1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Những điều cần biết khi viết SKKN

14 344 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những điều cần biết khi viết skkn
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ 1959 ngày 11 tháng 3, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành chỉ thị 105/TTg để: “lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát minh của quần chúng”; Nghị định NĐ 20 CP của Chính

Trang 1

Ngày 09.6.2000, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Khoa học và Công nghệ; điều 2 ở văn bản luật này xác định: “hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất là hoạt động khoa học và công nghệ” Danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh cũng đã dạy: “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của cải của dân tộc (1)

ĐẶT VẤN ĐỀ

LƯỢC SỬ

Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) là một trong những điều kiện để công nhận các danh hiệu thi đua cá nhân của cán bộ công chức nước CHXHCN Việt Nam

Từ 1959 (ngày 11 tháng 3), Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành chỉ thị 105/TTg để: “lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát minh của quần chúng”;

Nghị định (NĐ) 20 CP của Chính phủ (08.2.1965) xem “Sáng kiến (SK) là giải pháp cải tiến từ nghiệp vụ

và tổ chức hiện có của đơn vị, đã được áp dụng và tạo lợi ích thiết thực”;

Thông tư 567/UBKHKT Nhà nước (1966) chỉ rõ: “công tác sáng kiến trong cơ quan gồm hướng dẫn, giúp

đỡ phát huy sáng kiến; tổ chức đăng kí, xác minh, tổng kết việc áp dụng; phổ biến, khen thưởng; các mặt

đó quan hệ khăng khít nhau, coi nhẹ mặt nào đều ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chất lượng và số lượng SKKN, hạn chế tác dụng SK và tổn hại cho công vụ”;

Khâu quản lý thống nhất về công tác sáng kiến cũng được tiếp tục xác định từ Nghị quyết 76 CP

(25.3.1977) - Pháp luật trong hoạt động KH (Phần VII);

Từ 23.1 1981, Điều lệ sáng kiến cải tiến (SKCT) kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất được ban hành;

Qua văn bản 267/QLKH - 06/9/1989/ Bộ Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) xác định: “kinh nghiệm là ý kiến

đề xuất sau khi nghiên cứu”, gồm “kinh nghiệm đã áp dụng - SKĐAD” và “kinh nghiệm chưa áp dụng - nhưng có khả năng áp dụng”;

Các đề tài “nghiên cứu khoa học” đã được thực nghiệm thành công là loại SKĐAD có giá trị cao

Điều 1 của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả (QH khoá IX – 02.12.1994) ghi rõ: “tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm khoa học”;

Năm 2000, Điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất được tiếp tục điều chỉnh và bổ sung; Ngày 09.6.2000, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Khoa học và Công nghệ; điều 2 ở văn bản luật này xác định: “hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất là hoạt động khoa học và công nghệ”

THỰC TRẠNG:

Ở tầm vĩ mô, nhận thức về công tác SK có thể coi là chu đáo; đáng tiếc là phía cơ sở vẫn kịp nắm bắt tinh thần ấy

Trong khi khi tình hình đang cần sự chỉnh đốn thì phong trào thi đua XHCN đã bị chững lại khá lâu; tới nay, hoạt động thi đua đã phục hồi nhưng sự thiếu thống nhất trong khâu “trình bày” và “đánh giá” SKKN vẫn không hề giảm đi; giữa các bên liên quan (tác giả, giám khảo, cán bộ quản lý công tác sáng kiến, phía người sử dụng SKKN) vẫn chưa thống nhất về “viết” và “chấm” SKKN, nhiều sự cố đáng tiếc vẫn diễn ra:

1.2.1 Về phía tác giả :

q Chưa chủ động đăng ký đề tài cải tiến, chưa “công khai” hoạt động cải tiến; chú trọng khâu tư duy (trừu tượng) mà coi nhẹ khâu trực tiếp tác động thực tiễn (thực nghiệm khoa học);

q Phía các tác giả đã áp dụng thành công SK thường chưa chủ động phục hồi hoạt động cải tiến để tổ kiểm chứng nên phía tổ đã thiếu tin tưởng về giá trị của SK

q Chưa thấy SKKN (lý luận mới) là sự tổng kết những “tri thức và kinh nghiệm” sau khi áp dụng SK vào nghiệp vụ và tổ chức của đơn vị Chú trọng miêu tả hoạt động áp dụng SK (thực nghiệm khoa học) mà coi nhẹ tổng kết những kinh nghiệm thực nghiệm (KN bậc “n”) thành bài học kinh nghiệm mới (KN bậc

“n+1”)

q Đặc biệt, chưa coi trọng cách dùng thì (tiền quá khứ, quá khứ, vừa mới, sắp, sẽ ), sơ đồ hoá; chưa đầu

tư thích đáng cho khâu trình bày “bài học kinh nghiệm mới” nên người sử dụng có thể hiểu nhầm và ứng dụng sai quy trình SKKN

1.2.2 Phía tổ – cấp quản lý trực tiếp đối với SK:

q Chưa tổ chức tổ chức việc đăng kí đề tài SKCT (4); hầu như khi có người nộp văn bản SK thì tổ mới biết về SK đó – do vậy, lời nhận xét của tổ về các SKKN thường rất chung chung;

q Chưa thấy việc trực tiếp quan sát tác giả áp dụng sáng kiến (dạng: thực nghiệm khoa học) là điều kiện đánh giá SKKN; vẫn còn xảy ra tình trạng đọc văn bản sáng kiến để xếp hạng SK (chưa trực tiếp quan sát hoạt động thực nghiệm khoa học về SK đó); thậm chí, công nhận những SK chưa áp dụng vào thực tiễn;

Trang 2

q Chưa phân biệt tác giả nào đã áp dụng SK trước khi đăng ký đề tài cải tiến, ai đăng ký trước khi áp dụng SK (chưa thấy cấp tổ là nơi có trách nhiệm và nghĩa vụ góp ý cho mỗi dạng tác giả trên đây bằng những hình thức góp ý khác nhau);

1 2.3 Phía đánh giá văn bản SKKN:

q Thường xảy ra sự cố thiếu thống nhất giữa các người chấm Khi các giám khảo độc lập đánh giá về 1 văn bản SKKN thì sẽ xảy ra sự cố “giám khảo này xếp SKKN đó là tốt, người khác cho là trung bình, thậm chí là kém” ; vì vậy, ngoài sự “thoả hiệp ngầm”, nhiều nơi “khoán trắng” việc chấm SKKN cho 1 người – trong khi không ít người chấm chưa kinh qua thực tiễn như tác giả

q Công cụ đánh giá (thang điểm) SKKN vẫn chưa được xây dựng một cách nghiêm túc nên chưa được

sự thống nhất giữa các bên liên quan; việc đánh giá thường là “xếp hạng - định tính” mà chưa “tính điểm - định lượng” cụ thể;

q Thiếu người quản lý công tác SK, chưa thực hiện đầy đủ các công việc quản lý công tác SK; chưa thực hiện thể lệ dự trù, hạch toán kinh phí cho công tác SK

