viên Nhóm quan hệ đối tác về giới, bao gồm cả đại diện của Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, đã thống nhất là nhóm sẽ thu hẹp phạm vi tập trung của mình, tạo điều kiện cho các cơ hội học tập nhằm khám phá các ví dụ về “những thực tiễn tốt” trong lồng ghép giới ở Việt Nam, hỗ trợ các nhóm làm việc về những vấn đề cụ thể, và tăng cường các cố gắng hai bên để hỗ trợ và gây ảnh hưởng tới đối thoại và chính sách giữa chính phủ và các đối tác
Những kết quả chính trong 6 tháng qua nhằm đạt được các tiêu chí đề ra trong
“Đưa quan hệ đối tác vào hoạt đông ở Việt Nam“ (CG, tháng 12/2001)
2 Ngày 21/1/2002, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ra quyết định số TTg thông qua Chiến lược quốc gia cho sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam tới năm 2010 Chiến lược này có 5 mục tiêu bao gồm lao động và việc làm, giáo dục, y tế, sự tham gia vào công tác lãnh đạo và ra quyết định, và củng cố năng lực lồng ghép giới Một buổi lễ phát động đã được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 1/2/2002 Bà Hà Thị Khiết, Chủ tịch Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đã thông qua kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ thứ hai (POA2 2001-2005) Hiện nay kế hoạch này đang được dịch và chuẩn bị in ấn và xuất bản Các uỷ ban vì sự tiến bộ của phụ nữ của của hơn 50
19/2002/QS-bộ ngành trung ương đã tổ chức hội thảo định hướng xúc tiến chiến lược hành động quốc gia
3 Tiếp theo sau việc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành công trong đề xuất là Quốc hội phải bao gồm ít nhất 30% đại biểu nữ, lần đầu tiên tỷ lệ phụ nữ tham gia vào chính phủ đã được pháp lý hóa (trong luật bầu cử) Tiếp theo quyết định này các tờ rơi
đã được phân phát rộng rãi cho các cử tri nhằm tăng mức độ hiểu biết đối với tầm quan trọng của việc phụ nữ tham gia vào Quốc hội và tham gia vào việc vạch ra phương hướng chính sách của Đảng và Nhà nước
4 Dự án 3 năm của Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ-UNDP-Hà Lan VIE-01-015-01 Hỗ trợ Cơ cấu Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ nhằm đưa giới vào kế hoạch và chính sách quốc gia đã được thông qua vào 8/2/2002 Nhằm hỗ trợ mục tiêu của Việt Nam trong việc tăng số phụ nữ trong Quốc hội khóa 11 lên 30%, dự án đã tổ chức một hội thảo quốc gia 4 ngày cho hơn 200 ứng cử viên đại biểu quốc hội nữ đầu tiên để chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội sẽ được tổ chức vào ngày 19/5/2002 Dự án
đã hỗ trợ rất tích cực những cố gắng của Nhóm chuyên trách về CPRGS của NCFAW nhằm củng cố sự tập trung vào vấn đề giới của CPRGS
5 Về Khuôn khổ chung về giới của chính phủ-nhà tài trợ (JGDGF), NCFAW
đang xem xét khả năng hợp tác giữa dự án của NCFAW và dự án Củng cố việc giám sát và đánh giá Việt Nam – Australia của MPI (VAMESP) Nếu có thể thỏa thuận
được, thì mục tiêu của việc hợp tác này sẽ là đưa giới vào Hệ thống Quản lý Giám sát
và Đánh giá ODA quốc gia, hiên đang được xây dựng Sự hợp tác giữa hai dự án có thể đạt được lợi ích cho cả hai bên trong việc củng cố hệ thống giám sát và đánh giá ODA thông qua bổ sung khía cạnh giới và tạo cho NCFAW và chính phủ một cơ chế
Trang 126 NCFAW đã rất chủ động tiến hành các tham vấn và phân tích nhằm bảo đảm
là các khía cạnh giới mang tích đặc thù riêng của quốc gia được đưa vào CPRGS, và các chiến lược và mục đích của CPRGS đặt mức độ ưu tiên cao cho những can thiệp và kết quả đáp ứng nhu cầu của cả phụ nữ và nam giới, và có đóng góp cho việc giảm mức độ bất bình đẳng giới Những hoạt động chính bao gồm thành lập một Nhóm chuyên trách CPRGS với sự tham gia của NCFAW và Hội Liên hiệp Phụ nữ, các cuộc tham vấn rộng rãi từ cấp cơ sở tới quốc hội, tham gia vào Hội thảo Khu vực về đưa vấn
đề giới vào Chiến lược Giảm nghèo của Ngân hàng Thế giới, và ngay tại hội thảo này, thảo ra kế hoạch hành động nhằm đưa giới vào CPRGS, tổ chức một cuộc họp bàn tròn với Nhóm soạn thảo CPRGS của MPI để thảo luận những vấn đề giới quan trọng, và chuyển những đề xuất nhằm củng cố mức độ tập trung vào vấn đề giới trong CPRGS Tầm quan trọng của những chỉ số giới nhạy cảm, và cơ chế giám sát và đánh giá dựa trên những số liệu phân chia theo giới và những phân tích hộ gia đình là những đề xuất
có mức độ ưu tiên cao
Kế hoạch hành động trong sáu tháng tới để các nhà tài trợ có thể điều chỉnh sự trợ giúp cho phù hợp với CPRGS
7 Những đề xuất nhằm củng cố mức độ tập trung vào giới của CPRGS phù hợp với những mục tiêu và chiến lược của Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
đến năm 2010 và với POA2 Sau khi bản thảo cuối cùng của CPRGS được thủ tướng thông qua, NCFAW và nhóm quan hệ đối tác về giới dự kiến sẽ đánh giá lại các mục tiêu chính sách, chiến lược về giới chính trong CPRGS và đưa ra các đề xuất là các nhà tài trợ nên làm thế nào để điều chỉnh sự hỗ trợ của mình cho phù hợp với CPRGS một cách tốt nhất cho
Các tiêu chí đã được sửa đổi cho tháng 12/2002 - để đảm bảo Nhóm quan hệ đối tác về giới đạt được những kết quả phát triển và CPRGS được thực hiện một cách hiệu quả
8 Nhóm quan hệ đối tác về giới đã tự củng cố trách nhiệm và hoạt động hiệu quả trong việc hỗ trợ những cố gắng giành cho bình đẳng giới thông qua các hoạt động mang tính đào tạo, các tiểu nhóm chuyên trách, và các đối thoại chính sách tốt hơn giữa các đối tác và chính phủ
9 Các mục đích, mục tiêu và hành động trong Chiến lược quốc gia, POA, và CPRGS đã được phổ biến rộng rãi trong các cuộc hội thảo định hướng, và những lĩnh vực trách nhiệm chính cho các đối tác và chính phủ được xác định rõ
Trang 13Giới
10 Các tiểu ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các bộ, ban ngành trung ương, và các tỉnh được đào tạo và hỗ trợ để soạn thảo các POAs phù hợp với mục tiêu của mỗi ngành
11 JGDGF – sự hợp tác giữa NCFAW và dự án VAMESP nhằm đưa vấn đề giới vào Hệ thống Giám sát và Đánh giá ODA Quốc gia MPI bắt đầu triển khai có tham vấn với Nhóm quan hệ đối tác về giới
12 Sự hiểu biết của các nhà chính sách, lãnh đạo và các nhóm mục tiêu chính về quan hệ giữa bình đẳng giới, giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế được tăng lên qua những khóa đào tạo cho các đại biểu quốc hội, phát triển chương trình của Học viện Chính trị Hồ Chí Minh, và Hội thảo thông tin quốc gia nhằm tăng cường mức độ nhạy cảm về giới của các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 14Môi trường
Nhóm Trợ giúp Quốc tế về Môi trường (ISGE)
Tiến độ đáp ứng tiêu chí thành công, hỗ trợ cho chiến lược ngành và CPRGS
1 Biên bản Ghi nhớ (MoU) của Nhóm Trợ giúp Quốc tế về Môi trường (ISGE) được
ký kết ngày 9/5/2002 MoU đưa ra khung chính thức hóa việc thực hiện chương trình hỗ trợ quốc tế về môi trường cho đối tác tham gia ký kết và kêu gọi các tổ chức trong nước
và quốc tế cam kết trợ giúp cho ngành môi trường của Việt Nam Do công tác bảo vệ môi trường liên quan đến nhiều ngành, vì vậy vấn đề hết sức quan trọng là phải đảm bảo sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan Mặc dù việc ký kết MoU chậm hơn so với dự kiến, nhưng kết quả đạt được lại vượt quá sự mong đợi 8 bộ ngành và 13 nhà tài trợ cùng tham gia ISGE, ngoài ra nhiều đối tác khác cũng thể hiện mong muốn ký kết MoU Sự hỗ trợ to lớn này thật đáng khích lệ bởi đó chính là cơ sở tăng cường sự phối hợp và gắn kết giữa các bên tham gia trong lĩnh vực môi trường
2 Quan hệ đối tác của ISGE cho thấy khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu của Chính phủ trong quá trình CPRGS ISGE đã huy động tài trợ để giúp Cục Môi trường (NEA) thiết lập nhóm công tác đặc biệt tiến hành đánh giá CPRGS và đề xuất biện pháp cải tiến sự lồng ghép các vấn đề về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường trong tài liệu CPRGS Ngoài ra, trong khuôn khổ ISGE, 3 hội nghị tư vấn bàn tròn đã được thực hiện nhằm tìm cách tăng cường vai trò của môi trường trong phát triển bền vững CPRGS Các hoạt động cụ thể trong 6 tháng tới và hỗ trợ cho CPRGS
3 Mục tiêu của ISGE là hỗ trợ việc thực hiện Chương trình Quốc gia về Bảo vệ Môi trường 2001-2010 và Kế hoạch Hành động Môi trường 2001-2005 Trong số những rào cản gây trở ngại cho quá trình thực hiện thì vấn đề nổi cộm nhất đó là có ít mối liên kết giữa kế hoạch phát triển ngành và chiến lược phát triển quốc gia dài hạn Nhiệm vụ đầy thách thức đặt ra là phải đảm bảo Chính phủ có đủ năng lực điều chỉnh chiến lược và kế hoạch hành động ngành theo hướng phù hợp với mục tiêu chung của CPRGS là thúc đẩy tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đồng thời thực hiện khuyến nghị của Chương trình Nghị sự Quốc gia 21
4 Trong vòng 6 tháng tới, ISGE sẽ triển khai hoạt động của ban thư ký và tập trung vào các hoạt động phối hợp và chia sẻ thông tin Hoạt động của các tiểu nhóm hoặc quan
hệ đối tác thí điểm sẽ là động lực chính thúc đẩy ISGE Quan hệ đối tác thí điểm chứa
đựng các chương trình công tác liên quan đến những vấn đề cần được ưu tiên Quan hệ đối tác thí điểm đầu tiên của ISGE đã được khởi động là Phát triển Thể chế Môi trường Trên cơ sở kinh nghiệm của quan hệ đối tác thí điểm này, các quan hệ đối tác khác sẽ được hình thành
5 Dự kiến các hoạt động hỗ trợ CPRGS và Chương trình Nghị sự Quốc gia 21 cũng
sẽ được xác định trong khuôn khổ quan hệ đối tác của ISGE
Trang 15Môi trường
Tiêu chí đánh giá thành công đã được sửa đổi của tháng 12/2002
Mục tiêu Hoạt động dự kiến
Nâng cao nhận
thức về các dự án
môi trường và phát
triển bền vững
a) Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về tất cả các dự án môi trường
b) Xuất bản đĩa CD ROM chứa đựng thông tin về các dự án môi trường
c) Xây dựng danh mục thư điện tử tất cả các dự án môi trường đang thực hiện phân loại theo địa điểm, chủ đề và nhà tài trợ
d) Phổ biến bản tin môi trường hằng quý đầu tiên
e) Thiết lập trang web ISGE
f) Chuẩn bị bản tóm tắt hằng tháng các hoạt động môi trường
g) Chuẩn bị Ngày Môi trường Thế giới trong đó tập trung nội dung phát triển bền vững
h) Hỗ trợ Chính phủ chuẩn bị cho WSSD ở Johannesburg
Triển khai quan hệ
đối tác thí điểm Tăng cường Thể chế Môi trường là quan hệ đối tác thí điểm đầu tiên được khởi động Đây sẽ là bài học kinh nghiệm để xây dựng các quan hệ đối tác thí điểm
Trong năm 2002, ISGE cần dần dần đảm nhận thêm trách nhiệm trong lĩnh vực
điều phối và là đầu mối thông tin về môi trường
6 Về lâu dài, mức độ thành công của ISGE được đánh giá thông qua việc ISGE cải tiến và trợ giúp:
a) Kết hợp đầu tư quốc gia và quốc tế cho môi trường dưới 1 khung chính sách
b) Lồng ghép Chiến lược và Kế hoạch Bảo vệ Môi trường Quốc gia vào tất cả các kế hoạch và chương trình của các cơ quan chính phủ và cấp cơ sở
c) Hướng nguồn lực vào những vấn đề cần ưu tiên nhất đồng thời hạn chế sự chồng chéo
d) Hài hòa thủ tục và thông lệ của Chính phủ và nhà tài trợ , như các yêu cầu về báo cáo và kiểm toán
e) Tăng cường năng lực quản lý của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường/Cục
Môi trường nhằm đẩy mạnh mối quan hệ công tác về môi trường trong các ngành
và giữa các cấp chính phủ
f) Khuyến khích các tổ chức phi chính phủ, nhóm cộng đồng và khu vực tư nhân
tham gia vào các chương trình môi trường
Trang 16Đô thị
Đô thị
Tiến độ thực hiện các tiêu chí thành công, hỗ trợ chiến lược đô thị và Chiến lược tăng
trưởng và giảm nghèo toàn diện (CPRGS)
1 Quyết định thành lập Diễn đàn đô thị được đưa ra tại Hội nghị Nhóm Tài trợ năm 2000 khi Việt Nam trình bày các mục tiêu phát triển trong thập kỷ tới thông qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 Là một trong ba mối quan hệ đối tác liên ngành, Diễn đàn Đô thị đang trong qúa trình xây dựng quan hệ với một số đối tác Ngay từ đầu, mối quan hệ hợp tác không chính thức này đã tập trung nỗ lực nhằm đạt được các kết qủa cụ thể thay vì tham gia vào các cuộc thảo luận dài về phương thức hoạt động của Diễn đàn Tuy nhiên, điều chắn chắn là Diễn