Tóm lại, do chưa coi “hoạt động phát huy SK, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất là hoạt động khoa học

và công nghệ”, chưa coi SKKN là những “sản phẩm nhận thức ở trình độ lý luận” nên chưa nghiêm túc vận dụng nguồn tri thức khoa học về lý luận nhận thức khi “trình bày” và “đánh giá” nó

2.1.7 THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ SKKN QUA VĂN BẢN:

Để đánh giá SK, cấp tổ dễ dàng quan sát trực tiếp hoạt động áp dụng SK vào thực tế công vụ (thực nghiệm khoa học); trong khi đó, các cấp khác hầu như chỉ đánh giá SKKN thông qua văn bản của nó Vì vậy, thang điểm rất coi trọng các “chứng cứ thực nghiệm khoa học”:

2.1.7 THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ SKKN QUA VĂN BẢN:

Để đánh giá SK, cấp tổ dễ dàng quan sát trực tiếp hoạt động áp dụng SK vào thực tế công vụ (thực nghiệm khoa học); trong khi đó, các cấp khác hầu như chỉ đánh giá SKKN thông qua văn bản của nó Vì vậy, thang điểm rất coi trọng các “chứng cứ thực nghiệm khoa học”:

Vấn đề đánh giá và định giá sản phẩm nghiên cứu khoa học

Nguyễn Anh Thư

Giá là một công cụ cạnh tranh hiệu quả, có khả năng tác động mạnh tới sự lựa chọn của người tiêu dùng Chính vì vậy, công tác định giá sản phẩm luôn thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý và thị trường Để định giá chính xác thì trước hết phải đánh giá đúng giá trị sản phẩm Đây là hai vấn đề khó nhưng rất quan trọng đối với mọi doanh nghiệp, dù hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hay thương mại dịch vụ

Trong cơ chế thị trường và hạch toán kinh tế, các Viện nghiên cứu - một loại hình đơn vị sản xuất kinh doanh (SXKD) đặc biệt - cũng rất quan tâm đến vấn đề đánh giá và định giá sản phẩm Tuy nhiên, do sản phẩm nghiên cứu khoa học là sản phẩm đặc thù, nên việc đánh giá và định giá gặp khó khăn và còn nhiều vấn đề cần được làm rõ

Bài viết này xin đề cập đến vấn đề đánh giá và định giá các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng

I VẤN ĐỀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG

Sản phẩm của các Viện nghiên cứu ứng dụng tồn tại ở hai hình thái chủ yếu sau đây: Các giải pháp hữu ích thể hiện ở dạng văn bản và các vật mẫu về vật liệu, linh kiện hoặc máy móc thiết bị

Theo thông lệ, sau khi các đề tài nghiên cứu khoa học kết thúc, cơ quan quản lý hoặc đơn vị đặt hàng sẽ thành lập Hội đồng nghiệm thu nhằm đánh giá chất lượng hoàn thành đề tài Các tiêu chí sau đây thường được sử dụng để đánh giá công trình [1] [2]:

- Khối lượng và tiến độ thực hiện đề tài

Trang 3

- Điểm mới trong kết quả: Sản phẩm khoa học công nghệ đã giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn nào của đời sống kinh tế xã hội

- Tính hiệu quả: khả năng triển khai vào SXKD và hiệu quả về kinh tế- xã hội

- Tầm ảnh hưởng của công trình nghiên cứu

- Tương quan giữa chi phí nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

- Tương quan giữa trình độ được đào tạo và kết quả công trình

Quá trình vận dụng các tiêu chí nói trên để đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học gặp nhiều khó khăn bởi lẽ các tiêu chí chỉ mang tính chất định tính, phụ thuộc vào quan điểm, trình độ chuyên sâu của người đánh giá Bởi vậy, cần thống nhất một số quan điểm về đánh giá các sản phẩm nghiên cứu khoa học

1 Quan điểm đánh giá:

Việc đánh giá cần được định lượng hóa tới mức có thể (quy về hệ số, thang điểm, ) để tránh những nhận định chủ quan [1] [2] [3]

Sẽ có những chuẩn đánh giá khác nhau cho các chương trình, các lĩnh vực khoa học công nghệ (KHCN) khác nhau (giữa nghiên cứu giải pháp hữu ích (nghiên cứu và phát triển R-D) và sản xuất thử nghiệm) Không hành chính hóa việc đánh giá các sản phẩm khoa học công nghệ, tức là không định mức cho các sáng tạo KHCN

Để tiến tới định lượng trong khi đánh giá, đã có một số tác giả đề xuất các công thức toán học [1] [3], trong

đó tử số của biểu thức bao gồm các yếu tố về thành quả trừ đi các yếu tố khiếm khuyết, mẫu số của biểu thức là các yếu tố về chi phí (vật chất và thời gian)

Tuy nhiên giá trị của mỗi một yếu tố trong biểu thức nói trên còn phụ thuộc vào hướng dẫn và thang điểm của cơ quan quản lý đề tài Bởi vậy, để có thể tiến tới đánh giá định lượng công trình nghiên cứu khoa học thì quá trình đánh giá cần được không ngừng đổi mới và hoàn thiện

2 Những điểm cần hoàn thiện quá trình đánh giá công trình:

- Phương pháp thành lập Hội đồng (phương pháp chuyên gia): Phương pháp chuyên gia là một phương pháp khoa học, bởi vậy cần nghiêm túc tuân thủ quy trình của phương pháp chuyên gia, bao gồm việc lựa chọn chuyên gia đúng chuyên ngành, trình độ chuyên sâu phù hợp đề tài được đánh giá, cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho chuyên gia trước khi đánh giá,

- Cơ quan quản lý cần lượng hóa những yếu tố có thể lượng hóa được nhằm định hướng cho Hội đồng nghiệm thu

- Cơ quan quản lý và Hội đồng đánh giá cần đánh giá đủ 6 tiêu chí đã nêu ở trên vì việc đánh giá kỹ lưỡng

và chu đáo sẽ thúc đẩy công tác nghiên cứu và áp dụng vào thực tế Từng ngành, từng lĩnh vực có thể căn

cứ vào yêu cầu riêng mà xây dựng bổ sung một số tiêu chí cho phù hợp

- Có một số tiêu chí khó đánh giá, ví dụ tiêu chí hiệu quả Để giải quyết vấn đề này, cơ quan quản lý cần khẳng định ý nghĩa của đề tài trước khi đặt hàng, đồng thời cần đưa ra các chỉ tiêu định tính và định lượng

cụ thể trong hợp đồng, còn đến lúc nghiệm thu thì việc đánh giá hiệu quả sẽ phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu của đề tài Cần tiến tới đưa tiêu chí hiệu quả là tiêu chí bắt buộc trong việc đánh giá các đề tài nghiên cứu khoa học

Tóm lại, việc đánh giá đề tài của Hội đồng nghiệm thu không những có tác động đến việc hoàn thành hợp đồng và kế hoạch của các Viện mà còn liên quan đến việc định giá các công trình nghiên cứu khoa học, bởi vậy cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình đánh giá

II VẤN ĐỀ ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trong cơ chế thị trường, sản phẩm KHCN cũng là một loại hàng hóa

Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị

- Giá trị sử dụng của sản phẩm KHCN biểu hiện ở chỗ khi đưa vào ứng dụng nó sẽ góp phần giải quyết một vấn đề trong thực tiễn hoạt động SXKD của doanh nghiệp

- Giá trị của sản phẩm KHCN: được tạo ra do kết tinh hao phí lao động của những nhà nghiên cứu Xét trên góc độ thị trường, sản phẩm KHCN có giá trị vì chúng có khả năng sinh ra lợi nhuận

Như vậy, sản phẩm KHCN là một loại hàng hóa đặc biệt, được mua bán trên một thị trường đặc biệt - thị trường KHCN Trên thị trường đó, Viện nghiên cứu ứng dụng đóng vai trò như một doanh nghiệp sản xuất với đầu ra là các sản phẩm KHCN Người mua có thể là các cá nhân, các tổ chức (nhà nước, doanh nghiệp)

1 Hai thành phần cấu thành giá trị của sản phẩm khoa học:

Giá trị các sản phẩm khoa học bao gồm 2 bộ phận: phần cứng và phần mềm [3] [4] Phần cứng là phần giá thành sản phẩm, còn phần mềm là phần giá trị gia tăng của sản phẩm

a Định giá phần cứng của sản phẩm KHCN

* Phần cứng bao gồm chi phí thực tế để tạo ra sản phẩm nghiên cứu, gồm:

- Chi phí nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, bộ máy quản lý, Đối với kế toán, việc hạch toán bộ phận chi phí này một cách tương đối đúng, đủ là có thể làm được

Trang 4

- Chi phí nhân lực: Nhìn chung chi phí nhân lực sẽ tỷ lệ với trình độ của người lao động và độ phức tạp của

đề tài Tuy rằng cho đến nay chưa có định mức chi phí nhân lực cho nghiên cứu khoa học nhưng cơ quan quản lý có thể ước tính và thỏa thuận với nhóm nghiên cứu

* Với một Viện nghiên cứu ứng dụng, có 2 cách để bắt đầu tiến hành quá trình nghiên cứu, tạo ra sản phẩm:

- Thứ nhất, sản phẩm KHCN được nghiên cứu theo đơn đặt hàng

- Thứ hai, sản phẩm khoa học tự nghiên cứu và chào bán So với sản phẩm thực hiện theo đơn đặt hàng, trong giá thành của sản phẩm tự nghiên cứu có thêm chi phí nghiên cứu thị trường và chi phí tiếp thị Với

xu hướng các Viện nghiên cứu sẽ chuyển dần sang tự chủ về tài chính thì đây là một bộ phận chi phí không thể thiếu được và có ý nghĩa quan trọng đối với việc tiêu thụ sản phẩm

Tóm lại, định giá phần cứng sản phẩm nghiên cứu khoa học không quá khó khăn Tuy nhiên, cần lưu ý đặc thù của lao động nghiên cứu khoa học được thể hiện ở bộ phận chi phí nhân lực Có thể nhận thấy hiện nay các biểu mẫu dự toán kinh phí đề tài là chưa phản ánh đủ và đúng thực chi cho việc triển khai nghiên cứu

b Phương pháp định giá phần mềm sản phẩm khoa học

Phần mềm trong giá của sản phẩm khoa học phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả khi áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế, được Viện nghiên cứu thỏa thuận với bên đặt hàng hoặc bên mua

* Vấn đề định giá phần mềm của sản phẩm khoa học là phức tạp Bởi vì những đặc điểm của sản phẩm này

có ảnh hưởng lớn tới việc định giá Cụ thể là: [3] [4]

- Nghiên cứu khoa học có đặc điểm là tính mạo hiểm cao do thời gian nghiên cứu kéo dài, khả năng thành công phụ thuộc nhiều yếu tố

- Giá trị của các sản phẩm KHCN đều có tính thời gian Thời gian tồn tại thực tế của một sản phẩm KHCN

có thể dài ngắn khác nhau nhưng không phải là vô hạn Với sự bùng nổ của kỹ thuật, sự cạnh tranh và nhiều yếu tố khác, các sản phẩm KHCN sẽ dần trở nên lạc hậu và cần phải được điều chỉnh hoặc thay thế Hiện tượng này cũng giống như sự hao mòn vô hình của tài sản cố định

- Hiệu quả của sản phẩm nghiên cứu KHCN phụ thuộc vào nhiều yếu tố Khi đưa sản phẩm vào áp dụng đại trà trong thực tế có lúc không cho kết quả như mong muốn Đó là vì những điều kiện trong thực tế phức tạp hơn nhiều so với những điều kiện đã được đơn giản hóa trong quá trình nghiên cứu

- Hiệu quả chỉ được bộc lộ khi đưa sản phẩm vào ứng dụng trong thực tế Ngay cả khi sản phẩm đã được đưa vào áp dụng thì cũng cần thời gian để hiệu quả biểu hiện một cách rõ ràng

- Sản phẩm KHCN thường có giá trị cao do là kết quả của lao động trí tuệ Nói chung, lao động trình độ càng cao thì sản phẩm KHCN càng có giá trị lớn Tuy nhiên, không ít trường hợp giá trị của sản phẩm nghiên cứu lại không tương xứng với trình độ của người nghiên cứu

Với những đặc điểm trên, việc định giá phần mềm các sản phẩm khoa học trở nên phức tạp Bởi vậy, trong thực tế, người ta phải tìm ra một số giải pháp khả thi:

+ Theo tỷ lệ phần trăm chi phí thực tế đã thể hiện trong phần cứng của đề tài

+ Theo tỷ lệ phần trăm trên lợi nhuận phụ thêm so với mức lợi nhuận dự tính

+ Theo tỷ lệ phần trăm trên hiệu số giữa mức lợi nhuận trước và sau khi áp dụng sản phẩm nghiên cứu KHCN

+ Phần mềm của sản phẩm KHCN cũng là một dạng tài sản vô hình [4] [5], vì vậy, việc định giá cũng có thể chấp nhận phương pháp định giá tài sản vô hình

Nói tóm lại, Nguyên tắc thoả thuận là cơ sở về mặt lý thuyết của việc định giá "phần mềm" trong giá thành sản phẩm KHCN

2 Các nguyên tắc chung trong định giá sản phẩm KHCN:

Có nhiều cách phân loại sản phẩm KHCN Nhưng dù là loại nào thì việc định giá cũng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau đây:

* Giá trị của sản phẩm khoa học công nghệ phải được xác định trên cơ sở giá phí

Có nghĩa là giá trị của sản phẩm KHCN trước hết cũng phải được tính toán dựa trên toàn bộ những hao phí

về lao động sống và lao động vật hóa kết tinh trong sản phẩm

* Thỏa thuận là nguyên tắc chung cho quá trình trao đổi hàng hóa sản phẩm KHCN

- Thỏa thuận là nguyên tắc cơ bản trong việc trao đổi sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế thị trường và do vậy thỏa thuận cũng là nguyên tắc chung cho quá trình trao đổi sản phẩm KHCN

- Tính mới là nét đặc trưng của mặt hàng trí tuệ nói chung và sản phẩm KHCN nói riêng Tính mới biểu hiện ở chỗ sản phẩm KHCN không thể là sự sao chép lại Nói cách khác mỗi sản phẩm KHCN thường mang tính đơn nhất, không có những những sản phẩm tương tự về mặt lý tính để so sánh, trả giá như đối với những hàng hóa tiêu dùng thông thường Việc định giá phải dựa trên kinh nghiệm là chính và sau đó trao đổi theo nguyên tắc thỏa thuận

Tóm lại, việc định giá các sản phẩm nghiên cứu khoa học tuy rất phức tạp nhưng rất có ý nghĩa, sẽ khích lệ

cá nhân và cơ quan chủ trì nghiên cứu khoa học Đặc biệt, trong xu thế hạch toán kinh tế trong nghiên cứu

Trang 5

khoa học và hình thành thị trường KHCN thì vấn đề định giá các sản phẩm KHCN sẽ ngày càng trở nên bức xúc Bởi vậy, kiến nghị các cơ quan quản lý KHCN cần sớm hoàn thiện cơ chế định giá sản phẩm KHCN, và trước hết cần sớm đưa tiêu chí định giá vào nội dung nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học

III KẾT LUẬN

Sắp tới Việt Nam sẽ gia nhập WTO, thị trường Việt Nam (bao gồm thị trường KHCN) sẽ được mở cửa Đồng thời xu thế chuyển các Viện nghiên cứu ứng dụng sang hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính và hạch toán kinh tế đang tới gần Trước tình hình như vậy, vấn đề đánh giá và định giá sản phẩm nghiên cứu khoa học (sản phẩm khoa học công nghệ) đã trở nên rất quan trọng, cần sớm được nghiên cứu và hoàn thiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] GS ĐẶNG ỨNG VẬN, Về một mô hình đánh giá định lượng các công trình khoa học công nghệ, Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học công nghệ” Hạ Long 8/2003 Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường

[2] HOÀNG NGỌC DOANH, Nghiên cứu phương pháp luận đánh giá nhiệm vụ khoa học công nghệ, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ, Kỷ yếu năm 2000 NXB KH&KT

[3] HOÀNG VĂN TUYÊN, Nghiên cứu cơ chế hoạt động của các Viện nghiên cứu phát triển tự chủ tài chính, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ, Kỷ yếu năm 2000 NXB Khoa học

và Kỹ thuật

[4] ĐOÀN VĂN TRƯỜNG, Giá trị của tài sản vô hình, Viện nghiên cứu khoa học thị trường và giá cả Bộ Tài chính, Tạp chí “Nghiên cứu kinh tế Số 3(310) 3/2003 Viện Kinh tế Việt Nam - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam”

[5] Thẩm định giá đối với sở hữu trí tuệ, Văn phòng thẩm định giá Ôxtrâylia 2000

2 2 BẢNG PHỐI HỢP CHI TIẾT VỀ VIỆC “TRÌNH BÀY” VÀ “ĐÁNH GIÁ” MỘT VĂN BẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Thầy Hoàng Ngọc Hùng kính mến

Nói khí không phải, hay là thầy ghé đến chỗ tôi để gia đình chúng tôi cảm ơn thầy một phát vì có chuyện thế này

Tôi là bác sĩ đông y đã nghỉ hưu nhưng vẫn hành nghề, trước đây từng giảng dạy nghề y, đã là ông nội và ông ngoại Gia đình tôi có hẵn một đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên thầy ạ: một chị hiệu trưởng, 1 anh hiệu phó là thạc sĩ, 1 anh tổ trưởng Anh văn, 1 chị giáo viên Tin học Đã mươi năm rồi tôi vẫn nghe chúng

nó cãi nhau về cái gọi là Sáng kiến kinh nghiệm để thi giáo viên Giỏi gì đấy Chẳng biết ra sao nhưng tôi ngờ rằng chúng chẳng hiểu gì về chuyện này trong khi vẫn cứ là GV Giỏi cho đến hiệu trưởng giỏi thầy Hùng ạ Dâu tôi (là hiệu trưởng) đã nói với anh chị em đồng nghiệp trong nhà rằng "thường giúp nhau và cãi nhau về Sáng kiến kinh nghiệm như chị em chúng nó mà chẳng hiểu gì về chuyện viết rồi chấm sáng kiến kinh nghiệm thì thiệt khó tin là có ai đó thấu đáo về việc này" Nó lại còn thú thiệt rằng đã là hiệu trưởng như nó nhưng vẫn cứ hiểu lơ mơ mà lại còn được quyền chấm sáng kiến của người khác thì thiệt là

“mang tội với trời” Ấy vậy cho nên khi tôi chỉ cho chúng nó đọc mấy bài của thầy thì cả mấy chị em sáng mặt cả ra Nói thầy đừng giận chứ thằng út nhà tôi (tốt nghiệp sư phạm loại Giỏi thầy nhé) bảo rằng

“Những chuyện lùng bùng như vậy mà lão (xin lỗi thầy) xoẹt mấy trang là sáng ra ngay Kinh thật” và kể rằng đã nghe nhiều người giảng giải nhưng vui thì có nhưng vẫn chỉ hiểu lờ mờ Chị dâu nó lại bảo "viết như thế thì lão (xin lỗi thầy) nói chắc chắn dễ hiểu hơn" Rồi chúng nó xoay ra cảm ơn tôi là đã bắt được của và cho phép tôi tha hồ chiếm dụng một cái máy vi tính (cảm ơn thầy Hùng) Chẳng biết thầy đã viết gì

và chúng đã hiểu thêm gì nhưng năm nay con cái nhà tôi đều hồ hởi về vụ viết cũng như nói về chuyện sáng kiến với bạn bè ở trường, lại được các thầy cô gọi điện để xin bày biểu thêm làm tôi cũng thơm lây Còn cô dâu hiệu trưởng nhà tôi thì tự tin phải biết

Dông dài như thế để lại cũng để cảm ơn thầy, chúc thầy khoẻ để giúp thêm cho bà con (nghe như thầy đâu chỉ hoạt động hăng ở diễn đàn này mà còn ở các vụ hướng đạo sinh thì phải) Cô hiệu trưởng trường cấp III nhà tôi có thưa rằng nếu thầy “Ừ !” cho một tiếng ở đây thì nó sẽ mời thầy về nói chuyện với giáo viên trường nó một ngày (xin thầy thứ lỗi là “bao trọn gói - đi về 3 ngày” thầy Hùng ạ) và mời thầy đến thăm chúng tôi một lần Thầy bỏ qua cho những lời gì không phải May là chúng tôi đã giao cho một ông giáo trong nhà viết thư này, nếu để bố chúng nó viết thì chắc là thầy Hùng lại chỉ ra lắm lỗi

Lại cảm ơn và kính chào thầy

Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng

Gian khổ sẽ dành về phần ai ?