đàn đã thiết lập được mối quan hệ chính thức với Bộ Xây dựng và với các Bộ khác liên quan đến quản lý đô thị (Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ, CGOP) và môi trường đô thị (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, MOSTE), hoạch định chiến lược kinh tế xã hội đô thị (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, MPI) vv… Diễn đàn Đô thị cần có cam kết mạnh mẽ hơn của các thành viên trong việc đẩy mạnh mạng lưới trao đổi giữa các thành phố, bao gồm sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân và các đối tác đại diện cho xã hội dân sự Theo đó, một Bản Ghi nhớ dự thảo sẽ
được xây dựng Tất cả các thành viên của Diễn đàn Đô thị không chính thức sẽ được mời đến để
ký Bản Ghi nhớ này
2 Trong các nghiên cứu thực trạng và chuẩn bị cho Chiến lược CPRGS đến năm 2001, chương trình nghị sự đô thị vẫn chưa được tính đến Do đó, Diễn đàn Đô thị đã tập trung đưa vào vấn đề giảm nghèo thành thị dựa trên mục tiêu thiên niên kỷ số 11 (các thành phố không có nhà ổ chuột) và số 10 (cung cấp nước sạch) Mội Tiểu nhóm Diễn đàn Đô thị đầu tiên đã được thành lập
là Nhóm chuyên trách giảm nghèo thành thị (điều khoản tham chiếu của Nhóm đã được công bố) Nhóm này đã tham gia vào các cuộc tọa đàm về Chiến lược CPRGS, đóng góp ý kiến vào các
dự thảo tiến độ, sắp xếp và tham gia các cuộc tọa đàm với Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
11 (nâng cấp đô thị) và số 10 (cung cấp nước sạch cho thị trấn)
4 Các thành viên của Diễn đàn Đô thị tham gia vào qúa trình cải cách hành chính công của chính quyền địa phương cũng bắt đầu chia sẻ các kinh nghiệm và kế hoạch hỗ trợ Chương trình Tổng thể Cải cách Hành chính công giai đoạn 2001-2010, đặc biệt là chương trình số 2 Cơ chế
"một cửa" được coi là một sản phẩm nhằm bảo đảm sự cung ứng dịch vụ minh bạch, hiệu qủa và theo hướng đáp ứng nhu cầu khách hàng Cơ chế này đã sẵn sàng được nhân rộng cho tất cả các thành phố và thị trấn Dự kiến, Chính phủ sẽ phê duyệt việc áp dụng cơ chế "một cửa" vào tháng
6 Diễn đàn đô thị cũng sẽ hỗ trợ Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ, các thành phố và thị trấn trong việc thiết lập cơ chế "một cửa" hoặc cải thiện chất lượng dịch vụ của các cơ chế "một cửa" đã
được thiết lập
Trang 17Đô thị
Các hành động cụ thể trong 6 tháng tới
5 Diễn đàn Đô thị, một quan hệ đối tác rộng rãi và không chính thức, sẽ tiếp tục hoạt động theo hướng tạo ra kết qủa, đồng thời xây dựng một Bản Ghi nhớ với Chính phủ Việt Nam thông qua Văn phòng Chính phủ, xác định các đối tác của chính phủ và vai trò của các đối tác này trong Diễn đàn Đô thị Dựa trên Chiến lược CPRGS đã được phê chuẩn, Diễn đàn Đô thị sẽ tổ chức một loạt các cuộc tọa đàm nhằm xác định thêm các ưu tiên trong chương trình nghị sự đô thị và dự thảo kế hoạch hành động tương ứng theo đề xuất của Nhóm chuyên trách giảm nghèo thành thị
Kế hoạch hành động có nội dung liên quan đến hỗ trợ chiến lược và chính sách, xác định khái niệm và hướng dẫn thực hiện Chiến lược CPRGS cho các thành phố (bao gồm sự hỗ trợ từ Liên minh các Thành phố) và chuẩn bị thử nghiệm cách tiếp cận mới mang tính chiến lược ở một số thành phố Các hoạt động đó sẽ bao gồm:
• Phối hợp với các thành phố của Việt Nam để xây dựng các chiến lược phát triển thành phố/Chiến lược CPRGS cấp thành phố và thiết lập một mạng lưới chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm với sự phối hợp của Liên minh các Thành phố
• Thảo luận về chương trình nghị sự chiến lược và chính sách với Bộ Xây dựng, tập trung nâng cấp đô thị trong vòng hai năm tới, vấn đề cung cấp nước tại các quận huyện, chính sách nhà ở, quy hoạch đô thị, quy hoạch không gian và đô thị hóa
• Hỗ trợ chương trình nghị sự ưu tiên của Chính phủ trên cơ sở gắn với Mục tiêu Thiên niên kỷ số 10 về nước sạch đô thị, bao gồm hướng tập trung mới vào các thị trấn
• Hỗ trợ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, các thành phố và thị trấn trong việc thúc đẩy, thiết lập và vận hành cơ chế "một cửa"
• Phối hợp với đại diện của các thành phố, các cơ quan Chính phủ Việt Nam, các đối tác ODA, các tổ chức phi chính phủ, các nhóm cộng đồng và khu vực tư nhân trong việc phân tích và thực hiện chính sách nhằm xây dựng và thử nghiệm các phương pháp mới trong các lĩnh vực sau đây:
• thuê đất và bảo đảm sự tiếp cận của dân nghèo thành thị đối với nhà ở và các cơ sở hạ tầng cơ bản;
• xây dựng các trung tâm đô thị nhỏ (thị trấn);
• củng cố các mối liên kết giữa nông thôn và thành thị
• phát triển theo quy hoạch các vùng ven đô
• xác định vai trò và chức năng của các cơ quan chính quyền địa phương tại các
đô thị (các thành phố, các cơ sở tiện ích của nhà nước ) theo yêu cầu của chương trình 2 trong Chương trình Tổng thể về Cải cách Hành chính (2001-2010);
• môi trường và ô nhiễm (quản lý nước thải, vệ sinh, sản xuất sạch);
• các chiến lược kinh tế, bao gồm phát triển khu vực tư nhân và các doanh nghiệp hộ gia đình có quy mô cực nhỏ;
• đánh giá qúa trình qúa độ đô thị của Việt Nam nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp đối với vấn đề di cư, toàn cầu hóa và hội nhập khu vực; xây dựng và thử nghiệm các công cụ và phương pháp quy hoạch và quản lý đô thị có sự tham gia của người dân
Trang 18Các tiêu chí thành công sửa đổi của Diễn đàn đô thị cho tháng 12 năm 2002
• Bản Ghi nhớ của Diễn đàn đô thị đã được soạn thảo và thống nhất với Chính phủ Việt Nam và các đối tác
• Chiến lược CPRGS của Việt Nam đã đề cập thỏa đáng vấn đề giảm nghèo thành thị Chiến lược này đuợc Diễn đàn Đô thị đẩy mạnh như là một khuôn khổ chiến lược chủ yếu cho các vấn đề phát triển đô thị