2.3 SỬ DỤNG BẢNG PHỐI HỢP CHI TIẾT:

Trang 6

Từ “các nội dung văn bản SKKN được liên kết theo logic nhận thức” phối hợp với bảng điểm giúp người chấm “đọc đến đâu tính điểm đến đó và đọc xong có thể tính được điểm tổng” Sự thống nhất giữa dàn ý chi tiết của nội dung văn bản SKKN với trình tự các tiêu chuẩn đánh giá của thang điểm giúp giám khảo dễ sử dụng

BẢNG PHỐI HỢP cũng góp phần hạn chế sự thiếu thống nhất giữa các giám khảo khi cùng đánh giá 1 SKKN, giúp các giám khảo chưa kinh qua hoạt động thực tiễn như tác giả vẫn dễ hình dung các công đoạn trong quy trình cải tiến của từng SK cụ thể

XẾP HẠNG SKKN

XẾP HẠNG

D-CHƯA ĐẠTC - ĐẠTB - KHÁA - MỨC ĐIỂM > 50 điểm,50 – 69, 70 – 84, điểm85 – 100

3 CHÚ Ý:

Lý luận nhận thức DVBC là tri thức khoa học về các quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển chung nhất của tư duy – trong đó có hoạt động nhận thức về cải tiến; vì vậy, để thực hiện hoạt động cải tiến và quản lý công tác sáng kiến một cách hiệu quả cần ứng dụng lý luận nhận thức DVBC một cách nghiêm túc

và sáng tạo

Để “CHỈ ĐẠO VIỆC TRÌNH BÀY VÀ ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRONG PHONG TRÀO THI ĐUA - NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CỦA QUẦN CHÚNG LAO ĐỘNG”, cần chú ý:

Quá trình cải tiến không là hành động tức thời, giản đơn, máy móc mà là một quá trình biện chứng, tích cực, chủ động, sáng tạo Sự chủ động đầu tiên của tác giả được biểu hiện qua việc đăng ký với tổ chuyên môn về đề tài sáng kiến dự định thực hiện - không đợi khi có thông báo mới nhớ xem mình đã có SKKN gì;

3.1 Quy trình hình thành văn bản SKKN - 2 dạng tác giả:

Cấp tổ (chuyên môn, bộ môn, nghiệp vụ, sản xuất, ) căn cứ vào thời điểm tác giả đăng ký đề tài cải tiến để phân loại tác giả thành 2 dạng để giúp đỡ một cách thiết thực (dạng “áp dụng sáng kiến trước khi đăng ký”; dạng “áp dụng sáng kiến sau khi đăng ký”)

Thực tiễn là cơ sở hình thành SK, là nơi đánh giá SK và SKKN là “giải pháp cải tiến từ nghiệp vụ và tổ chức hiện có của đơn vị”; người đánh giá cần chú ý tính chất nầy để hoá thân vào tác giả, cảm nhận trọn vẹn đặc điểm tình hình “nghiệp vụ và tổ chức” nơi tác giả thực nghiệm khoa học để nắm đúng sự tiến bộ - trước và sau khi áp dụng SK;

3.2 Cộng đồng tiếp nhận SKKN không chỉ để vận dụng mà còn để “tiếp tục cải tiến” nó Việc cải tiến những SKKN chính là một trong những biểu hiện thuộc tính vận động và phát triển của nhận thức (như loại

đề tài “áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật”);

3.3 Về các cặp phạm trù liên quan với quá trình hình thành SKKN:

3.3.1 “Nguyên nhân – kết quả”: SKKN (lý luận) là cái đến sau hoạt động thực tiễn nhưng không phải ai có thực tiễn là có thêm lý luận Để tạo ra lý luận cần phải có những điều kiện nhất định mà một trong số đó là phải trải qua quá trình “tổng kết kinh nghiệm - TKKN” bằng các phương pháp nhận thức khoa học (phân tích - tổng hợp; quy nạp - diễn dịch; lịch sử - logic; trừu tượng - cụ thể );

3.3.2 Nội hàm hẹp thì ngoại diên rộng, tên của đề tài SKKN càng gọn càng làm cho người đọc nghĩ rằng phạm vi ứng dụng của SK đó càng rộng (trong khi SKKN là dạng lý luận để giải quyết một loại mâu thuẫn

cụ thể, giới hạn ở một lĩnh vực cụ thể của công vụ) - không có SKKN vạn năng cũng như không có thuốc chữa bách bệnh;

Trang 7

3.3.3 Về phạm trù không gian: Tổng kết kinh nghiệm (TKKN) không chỉ “tổng kết” từ các dữ kiện KN do chủ thể trực tiếp quan sát tại chỗ; với các phương pháp nhận thức khoa học và công nghệ thông tin ngày nay, tác giả phối hợp nguồn thông tin thu thập được từ nơi khác (không gian khác) Để chứng minh tính hiệu quả của SK, tác giả không chỉ cho biết kết quả ở mẫu thực nghiệm mà còn so kết quả đó với mẫu đối chứng (không gian khác) Về thời gian, tác giả không chỉ nêu kết quả ở mẫu thực nghiệm sau khi áp dụng

SK mà còn so sánh kết quả đó với thực trạng ban đầu (tiền quá khứ) khi chưa có SK TKKN không chỉ là

“tổng kết” từ các dữ kiện KN vừa mới xảy ra mà còn huy động KN bản thân đã tích lũy, KN của đồng nghiệp và cả kho tàng KN của nhân loại

3.3.4 “Lợi ích” tuy là mục tiêu chủ yếu nhưng không là mục đích duy nhất của công tác SK bởi còn căn cứ vào yếu tố khác như “tính đạo đức”, “tính giai cấp” Vì vậy, không vì lợi để sử dụng bất cứ SK nào Nói cách khác, coi “chuột” (lợi ích) là mục đích nhưng không thể vì thế mà

ĐỀ NGHỊ

q Để bảo đảm cho công tác sáng kiến hoạt động hiệu quả cần xây dựng một hệ thống phương tiện - với các sổ sách, giấy tờ, phần mềm quản lý công tác sáng kiến;

q Phía các ngành chức năng sớm lập những website phù hợp cho việc đăng ký cải tiến, phổ biến sáng kiến, bảo hộ quyền tác giả

q Thông qua việc giảng dạy học phần Lý luận nhận thức (Môn Triết học DVBC), giúp học viên vận dụng được vào việc “trình bày và đánh giá văn bản SKKN”; từ cơ sở lý luận nhận thức để phát triển cho học viên tư duy cải tiến, phát triển kỹ năng “trình bày văn bản SKKN” và “đánh giá văn bản SKKN” trong khi học tập cũng như trong thực tiễn công vụ sau này

q Tiếp tục nghiên cứu về các mẫu câu tiếng Việt sử dụng trong văn bản SKKN; nhất là đối với các thì (quá khứ, tiền quá khứ, tương lai ), các mẫu câu (giả thuyết, đề nghị ), các kiểu liên kết đoạn giúp cho việc soạn thảo, biên tập, sử dụng và biên dịch văn bản SKKN ra tiếng nước ngoài một cách chính xác TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 TS Nguyễn Duy Quý: Giáo trình Triết học Mác Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội, 2003;

2 TS Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học - NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2002;

3 Quốc hội khoá IX: Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả - Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 1995

4 Quốc hội khoá X: Luật Khoa học và Công nghệ - Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 2000;

5 Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước : Tập Luật lệ về khoa học và kỹ thuật - Hà Nội, 1978;

6 Cục Sáng chế: Các văn bản pháp luật về sáng kiến, sáng chế - Hà Nội, 1990;

7 Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hướng dẫn xét công nhận danh hiệu thi đua – ngày 02.7.2003;

Sau khi nhận phiếu ĐĂNG KÝ ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN của tác giả, sự giúp đỡ đầu tiên của Tổ là mời tác giả thuyết minh về công việc của mình Trong lần thuyết minh này, tổ là bên hỏi (vấn), tác giả là bên đáp (đề)

SKKN là đứa con tinh thần của tác giả Do tác giả là thành viên của tổ nên SKKN còn là sản phẩm chung của "gia tộc" ấy; cả tộc phải có trách nhiệm chất vấn một cách khoa học, chân tình trước khi xác nhận giá trị của SKKN này

Ở lĩnh vực được chọn để cải tiến, cần đạt những gì mới coi là tốt (chuẩn)? Cấp quản lý nào chỉ đạo như thế ? Ở văn bản, tài liệu nào ?

Thực trạng khi chưa đổi mới ở đó đã diễn ra như thế nào ? (tác giả cần miêu tả, tường thuật phần này một cách cụ thể)

So với chuẩn thì kém thua bao nhiêu ? So với mức trung bình thì kém bao nhiêu ?

Nếu không đổi mới sẽ tác hại thế nào (cho những ai) ?

Khi chưa cải tiến, ở đó đã áp dụng những giải pháp nào để giải quyết công việc ?

Những nguyên nhân nào gây nên sự kém cỏi ? Nguyên nhân nào là chủ yếu ?

Dựa vào cơ sở lý luận nào để định hướng việc cải tiến, giải quyết vấn đề ?

Tên đề tài cụ thể là gì ? Khi đọc tên đề tài, có thể gây ra những hiểu nhầm nào không ? Nên điều chỉnh tên

đề tài ra sao để tránh hiểu nhầm ?

Tác giả cho rằng có thể làm cách nào để cải thiện thực trạng, nâng hiệu quả ?

Việc cải tiến để giải quyết vấn đề đã lần lượt diễn ra trong bao lâu ?

Đã áp dụng vào những trường hợp nào ? Lúc nào ? Mấy lần ? Mỗi lần trong bao lâu ?

Đã chọn các mẫu thực nghiệm nào ? Việc đối chứng đã tiến hành thế nào ?

Những ai ở tổ và cấp trên đã quan sát, kiểm tra ? Cụ thể vào lúc nào ? Định khi nào nộp bảng thảo SKKN cho tổ ?

Cụ thể, SKKN đã tạo lợi ích thiết thực gì ?

So với khi chưa có SK thì lĩnh vực được cải tiến đã có những tiến bộ thuộc mặt nào ?

So với mẫu đối chứng (không dùng SK) thì kết quả đã tăng lên bao nhiêu, gấp mấy ?

Trang 8

So với yêu cầu (chuẩn) của Bộ, Sở thì kết quả sau khi đổi mới ra sao (gần đạt, đạt hay vượt) ? Những người khảo sát hiệu quả thực nghiệm cuối cùng của SK đã có những ý kiến khen ngợi cụ thể nào ? Họ là ai ? SKKN sẽ thuộc loại nào ? (Là “giải pháp cải tiến kỹ thuật”, “giải pháp hợp lý hoá sản xuất” hay “giải pháp hợp lý hoá nghiệp vụ công tác” ?)

Phía đồng nghiệp sẽ sử dụng SKKN là những ai, sử dụng vào việc gì ở họ ?

Ý nghĩa của SKKN (đối với thực tiễn công vụ, với lý luận ?)

Những gì liên quan việc áp dụng sáng kiến vào thực tiến công tác ?

Những gì liên quan đến việc phát huy, mở rộng sáng kiến ?

Các cá nhân và cấp quản lý nào có liên quan đến việc giúp đỡ cho việc nâng hiệu quả áp dụng SKKN ? Sau khi nhận phiếu ĐĂNG KÝ ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN của tác giả, sự giúp đỡ đầu tiên của Tổ là mời tác giả thuyết minh về công việc của mình Trong lần thuyết minh này, tổ là bên hỏi (vấn), tác giả là bên đáp (đề)

SKKN là đứa con tinh thần của tác giả Do tác giả là thành viên của tổ nên SKKN là sản phẩm chung của "gia tộc" ấy; cả tộc phải có trách nhiệm chất vấn một cách khoa học, chân tình trước khi giúp tác giả nghiên cứu (tìm hiểu), thử nghiệm SK (kết hôn) và hình thành (đẻ ra) đứa con của mình là SKKN

Mục đích:

- Hỏi để giúp tác giả hình thành SK có chất lượng cao

- Hỏi để kịp thời điều chỉnh, không để đến khi "nộp văn bản" mới có ý kiến sửa đổi

Nội dung:

- Dùng câu hỏi để phát hiện những "sự cố" trong đề tài của đồng nghiệp; hỏi kỹ lưỡng để giúp một cách hiệu quả

- Từ câu hỏi gốc, tổ sẽ vận dụng vào lĩnh vực cải tiến để hỏi tác giả và cùng với tác giả trả lời

Ở lĩnh vực được chọn để cải tiến, cần đạt những gì mới coi là tốt (chuẩn)? Cấp quản lý nào chỉ đạo như thế ? Ở văn bản, tài liệu nào ?

Thực trạng khi chưa đổi mới ở đó đã diễn ra như thế nào ? (tác giả cần miêu tả, tường thuật phần này một cách cụ thể)

So với chuẩn thì kém thua bao nhiêu ? So với mức trung bình thì kém bao nhiêu ?

Nếu không đổi mới sẽ tác hại thế nào (cho những ai) ?

Khi chưa cải tiến, ở đó đã áp dụng những giải pháp nào để giải quyết công việc ?

Những nguyên nhân nào gây nên sự kém cỏi ? Nguyên nhân nào là chủ yếu ?

Dựa vào cơ sở lý luận nào để định hướng việc cải tiến, giải quyết vấn đề ?

Tên đề tài cụ thể là gì ? Khi đọc tên đề tài, có thể gây ra những hiểu nhầm nào không ? Nên điều chỉnh tên

đề tài ra sao để tránh hiểu nhầm ?

Tác giả cho rằng có thể làm cách nào để cải thiện thực trạng, nâng hiệu quả ?

Việc cải tiến để giải quyết vấn đề sẽ lần lượt diễn ra trong bao lâu ?

Sẽ áp dụng vào những trường hợp nào ? Lúc nào ? Mấy lần ? Mỗi lần trong bao lâu ?

Sẽ chọn các mẫu thực nghiệm nào ? Việc đối chứng sẽ tiến hành thế nào ?

Những ai ở tổ và cấp trên sẽ quan sát, kiểm tra ? Cụ thể vào lúc nào ? Định khi nào nộp bảng thảo SKKN cho tổ ?