• 5 thành phố đã đồng ý xây dựng chiến lược CPRGS hoặc các chiến lược phát triển thành phố với sự phối hợp của Diễn đàn Đô thị Một mạng lưới các thành phố đã bắt đầu trao
đổi thông tin và kinh nghiệm
• Nghiên cứu về qúa trình qúa độ đô thị của Việt Nam được thảo luận và công bố
• Chiến lược thúc đẩy cơ chế "một cửa" thông qua Diễn đàn Đô thị đã được xác định Tất cả các thành phố và thị trấn đã được thông báo về kết qủa đánh giá quốc gia, chính sách nhân rộng cơ chế "một cửa" của Ban Tổ chức và Cán bộ Chính phủ, chiến lược hỗ trợ và các giải pháp lựa chọn 50 hệ thống "một cửa" đã được vận hành hoặc đang được hoạch
định để vận hành trong 6 tháng tới
• Các chương trình theo quy hoạch về Nâng cấp đô thị và các phương pháp cung cấp nước tại cấp quận huyện được thảo luận và dự án thí điểm đầu tiên đã bắt đầu được thực hiện
Trang 19Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước
Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước
1 Nhóm công tác về cải cách doanh nghiệp nhà nước đã hoạt động rất hiệu quả trong việc huy động và điều phối nguồn trợ giúp kỹ thuật để xây dựng chương trình cải cách và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, mặc dù số cuộc họp của nhóm công tác cải cách doanh nghiệp nhà nước không vượt quá 3 lần trong năm
2 Điểm yếu của nhóm công tác này trong 12 tháng qua là không có sự tham gia thường xuyên của đại diện Chính phủ, một phần vì các cơ quan liên quan còn quá bận rộn với việc đạt được sự nhất trí trong đảng và tổ chức lại bộ máy của mình để thực hiện cải cách DNNN Tuy nhiên, các nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ gặp gỡ nhau thường xuyên hơn là phía tài trợ, tổ chức phi chính phủ và Chính phủ Đây là vấn đề cần được cải thiện trong vòng 12 tháng tới khi mà việc thực hiện cải cách DNNN đã được củng cố
3 Tuy vậy, nhóm công tác đã phổ biến, chia sẻ thông tin và huy động trợ giúp rất có hiệu quả, có lẽ vì chính phủ đã công bố chương trình cải cách DNNN nhiều năm đầu năm
2001, nên có thể điều phối được sự trợ giúp của các nhà tài trợ Các nhà tài trợ đã áp dụng một số cơ chế phổ biến thông tin cũng như huy động trợ giúp cho việc xây dựng và thực hiện chương trình
Đáp ứng tiêu chí đánh giá thành công và hỗ trợ cho CPRGS
Việc thực hiện chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước vẫn đang tiếp tục, mặc
dù với một tốc độ chậm hơn dự kiến; tuy nhiên, và môi trường chính sách chung cho cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được cải thiện trong 12 tháng qua, với Đại hội
Đảng và quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thời gian thực hiện một loạt biện pháp
Các nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ sẽ tiếp tục tham gia một cách tích cực vào nhóm công tác Tuy nhiên, khó có thể đảm bảo sự tham gia của chính phủ vào các cuộc họp về cải cách DNNN, đặc biệt là trong vòng 6 tháng qua Tình trạng này đang bắt đầu thay đổi với sự thay đổi mới đây của cơ chế thực hiện
Chi tiết của chương trình cải cách DNNN nhiều năm do Chính phủ và Ngân hàng Thế giới/ Quỹ Tiền tệ xây dựng, và được đưa vào I-PRSP đầu năm 2001, đã được phản ánh rất rõ trong CPRGS (và ma trận chính sách của CPRGS)
Các dự án trợ giúp kỹ thuật của các nhà tài trợ nhìn chung là phù hợp với CPRGS Trên thực tế, nhờ có sự trợ giúp của các thành viên nhóm công tác mà các hợp phần chủ yếu của chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước đều mang tính khả thi (như
số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa, xây dựng hệ thống giám sát)
Hỗ trợ CPRGS trong 6 tháng tới
Đan Mạch và Ngân hàng Thế giới (kết hợp với quỹ PHRD Nhật Bản) sẽ tiếp tục trợ giúp Bộ Tài chính tiến hành kiểm tra tài chính các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành đường, cao su, thép và giấy
Trang 20Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước
DFID và Ngân hàng Thế giới sẽ tài trợ cho kế hoạch của Chính phủ cơ cấu lại một số Tổng Công ty Đặc biệt, sẽ tiến hành cải tổ thí điểm Vinacafe, Seaprodex và Vinatex trong vòng 2 năm tới
ADB, Australia, Đan Mạch, Nhật Bản và Ngân hàng Thế giới đã, đang và sẽ đóng vai trò chính trong việc hỗ trợ Chính phủ đạt được mục tiêu cổ phần hóa, bán hoặc thành
lý 2,800 doanh nghiệp nhà nước vào năm 2005
UNDP trợ giúp 1 dự án cho Bộ Tài chính triển khai hệ thống quản lý thông tin đối với các doanh nghiệp nhà nước
Tiêu chí đánh giá thành công năm 2002 và những năm tiếp theo
Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Tăng cường sự tham gia của Chính phủ, kể cả vai trò lãnh đạo của Chính phủ trong nhóm công tác như trong quan hệ đối tác cho PER và cải cách ngân hàng
Số lần nhóm họp nhiều hơn
Các dự án trợ giúp cải cách doanh nghiệp nhà nước
Nhà tài trợ & khoản
viện trợ
Mục tiêu (Cơ quan thực hiện) Tình trạng ADB
US$ 1.400.000 Tăng cường năng lực thể chế của các cơ quan chủ yếu (Bộ Tài chính, SAGO, Ngân hàng
Nhà Nước, ủy ban Chứng khoán Nhà nước) trong việc kiểm tra tài chính các doanh nghiệp nhà nước và đánh giá, phê duyệt việc
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính, SAGO và ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
Hỗ trợ cải cách doanh nghiệp nhà nước thuộc
3 Bộ Công nghiệp, Nông nghiệp và Xây dựng
và tỉnh, thành là Hà Nội và 1 tỉnh khác (NSCERD)
Hoàn tất giai đoạn I, mở rộng giai đoạn II – đang thực hiện
Trang 21Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước
US$ 3.100.000 phần hóa và hỗ trọ sau cổ phần hóa (Bộ Thủy
sản)
2002; mở rộng dự án Danida (Đan Mạch)
(WB quản lý)
US$ 390.000
Công tác tư vấn, nâng cao nhận thức trong nhân dân, thiết lập hệ thống quản lý thông tin các doanh nghiệp nhà nước, và nâng cao năng lực ở NERC (NSCERD)
Kết thúc
Danida (Đan Mạch)
quản lý
US$ 1.700.000
Hỗ trợ NSCERD nâng cao năng lực trong quá
trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước (NSCERD)
Bắt đầu từ tháng 7/2001 và kéo dài đến 2004
DFID (Anh)
UKÊ 1.800.000 Cải tổ thí điểm 3 Tổng công ty – Vinatex,
Vinacafe, and Seaprodex (NSCERD)
Đã thông qua giai đoạn
đầu; chuyên gia tư vấn đã hoàn thành báo cáo tiền kỳ GTZ (Đức) quản lý
US$ 5.600.000 Hỗ trợ cải cách các doanh nghiệp nông
nghiệp nhà nước (tỉnh Quảng Trị, huyện Tân Lâm) thông qua việc xây dựng kế hoạch thực hiện cổ phần hóa (UBND tỉnh Quảng Trị, CREM)
Đang thực hiện Dự kiến kết thúc: 2003
IFC quản lý /Danida
UNDP
US$2.145.800
“Tăng cường năng lực cho Cục Quản lý Vốn
và Công sản thuộc doanh nghiệp nhà nước”
thông qua việc thiết lập hệ thống quản lý thông tin các doanh nghiệp nhà nước và hệ thống đánh giá (GDMSCAE, Bộ Tài chính)
Đang thực hiện Dự kiến kéo dài đến tháng 6/2002
Trang 22Ngân hàng
Cập nhật Quan hệ Đối tác - Cải cách Ngân hàng
1 Nhóm công tác Chính phủ-Nhà tài trợ-Tổ chức phi chính phủ về Cải cách Ngân hàng được thành lập từ cuối năm 1999 nhằm thảo luận chương trình cải cách ngân hàng nhiều năm do Chính phủ Việt Nam đề xướng, và do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, nhằm hỗ trợ việc hình thành và thực hiện chương trình và điều phối các nhà tài trợ
2 Tuy mối quan hệ đối tác của chương trình này là không chính thức nhưng đây là một diễn đàn rất hữu hiệu trong đó Ngân hàng Nhà nước chia sẻ thông tin về chương trình cải cách ngân hàng, đưa ra các câu hỏi mà các bên quan tâm, tìm nguồn viện trợ khẩn cấp
và trung hạn, cập nhật những bước phát triển trong lĩnh vực cải cách ngân hàng
Đáp ứng tiêu chí thành công và hỗ trợ Chiến lược Toàn diên về Tăng trưởng và Giảm nghèo (CPRGS)
Báo cáo của Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho nhóm công tác cho thấy chương trình cải cách ngân hàng của Chính phủ vẫn đang được tiếp tục Các nhà tài trợ tiếp tục bày tỏ mong muốn hỗ trợ việc thực hiện chương trình cải cách ngân hàng hiện tại của chính phủ và xây dựng chương trình cải cách cho các lĩnh vực khác của ngành tài chính
Hai cuộc họp hằng quý của nhóm công tác đã được tổ chức kể từ Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ họp tại Hà Nội năm 2001 Cả 2 cuộc họp đều có sự tham gia tích cực của Chính phủ, phía tài trợ và các tổ chức phi chính phủ Trong cả hai cuộc họp này, ông Tuấn, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thông báo những tiến bộ đạt được trong thực hiện chương trình cải cách ngân hàng, những ý tưởng mới cho các cải cách trong tương lai và nhu cầu có thêm những hỗ trợ kỹ thuật cho việc thực hiện cũng như xây dựng lịch trình cải cách ngân hàng (như cải cách Ngân hàng Nhà nước và cải cách tín dụng nhỏ)
Các nhà tài trợ ngày càng quan tâm nhiều hơn tới nhiều khía cạnh khác nhau của việc phát triển khu vực tài chính ở Việt Nam Hai tiểu ban về (a) các vấn đề cải cách ngân hàng trung ương (do IMF chủ trì) và về (b) cải cách tín dụng nhỏ (do chủ trì) mới
được thành lập như một phần của nhóm cải cách ngân hàng Có ý kiến đề xuất nên thành lập một nhóm các tổ chức tài chính không phải là ngân hàng do ADB chủ trì, và theo dự kiến thì sáng kiến này sẽ sớm được thực hiện
Các phân tích và đánh giá về hệ thống ngân hàng (do Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Nhà nước cùng thực hiện) và về hệ thống tài chính phi ngân hàng (do Ngân hàng Nhà nước và ADB cùng thực hiện) đã được nhóm công tác về ngân hàng đưa ra thảo luận Những phân tích và đánh giá này sẽ điểm lại tình hình hiện nay và tổng hợp các nghiên cứu nhỏ hiện có, và sẽ là cơ sở cho chính phủ xem xét tổng thể khu vực tài chính, cả về viễn cảnh và chiến lược cho Việt Nam Những báo cáo này sẽ được gửi cho tất cả các thành viên của nhóm công tác vào nửa cuối của năm nay, vào thời gian
đó những nhu cầu về các khoản tài trợ kỹ thuật sẽ được xác định và sắp xếp theo thứ
tự ưu tiên tốt hơn
Trang 23Ngân hàng
Chi tiết của chương trình cải cách ngân hàng nhiều năm do Chính phủ hợp tác với Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế xây dựng và đã được đưa vào tài liệu chiến lược giảm nghèo tạm thời (I-PRSP) vào đầu năm 2001, đã được phản ánh rõ ràng trong bản dự thảo CPRGS của chính phủ (bao gồm cả bản ma trận đính kèm theo
đây) và các khoản tài trợ kỹ thuật của các nhà tài trợ cho lĩnh vực này đã điều phối tốt
để hỗ trợ việc thực hiện chương trình
Bảng ma trận các dự án trợ giúp kỹ thuật của tất cả các nhà tài trợ cho chương trình cải cách ngân hàng của Chính phủ đã được tập hợp (xem dưới đây) và đưa lên trang web của Liên hợp quốc (un.org.vn mục ‘Development Partnerships’) và trang web của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (worldbank.org.vn mục ‘What’s new’)
Bảng ma trận trực tuyến này cho phép tất cả các bên tham gia xác định được nhu cầu trợ giúp, loại hình trợ giúp đã và đang được thực hiện đối với từng lĩnh vực cụ thể cũng như biết được đơn vị tài trợ
Điều chỉnh hỗ trợ cho phù hợp với CPRGS trong 6 tháng tới
CPRGS của Chính phủ dựa trên công việc của NHNN và nhóm công tác Chính nhà tài trợ-tổ chức phi chính phủ về cải cách ngân hàng Công việc này dự kiến sẽ
phủ-được tiếp tục cập nhật, đặc biệt với sự củng cố và mở rộng của nhóm (như đã nói ở trên) ra các khía cạnh khác của việc phát triển khu vực tài chính
Sự hỗ trợ của các nhà tài trợ trong cải cách và phát triển khu vực tài chính như đề xuất trong CPRGS sẽ tiếp tục được điều phối thông qua nhóm công tác này và hàng loạt các tiểu nhóm của khu vực tài chính hiện đang được thành lập
CPRGS đề nghị cơ cấu lại 4 Ngân hàng Thương mại quốc doanh, tăng cường sự minh bạch trong các ngân hàng (như kiểm toán IAS sẽ được thực hiện mỗi năm và báo cáo cho ban lãnh đạo ngân hàng, Bộ tài chính và các thành viên lãnh đạo cao cấp khác) và tăng cường các qui định và sự giám sát Về việc cơ cấu lại ngân hàng thương mại quốc doanh Hà Lan đang phối hợp hợp chặt chẽ với Vietcombank và Ngân hàng Thế giới nhằm thực hiện một chương trình trợ giúp toàn diện Pháp cũng đã đạt được một số thỏa thuận trợ giúp tương tự đối với Incombank ADB đang thảo luận một sự hỗ trợ tương tự với BIDV VBARD đang nhận được hỗ trợ cho việc cơ cấu này từ ADB và