Cụ thể, SKKN có thể sẽ tạo lợi ích thiết thực gì ?

So với khi chưa có SK thì lĩnh vực được cải tiến có thể sẽ có những tiến bộ thuộc mặt nào ?

So với mẫu đối chứng (không dùng SK) thì kết quả có thể sẽ tăng lên bao nhiêu, gấp mấy ?

So với yêu cầu (chuẩn) của Bộ, Sở thì kết quả sau khi đổi mới có thể sẽ ra sao (gần đạt, đạt hay vượt) ? Những người khảo sát hiệu quả thực nghiệm cuối cùng của SK có thể sẽ có những ý kiến khen ngợi cụ thể nào ? Họ là ai ?

SKKN có thể sẽ thuộc loại nào ? (Là “giải pháp cải tiến kỹ thuật”, “giải pháp hợp lý hoá sản xuất” hay

“giải pháp hợp lý hoá nghiệp vụ công tác” ?)

Phía đồng nghiệp sẽ sử dụng SKKN là những ai, sử dụng vào việc gì ở họ ?

Ý nghĩa của SKKN (đối với thực tiễn công vụ, với lý luận ?)

Những gì liên quan việc áp dụng sáng kiến vào thực tiến công tác ?

Những gì liên quan đến việc phát huy, mở rộng sáng kiến ?

Các cá nhân và cấp quản lý nào có liên quan đến việc giúp đỡ cho việc nâng hiệu quả áp dụng SKKN ? Phương pháp hỏi - một nghệ thuật lập luận

Trong cuộc sống chúng ta luôn cần tới sự lập luận Đặt câu hỏi cũng là một cách lập luận

Trang 9

Một mục sư da trắng đã hỏi một lãnh tụ da đen: "Ngài có chí hướng giải phóng người da đen, sao ngài không sang châu Phi, ở đó rất nhiều người da đen?” Lãnh tụ da đen nọ lập tức hỏi lại: “Còn ngài có chí hướng giải phóng linh hồn, sao ngài không xuống địa ngục, ở đó có rất nhiều linh hồn?”

Hỏi để bác bỏ

Trong quá trình lập luận, trình bày lý lẽ cho một sự việc, không nhất thiết cứ phải dùng tới các mệnh đề và suy luận theo logic tam đoạn luận Aristote Phương pháp hỏi được dùng trong không ít trường hợp lại có kết quả tốt hơn, có giá trị hơn những lời khẳng định, và những cách hỏi đó thể hiện rõ trí tuệ của người lập luận

Để bác bỏ luận đề “Thượng đế là toàn năng và thượng đế sáng tạo ra thế giới” của các nhà thần học kinh viện, Cavnilo hỏi: “Thượng đế có thể tạo ra tảng đá mà ông ta không nhấc nổi hay không ?” Nếu người trả lời chọn một trong hai khả năng, thì kiểu gì cũng anh ta cũng thua Chọn khả năng đầu “có thể tạo ra được”, sẽ dẫn tới một kết luận là tồn tại tảng đá mà thượng đế không nhấc nổi Hệ quả của điều này là Thượng đế không toàn năng Chọn khả năng sau “không thể tạo ra được” thì chính người trả lời đã gián tiếp bác bỏ luận đề Thượng đế là toàn năng Có thể tạo câu hỏi dựa vào quy tắc lấy điều không thể để chứng minh điều không thể nhằm vạch ra điều phi lý của đối phương

Có một truyện dân gian Ấn Độ như sau: ngày xưa, có vị vua Ấn Độ bệnh nặng, thầy thuốc tâu với vua rằng chỉ cần uống sữa bò đực là hết bệnh ngay Mà sữa này chỉ có nhà thông thái Cabuo mới tìm được (người thầy thuốc nọ vốn thâm thù Cabuo) Tin lời thầy thuốc, nhà vua ra lệnh cho Cabuo đi tìm sữa bò đực Nhà thông thái này rất lo lắng, chưa biết tìm kế gì để thoát thân Cô con gái khuyên cha đừng lo, cô sẽ có cách Hôm sau đang lúc nửa đêm yên tĩnh, con gái Cabuo mang ít quần áo cũ đến bên bờ sông cạnh hoàng cung giặt giũ dưới cửa sổ phòng ngủ quốc vương Cô cố tình khua động rõ to làm vua không sao ngủ được Cả giận, nhà vua phái vệ binh bắt cô gái giải về hỏi tội: Cớ sao đang đêm đến đây giặt giũ ầm ầm làm ta không ngủ được? Ngươi có biết tội không? Cô gái làm như sợ hãi: “Dạ, dân nữ biết Mong bệ hạ tha tội Có điều, dân nữ bất đắc dĩ mới phải làm như vậy Số là, chiều nay cha dân nữ mới đẻ em bé, mà trong nhà chẳng còn quần áo sạch sẽ quấn cho bé nên dân nữ đành phải đi giặt vào lúc này

- Nói láo! Ngươi chế riễu ta chắc? Ai đời đàn ông lại đẻ con!

- Dạ, nếu bệ hạ có thể hạ lệnh cho người đi kiếm sữa bò đực thì sao đàn ông lại không thể đẻ được ạ? Nghe vậy, nhà vua cười: Chắc chắn ngươi là con gái của Cabuo rồi Thôi, về bảo cha ngươi cứ giữ lấy món sữa bò đực cho em bé ông ta vừa đẻ bú nhé!

Thế là Cabuo thoát nạn

Hỏi để khuyên can

Không biết thì hỏi Không ai bắt tội một người hỏi vì không biết Vì thế, những trung thần, cố vấn thường dùng cách hỏi để khuyên can vua chúa, để góp ý khéo léo, tế nhị với cán bộ lãnh đạo cao cấp mà vẫn bảo

vệ được cái đầu (hoặc ghế) của mình

Chuyện xưa: “Con ngựa quý của Tề Cảnh Công bỗng nhiên ốm, lăn đùng ra chết Vua Tề vô cùng giận dữ,

hạ lệnh chặt tay chân người coi ngựa Đây là một lệnh bạo sát vô lý Tội để ngựa chết chưa nặng đến mức phải chặt chân chặt tay Nhiều người muốn can Vua Tề hăm đe: Ai dám xin cho nó sẽ bị giết Quần thần xanh mặt, không dám hé răng nữa Tề Án Anh, để cứu người coi ngựa, bèn nghĩ ra một mẹo hỏi vua Ông đến trước người coi ngựa, túm tóc anh ta giơ kiếm lên rồi “luận tội”: “Ngươi nuôi ngựa rồi làm ngựa chết Đấy là tội thứ nhất Ngươi làm nhà vua vì ngựa chết mà giết người, trăm họ mà biết tất oán hận vua Đây là tội thứ hai Chư hầu biết việc này tất sẽ khinh nước ta Đây là tội thứ ba” Bỗng ông quay sang hỏi vua Tề:

“Tâu Đại vương, có một điều thần chưa rõ, xin Thánh thượng dạy Thời Nghiêu Thuấn xưa, khi các bậc vua hiền minh này chặt chân tay người, không biết là chặt bên nào trước?”