WB trong chương trình tài chính nông thôn của mình Về kiểm toán IAS, DANIDA và USAID đã cung cấp các khoản viện trợ kỹ thuật với thời gian báo trước ngắn, và có lẽ trong tương lai hình thức này sẽ được đưa vào các hỗ trợ cơ cấu lại nói trên
Ngân hàng Thế giới quản lý đang quản lý một số nguồn viện trợ trong lĩnh vực quản
lý và cải cách Ngân hàng Cổ phần như đánh giá ngân hàng, kiểm tra quy trình quản lý rủi ro và lập kế hoạch cải cách Thụy Sĩ đã làm việc với một số Ngân hàng Cổ phần nhằm xây dựng hệ thống đánh giá tín dụng của các ngân hàng
MPDF đã mở tại Thành phố Hồ Chí Minh một Trung tâm Đào tạo Ngân hàng dành cho các cán bộ ngân hàng thương mại (chương trình được tài trợ bởi ADB, Australia, Canada, Phần Lan, IFC, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Anh) Tăng cường năng lực
Trang 24Ngân hàng
chính là nền tảng quan trọng đảm bảo sự thành công cho công cuộc cải tổ ngành ngân hàng
Tiêu chí thành công cho năm 2002 và những năm tiếp theo
Tiếp tục triển khai chương trình cải cách ngân hàng hiện có cũng như xây dựng và thực hiện lịch trình cải cách khu vực tài chính mở rộng
Các nhà tài trợ, tổ chức phi chính phủ và đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhóm họp thường xuyên và tham gia tích cực vào chương trình làm việc mở rộng của các nhóm công tác chính phủ-nhà tài trợ-các tổ chức phi chính phủ và các tiểu nhóm hoạt động về các khía cạnh khác nhau của khu vực tài chính
Trao đổi thông tin một cách hiệu quả thông qua bảng ma trận trợ giúp kỹ thuật trực tuyến và tiết kiệm thời gian của Chính phủ bằng cách báo cáo theo từng nhóm về tiến
độ cải cách ngân hàng
Thường xuyên giám sát việc thực hiện các biện pháp cải cách và ảnh hưởng của các cải cách đó thông qua các báo cáo của NHNN và các thảo luận trong nhóm, xác định các lĩnh vực cần phân tích và đánh giá sâu hơn, và tất nhiên, cả lịch trình cải cách, trong khuôn khổ nhóm công tác, và ở nơi nào cần thiết
Trang 25Ngân hàng
Luật và quy định Đánh giá khuôn khổ luật pháp và qui định của ngân hàng Gide Loyrette, Pháp ASEM-TF020583 Tháng 5/2000 Kết thúc Miguel Navarro mnavarromartin@worldbank.org Nâng cao năng lực cho
Ngân hàng Nhà nớc Đánh giá sổ tay hướng dẫn kiểm tra tại chỗ
Ernst & Young,
Nâng cao năng lực cho
Ngân hàng Nhà nước
Tham quan học tập tại Au stralia về giám sát ngân hàng, thông tin tín dụng và hệ thống quản lý thông tin
Nâng cao năng lực cho
Nâng cao năng lực cho
Ngân hàng Nhà nước
Hội thảo và khóa học về kinh tế, thống kê, thị
Dominique
Luật và quy định Đánh giá luật lệ của các tổ chức tính dụng và Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam GTZ, Đức
Bộ Kinh tế và Hợp tác Phát triển (BMZ)
Giám sát ngân hàng
Lập kế hoạch Kế hoạch tái cơ cấu các ngân hàng thơng mại quốc doanh Vinstar, New Zealand PHRD-TF025709 Tháng 3/2000 Kết thúc Miguel Navarro mnavarromartin@worldbank.org
Trang 26Ngân hàng
Nâng cao năng lực
Trợ giúp kỹ thuật phát triển các hoạt động đầu t tín dụng (phân tích đánh giá tín dụng, thìanh lập phòng tín dụng tại một số ngân hàng cổ phần ở TP.HCM)
Đang thực hiện, chuẩn bị giai
đoạn mới
Dominique
Trang 27Dominique
ChÝnh s¸ch tiÒn tÖ
N©ng cao n¨ng lùc cho
Ng©n hµng Nhµ níc
ThiÕt lËp bé phËn kiÓm to¸n ng©n hµng trong viÖn
N©ng cao n¨ng lùc cho
LËp kÕ ho¹ch
Ph¸t triÓn khung ph¸p lý vµ thÓ chÕ trong qu¶n lý
nî n−íc ngoµi (Bé Tµi chÝnh, Bé KÕ ho¹ch ®Çu t−
Ng©n hµng Nhµ níc ViÖt Nam)
C¬ quan Ph¸t triÓn Quèc tÕ Australia (AusAID), Ban Th
ký Nhµ n−íc vÒ Kinh tÕ Thôy Sü (SECO), UNDP
Russell Miles, BÝ th− thø hai (Hîp t¸c Ph¸t triÓn),
Sø qu¸n Australia Dominique Jordan, BÝ th thø nhÊt, Sø qu¸n Thôy Sü, TrÞnh TiÕn Dòng, C¸n
bé Ch−¬ng tr×nh, UNDP Hµ Néi
russell_miles@ausaid.gov.au domi.jordan@fpt.vn tiendung@undp.org.vn
Trang 28Thương mại
Cải cách Thương mại
1 Nhóm Công tác Nhà tài trợ-Tổ chức phi chính phủ-Chính phủ về Cải cách Thương mại được thành lập từ năm 1999 Sự tham gia của Chính phủ trong Nhóm công tác còn hạn chế, ví dụ như, mặc dù luôn được mời nhưng đại diện chínhphủ không tham gia tất cả các cuộc họp của nhóm Hằng năm, các nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ nhóm họp trung bình 4 lần để thảo luận nội dung trợ giúp kỹ thuật cho Bộ Thương mại, trao đổi thông tin về các chương trình cải cách đang triển khai và báo cáo cho nhóm công tác về hàng loạt khía cạnh phân tích và kỹ thuật trong cải cách thương mại, và thảo luận những phát hiện của các công việc này Nhóm công tác đóng vai trò quan trọng hơn trong hoạt
động sau
Đáp ứng tiêu chí thành công và hỗ trợ CPRGS
Chính phủ tiếp tục tự do hóa hoạt động xuất nhập khẩu và thực hiện chương trình cải cách thương mại được thông qua vào đầu năm 2001 – một số lĩnh vực thâm chí còn tiến hành nhanh hơn so với dự kiến ban đầu – và chương trình cải cách thương mại hiện có và chương trình đề xuất được phản ánh rõ ràng trong CPRGS, dựa trên những cuộc thảo luận và chương trình làm việc của nhóm
Nhóm công tác đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc điều phối sự hỗ trợ của các nhà tài trợ và thông báo với các nhà tài trợ một cách thường xuyên về các viện trợ kỹ thuật (đang thực hiện và dự kiến) trong lĩnh vực này, dựa vào đánh giá nhu cầu viện trợ kỹ thuật do Bộ Thương mại thực hiện vào năm 2000 Thông qua nhóm công tác, các nhà tài trợ đã trình bày chương trình trợ giúp kỹ thuật cho công cuộc cải cách thương mại (ví dụ, Hỗ trợ Dự án Điều chỉnh và Cải cách Thương mại của USAID, STAR, Dự án Xúc tiến Thương mại của UNITC, viện trợ kỹ thuật của Cộng đồng Châu Âu cho việc Việt Nam ra nhập WTO, hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và hỗ trợ của Ausaid cho việc phân tích cơ chế thương mại và ảnh hưởng của việc tự do hóa thương mại, nghiên cứu chung của JICA và trường Đại học Kinh tế Quốc gia về một số ngành công nghiệp (xem chi tiết trong ma trận đính kèm)