Lát sau vua mới hiểu đó là câu hỏi châm biếm, hạ lệnh tha cho người coi ngựa

Hỏi lại cũng là một cách trả lời

Ngày 26/10/2000, phóng viên báo Pháp Le Figaro đã hỏi Tổng thống Nga V Putin như sau: “Vùng Cận Đông đang ở trung tâm thời sự, nhưng Nga lại không đóng vai trò gì ở đó cả Liệu có phải sự vắng mặt của ông tại Hội nghị thượng đỉnh Sharmel Sheikh là bằng chứng cho việc nước Nga không còn là cường quốc?” Tổng thống Putin: “Tôi xin trả lời câu hỏi của ông bằng câu hỏi: Chẳng lẽ ở đó người ta đã giải quyết được vấn đề gì sao?”

Một lần Kalinin, một lãnh tụ Cộng sản Nga, giảng giải cho các đại biểu nông dân về tầm quan trọng của liên minh công nông Giảng giải đã cặn kẽ, nhưng có người vẫn chưa hiểu Một người hỏi: Với chính quyền

Xô Viết thì bên nào quý hơn, công nhân hay nông dân? Kalinin hỏi lại: Với một người thì chân nào quý hơn, chân phải hay chân trái?

Đêm giao thừa năm 1831, tại một sảnh đường, nhà vật lý người Anh M Faraday làm một thí nghiệm để chứng minh rằng từ trường có thể sinh ra điện Khung dao động liên tục quay giữa hai cực nam châm và điện kế từ từ nhích khỏi vạch 0 Mọi người rất thán phục Nhưng một mệnh phụ cười mỉa:

Trang 10

- Thưa ngài, món đồ chơi này dùng để làm gì vậy?

- Thưa phu nhân, đứa trẻ mới đẻ thì dùng được việc gì ? Faraday nghiêng mình hỏi lại Và một tràng vỗ tay tán thưởng vang lên

Hỏi lại - một nghệ thuật né tránh trả lời rồi chuyển lại cho đối phương một câu hỏi tương tự, một câu hỏi khó

Có giai thoại sau: Tiền Ích Khiêm, viên thượng thư bộ Lễ triều đình nhà Minh, nhưng đầu hàng nhà Thanh,

có người cháu gái sau mãn tang chồng đã tái giá Gặp cháu, ông ta hỏi móc: “Hai lần cưới đều là cưới, lần trước trống nhạc vang trời còn lần này sao im ắng vậy?” (theo tục lệ địa phương, trong lễ cưới tái giá không

có trống nhạc)

Cô cháu biết người cậu hỏi mỉa về nhân thân của mình Theo đúng cách của người cậu, cô hỏi lại: “Hai lần cậu đến mừng đám cưới cháu, lần trước cậu mặc áo cổ tròn, còn lần này sao lại đính móc?” (y phục quan lại nhà Minh mặc áo cổ tròn, y phục nhà Thanh mặc áo đính móc) Người cậu cúi gằm mặt im lặng

Hỏi để chứng minh chân lý

Chất vấn về sự thiếu nhất quán của đối phương để bác bỏ luận điểm của họ và do vậy bảo vệ được mình Những chính khách, những người ra trước vành móng ngựa rất hay dùng biện pháp này

Vào thập niên 30, ở Trung Quốc có sự kiện “Thất quân tử”: Chính quyền Quốc dân đảng bắt 7 nhân sĩ yêu nước chủ trương chống Nhật, định gán cho họ tội liên kết với cộng sản chống lại chính phủ Tại phiên toà, một trong 7 nhân sĩ này là Trâu Thao Phấn đã chất vấn như sau:

“Chúng tôi gửi điện đề nghị Trương Học Lương chống Nhật mà khởi tố chúng tôi câu kết Trương, Dương làm binh biến Chúng tôi cũng gửi điện như vậy cho Chính phủ Quốc dân thì tại sao không nói chúng tôi câu kết với Chính phủ Quốc dân? Đảng Cộng sản viết thư công khai cho chúng tôi mà khởi tố chúng tôi câu kết với Đảng Cộng sản Đảng Cộng sản cũng viết thư công khai cho Tưởng uỷ viên trưởng và Quốc dân đảng, vậy thì phải chăng Tưởng uỷ viên trưởng và Quốc dân đảng cũng câu kết với Đảng cộng sản?” (Tới đây, những người dự phiên toà cười vang)

Trâu Thao Phấn đã chất vấn vào một mâu thuẫn logic để bác bỏ lời buộc tội: Cùng một hành động A, tại sao người này thì dẫn tới kết luận B, còn với người khác thì không? Do vậy, lời buộc tội không có giá trị

2 CÔNG TÁC SÁNG KIẾN DƯỚI ÁNH SÁNG KHOA HỌC CỦA LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG

2.1 NHẬN THỨC VỀ HOẠT ĐỘNG CẢI TIẾN

2.1.1 Phép biện chứng duy vật là môn khoa học nghiên cứu các quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển chung nhất của giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người (C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t 20, tr 201); trong đó có hoạt động cải tiến (dạng hoạt động nhận thức nhằm biến đổi giới tự nhiên và xã hội )

3.1.2 Hoạt động thực tiễn của con người là dạng hoạt động vật chất do con người chủ động thực hiện, mang tính chất lịch sử – xã hội, nhằm biến đổi nhận thức, biến đổi giới tự nhiên, xã hội Hoạt động thực tiễn gồm các dạng:

Dạng 1 - Hoạt động sản xuất vật chất (hoạt động cơ bản - quyết định đối với sự sinh thành và phát triển xã hội loài người);

Dạng 2 - Hoạt động chính trị – xã hội: biến đổi, cải tạo xã hội;

Dạng 3 - Hoạt động thực nghiệm khoa học (thực hiện trong môi trường nhân tạo, giới hạn về không gian và thời gian được chủ thể lựa chọn để thực hiện hoạt động thực tiễn nhằm kiểm chứng giá trị (độ tin cậy) của sáng kiến (sản phẩm của hoạt động nhận thức)

Đối với nhận thức, hoạt động thực tiễn không chỉ là cơ sở, là động lực, mục đích mà còn là thước

đo đáng tin cậy Sản phẩm nhận thực dù hợp lý nhưng chưa qua thực tiễn thì chưa có độ tin cậy cao Trong thực tế, hoạt động thực tiễn làm nảy sinh nhu cầu nhận thức, kích thích sự cải tiến và hình thành SK; nhưng

SK có thể chưa phù hợp vì vậy, phải đưa nó vào thực tiễn (thực nghiệm khoa học) để chủ thể tự kiểm tra giá trị của SK, qua đó nâng cao hiệu quả lao động, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ đối với cộng đồng và góp phần khẳng định mình (khi giải quyết được mâu thuẫn cho cộng đồng)

2.1.3 Với cá nhân, con đường nhận thức (nói chung) chân lý là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (Lênin toàn tập, t.29, tr.179) :

Ngày đăng: 01/08/2013, 05:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w