Các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ sẽ tiếp tục tham gia tích cực vào nhóm công tác Phần lớn nhà tài trợ sử dụng diễn đàn này để trao đổi thông tin và thảo luận chương trình của mình; một số nhà tài trợ cũng sử dụng các cơ chế khác
để đối thoại khác với nhà tài trợ
Chi tiết của chương trình cải cách thương mại nhiều năm do Chính phủ cùng với Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ, và đưa vào I-PRSP vào đầu năm 2001, cũng
được phản ánh rõ trong CPRGS (xem ma trận chính sách)
Hỗ trợ cho CPRGS trong 6 tháng tới
Nhóm công tác sẽ duy trì diễn đàn này để trao đổi ý kiến về cải cách thương mại và trình bày các dự án, nghiên cứu chính, cũng như công bố kết quả và kết luận của các nghiên cứu và hoạt động đã hoàn thành
Trang 29Thương mại
Kết quả nghiên cứu và phân tích do các thành viên nhóm công tác tiến hành đã được thể hiện qua nhiều nội dung cải tiến về chính sách nêu trong CPRGS, bao gồm kế hoạch dỡ bỏ hạn ngạch, giảm thuế, đơn giản hóa và hợp lý hóa các thủ tục hải quan
Nhóm Công tác tiếp tục chú trọng hoạt động chia sẻ thông tin về các chính sách mới
và hoạt động kỹ thuật và phân tích trong công cuộc cải cách thương mại ở Việt Nam
mà các thành viên tiến hành Nội dụng trợ giúp kỹ thuật cho tiến trình gia nhập WTO
và việc thực hiện hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ sẽ được đề cập trong các hội thảo chuyên đề riêng biệt
Tiêu chí đánh giá thành công năm 2002 và những năm tiếp theo
Tiếp tục thực hiện cải cách thương mại và tăng cường phổ biến thông tin trong cộng
đồng các nhà tài trợ
Chính phủ tham gia nhóm công tác tích cực và thường xuyên hơn, kể cả đảm nhiệm vai trò chủ trì như trong các nhóm công tác về cải cách ngân hàng và PER
Các dự án trợ giúp cải cách thương mại
Nhà tài trợ Mục tiêu (Cơ quan thực hiện) Tình trạng
AusAID
(Australia)/Ngân
hàng Thế giới
• Nghiên cứu về tác động của thỏa thuận
Việt-Mỹ về quy chế tối huệ quốc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu,
• Báo cáo về các hàng rào phi thuế quan của Việt Nam
• Nghiên cứu ngành mía đường
• Giá xăng dầu và công tác tiếp thị
• Nghiên cứu về hệ quả của tự do hóa thương mại
và đầu tư
Kết thúc
Kết thúc Kết thúc
Đang thực hiện
Đang thực hiện
AusAID (Australia) • Dự án Đào tạo về Luật Thương mại Quốc tế tổ
chức khóa học 6 tháng cho cán bộ các cơ quan Việt Nam
Nghiên cứu Thương mại Việt Nam Đào tạo cán
bộ thương mại ở Phần Lan và Việt Nam
• Tài trợ chuyên gia WTO của Phần Lan
• Hỗ trợ xây dựng danh mục các hợp phần cần cải
Đang thực hiện
Đang thực hiện
Trang 30Thương mại
cách trong vòng 5-10 năm tới Sida (Thụy Điển) • Cố vấn chính sách cho Nhóm Nghiên cứu của
Thủ tướng về Quan hệ Kinh tế Đối ngoại
• (1) Nâng cao nhận thức về tác động hội nhập kinh tế cho lãnh đạo các tỉnh và doanh nghiệp nhà nước; (2) Chuyển giao kinh nghiệm đàm phán của các nền kinh tế đối với các quốc gia lớn; (3) Thiết lập Trung tâm Nguồn: xây dựng trang web về nền kinh tế và tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam
nhập WTO và hoạch định chính sách thương mại
Kết thúc năm 2000 UNDP • Hội nhập ASEAN Tiến hành một loạt các nghiên
cứu về hội nhập ASEAN
• Triển vọng lâu dài về hội nhập kinh tế thế giới
Kết thúc Đang thực hiện UNIDO/ UNDP • Quản lý tiến trình hội nhập của Việt Nam với nền
kinh tế toàn cầu / CIEM Hỗ trợ CIEM tiến hành nghiên cứu “Điều chỉnh Cơ cấu Kinh tế và và
Đầu tư” để trình lên Thủ tướng Chính phủ
Đang thực hiện
Mỹ • Hỗ trợ việc xây dựng đề án đàm phán song
phương của Việt Nam
• Dự án STAR: Tài trợ cho 1 luật sư của Mỹ / chuyên gia thuế của Liên hợp quốc sang Việt Nam để giúp cải cách các luật lệ thương mại và việc thực hiện các quy định
Đang thực hiện
Ngân hàng Thế giới • Nghiên cứu về sự phát triển, tiềm năng, tính cạnh
tranh của hàng xuất khẩu và chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam nhằm đạt được mục tiêu lâu dài của Chính phủ đề ra
Đang thực hiện
Trang 312 Tháng2/2001, Chính phủ đã lãnh đạo một nhóm công tác thường trực về cải cách chi tiêu công gồm các đại diện từ Chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ (được thành lập sau khi sát nhập các nhóm công tác riêng lẻ của Chính phủ và tất cả các nhà tài trợ thực hiện PER); Ngân hàng Thế giới đã đồng ý hỗ trợ hậu cần cho nhóm công tác Tại cuộc họp đầu tiên của Nhóm, Chính phủ đã trình bày một Ma trận Chi tiết các Hành động dựa trên các đề xuất về PER, trong đó nêu lên các bước cần thực hiện trong mỗi năm (ví dụ từ năm 2001-2003) và nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật cần thiết để thực hiện các bước đi đó Kể từ đó, nhóm đã tổ chức họp một năm hai lần để điều phối các hoạt động về quản lý tài chính công
2 Các kết qủa chủ yếu của Quan hệ Đối tác trong 6 tháng qua
3 Tiếp theo Bản đánh giá Chi tiêu công do Chính phủ và các nhà tài trợ phối hợp chuẩn bị năm 2000, Chính phủ đã thông qua chương trình toàn diện nhằm củng cố quản
lý chi tiêu công với mục tiêu cải thiện tính toàn diện, nhất quán, và minh bạch của thông tin ngân sách cũng như tăng cường sự công bằng và hiệu qủa của chi tiêu công Chính phủ
đang có tiến bộ trong việc thực hiện chương trình cải cách Các hành động để mở rộng khả năng tiếp cận của nhân dân đối với các số liệu ngân sách đang được thực hiện Các bộ trung ương và chính quyền địa phương đã bắt đầu công bố thêm các số liệu ngân sách chi tiết hơn phù hợp với các qui định về minh bạch tài chính đã sửa đổi Lần đầu tiên, Bộ Tài chính đã đưa lên mạng website ( www.mof.gov.vn) của mình tài khoản cuối cùng năm
2000 và kế hoạch ngân sách nhà nước năm 2002 Các số liệu ngân sách cho từng ngành giai đoạn 1996-2000 cũng được công bố trên cùng một website.Số liệu chi tiết đã được công bố dưới dạng sách để phổ biến rộng rãi
4 Nhằm đơn giản hóa hơn quy trình ngân sách để tăng cường tính tự chủ cho các
đơn vị chi tiêu và khuyến khích việc sử dụng hiệu qủa hơn các nguồn lực công, một quyết
định đã đưa ra về mở rộng áp dụng thí điểm khoán chi cho các cơ quan hành chính ở Thành phố Hồ Chí minh sang các tỉnh và cơ quan trung ương khác và áp dụng phương pháp này đối với các cơ quan sự nghiệp trên toàn quốc Cho đến nay, khoảng 20 tỉnh và một bộ đã đăng ký tham gia chương trình thí điểm này
Trang 32Quản lý Tài chính công
5 Các hoạt động nhằm xây dựng luật ngân sách sửa đổi và điểu chỉnh hệ thống phân
bổ tiền mặt tới các tỉnh và ghi sổ các tài khoản "ngoài ngân sách" đã được thúc đẩy Dự kiến, Luật Ngân sách mới sẽ được đệ trình Quốc hội tháng 7/2002
6 Tháng 5/2002, Chính phủ đã cập nhật Ma trận hành động để phản ánh chương trình cải cách toàn diện tại Bộ Tài chính, trong đó bao gồm quản lý ngân sách, quản lý thuế, quản lý nợ, quản lý các doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài sản
7 Trong lĩnh vực quản lý ngân sách, các cải cách đang được chuẩn bị thực hiện hoặc
đã thực hiện bao gồm việc từ bỏ phương thức xây dựng ngân sách chi tiết theo mục chi, áp dụng quy trình lập ngân sách hàng năm, xây dựng ngân sách trên cơ sở kết qủa đầu ra, xây dựng chi tiêu trung hạn, tăng cường phân cấp, củng cố Kho bạc Nhà nước và các biện pháp nhằm tăng cường tính minh bạch ngân sách cùng với các cải cách khác được đặt ra trong Ma trận Hành động
8 Nhằm hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình cải cách toàn diện, năm nhà tài trợ DFID,
Đan mạch, Hà Lan, Thuỵ Điển và Na-Uy đang có kế hoạch thiết lập quỹ tín thác đa tài trợ (gồm nhiều nhà tài trợ) Một đoàn đánh giá phục vụ mục tiêu này sẽ đi thăm làm việc tại Việt Nam đầu tháng 6
3 Các hoạt động dự kiến trong 6 tháng tới
9 Quản lý ngân sách: một chuyên gia tư vấn kỹ thuật dài hạn sẽ được cử đến để hỗ trợ cải cách quản lý ngân sách tai Vụ Ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính và Vụ Tổng hợp Kinh tế của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhằm hỗ trợ xây dựng năng lực cho Chính phủ trong lĩnh vực quản lý ngân sách; cung cấp các ý kiến đóng góp của các chuyên gia tư vấn ngắn hạn đối với các lĩnh vực cụ thể về cải cách quản lý ngân sách, bao gồm lập ngân sách trên cơ sở kết qủa đầu ra, hoạch định chi tiêu trung hạn, tính linh hoạt và phân cấp ngân sách và các khía cạnh cụ thể khác của PER và đóng góp ý kiến tư vấn nhằm hỗ trợ thực hiện Đánh giá Chi tiêu Công năm 2003 Thiết kế kỹ thuật của dự án do Ngân hàng thế giói tài trợ về việc thiết lập một Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách hiện đại đặt tại Bộ Tài chính là phù hợp với những thay đổi chính sách trong lĩnh vực này
10 Quản lý nợ: Hệ thống ghi nợ trong và ngoài nước hiện nay còn manh mún và thiếu tương thích giữa các hệ thống khác nhau Hơn nữa, các thông lệ quản lý nợ công hiện tại có mục tiêu kiểm soát mức độ nợ và hoàn trả nợ, nhưng lại không cân nhắc nhiều
đến yếu tố rủi ro và chi phí trong các giao dịch liên quan đến nợ công Để giải quyết vấn
đề này, cẩn tổ chức nhiều hoạt động đào tạo và đầu tư cả vào phần cứng và phần mềm phù hợp Dự kiến một lộ trình sẽ được xây dựng trong 6 tháng tới Điều này sẽ góp phần bổ xung cho dự án hiện nay của UNDP về quản lý nợ nước ngoài
11 Quản lý các doanh nghiệp nhà nước (SOE): các ý kiến tư vấn sẽ được đưa ra nhằm bảo đảm rằng những rủi ro ngân sách của SOE có thể được giám sát chặt chẽ hơn và
được quản lý tốt hơn trong giai đoạn sau Những ý kiến tư vấn này sẽ bổ xung và được gắn kết với dự án do UNDP tài trợ về quản lý nợ nước ngoài và các hoạt động liên quan của UNDP trong việc thiết lập cơ sở dữ liệu giám sát SOE và hoạt động dự kiến về quản
lý nợ trong nước
Trang 3313 Quản lý tài sản: Hỗ trợ kỹ thuật sẽ giúp xác định và hỗ trợ thực hiện các quy trình và hệ thống phù hợp cấp cơ quan nhằm tăng cường quản lý tài sản
14 Điều phối và giám sát: sẽ tiếp tục sử dụng phương pháp điều phối thành công giữa Chính phủ và các nhà tài trợ trong PER làm cơ chế điều phối và trao đổi thông tin chính
4 Tiêu chí thành công cho năm 2002 khi Quan hệ Đối tác sẽ giám sát việc thực hiện các mục tiêu phát triển nêu lên trong chiến lược CPRGS
15 Tháng 11/1999,Thủ tướng đã xác định một số trở ngại đối với sự tăng trưởng kinh
tế nhanh hơn và giảm nghèo Các trở ngại đó bao gồm hoạt động yếu kém của các doanh nghiệp quốc doanh và nhu cầu hỗ trợ ngân sách cho các doanh nghiệp này, chính sách ngành và các lựa chọn đầu tư không phù hợp, khoảng cách giữa chính sách và thực hiện,và nhu cầu cần hướng chi tiêu công nhiều hơn cho người nghèo Những trở ngại này cũng được nêu lên trong Chiến lược CPRSC, trong đó xác định rõ nhu cầu tập trung hơn vào người nghèo, cải thiện phân bổ cho các chương trình hỗ trợ người nghèo và bảo đảm tính minh bạch ngân sách
16 Chiến lược cũng bao gồm một ma trận chính sách với các biện pháp và chính sách
sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2003-2005 nhằm đạt được các mục tiêu phát triển đã
được xác định Dưới đây là danh sách các chính sách và biện pháp về quản lý tài chính công trong ma trận chính sách này:
• Giám sát tất cả các khoản nợ bao gồm nợ chính phủ, SOES và những khoản
nợ được chính phủ bảo lãnh, khoản nợ của các công ty liên doanh (bao gồm vay FDI) và nợ khu vực tư nhân
• Củng cố hệ thống thuế, tăng nền tảng thu thuế trên cơ sở phát triển các nguồn thu thuế và tăng hiệu qủa của hệ thống trả thuế Sửa đổi một số điều khoản của Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi (2002)
• Sửa đổi Luật Thuế Gía trị Gia tăng và Thuế Thu nhập nhằm mở rộng cơ chế tự khai, tự tính toán và tự hoàn trả (tự đánh giá)
• Từng bước thực hiện các đề xuất được nhất trí trong PER Tăng chi tiêu cho các dịch vụ xã hội cơ bản và cơ sở hạ tầng
• Cải thiện hệ thông giám sát chi thu ngân sách ở tất cả các cấp