Hồ Chí Minh Email: chon.nq@iasvn.org; Điện thoại: 01234075555 Tóm tắt Nghiên cứu liều lượng N, P, K đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa mào gà trồng chậu được thực hiện tại trường Đạ
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠM, LÂN VÀ KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY
HOA MÀO GÀ (Celosia cristata L.) TRỒNG CHẬU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
EFFECT OF NITROGEN, PHOSPHORUS AND POTASSIUM ON GROWTH AND
DEVELOPMENT OF COCKSCOMB (Celosia cristata L.) GROWN IN POT IN HO
CHI MINH CHI CITY
Lê Công Trình1, Nguyễn Quang Chơn2, Đỗ Đình Đan2, Phạm Thị Minh Tâm3, Bùi Thị Hà3
1 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật thành phố Hồ Chí Minh
2 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
3 Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh
Liên hệ tác giả: Nguyễn Quang Chơn – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đakao, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh Email: chon.nq@iasvn.org; Điện thoại: 01234075555
Tóm tắt
Nghiên cứu liều lượng N, P, K đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa mào gà trồng chậu được thực hiện tại trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh bao gồm hai thí nghiệm Thí nghiệm 1 gồm hai yếu tố N và
K (3; 6; 9 và 12 g N/chậu và 0; 1 và 2 g K 2 O/chậu) trên nền 1 g P 2 O 5 /chậu Dựa trên kết quả đạt được từ thí nghiệm 1, thí nghiệm 2 được thực hiện với các liều lượng 0,6; 1,2; 2,4 và 3,0 g N/chậu kết hợp với 0,5; 1,0 và 1,5 g P 2 O 5 /chậu trên nền 2 g K 2 O/chậu Kết quả cho thấy, trên nền giá thể xơ dừa, tro trấu và phân bò hoai với tỷ
lệ theo thể tích 2:1:1, liều lượng N, P, K thích hợp cho cây hoa mào gà trồng chậu sinh trưởng và phát triển tốt là (g/chậu) 2,4 – 3,0 N + 1,5 P 2 O 5 + 2 K 2 O; trong đó, liều lượng (g/chậu) 2,4 N + 1,5 P 2 O 5 + 2 K 2 O đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với lợi nhuận 1.364.000 đồng/100 chậu và tỷ suất lợi nhuận đạt 1,35 Thời vụ trồng cây hoa mào
gà thích hợp là từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.
Từ khóa: Hoa mào gà, phân đạm, phân kali và phân lân.
Abstract
Effect of N, P, K on growth and development of cockscomb grown in pot was conducted at Nong Lam university Hochiminh city including two experiments Experiment 1 is consist of two factors N and K (3; 6; 9 and 12 g N/pot and 0; 1 and 2 g K 2 O/pot) based on the dose of 1 g P 2 O 5 /pot From the results achieved from the experiment 1, experiment 2 was then conducted with different doses of 0,6; 1,2; 2,4 and 3,0 g N/pot combined with 0,5; 1,0 and 1,5 g P 2 O 5 /pot based on the dose of 2 g K 2 O/pot Results showed that based on the substrate of coconut coir, rice husk ash and cow manure at the rate in volume of 2:1:1, the dose of N, P, K suitable for cockscomb growth and development well was (g/pots) 2,4 - 3,0 N + 1,5 P 2 O 5 + 2 K 2 O; In which, the dose (g/pot) 2.4 N + 1.5 P 2 O 5 + 2 K 2 O achieved the highest economic efficiency with profit of 1,364,000 VND/100 pots and the rate of return (profit/cost) was at 1.35 Planting season of cockscomb is appropriate from November to February next year.
Key words: Cockscomb, nitrogen, phosphorus and potassium.
1. Đặt vấn đề
Hoa mào gà (Celosia cristata L.) hay còn gọi kê quan hoa, kê đầu là loại cây thân thảo thuộc họ Dền (Amaranthaceae) có nguồn gốc xuất xứ từ Ấn Độ, được trồng nhiều ở Nam Mỹ,
Châu Phi, miền Tây Ấn Độ, Đông Nam Á và được du nhập vào Việt Nam từ lâu để trồng làm thuốc Hạt và hoa mào gà có tác dụng cầm máu, chữa phong nhiệt, giun đường ruột, tiêu chảy, bệnh về gan và mắt; lá dùng để chữa bỏng và vết loét (Trần Hợp, 200; Đỗ Tất Lợi, 2004; Nermeen và ctv., 2014) Ngoài ra, do có màu hoa sặc sỡ, lấp lánh và hấp dẫn, hoa mào gà còn
là một loại cây hoa cảnh được ưa chuộng, dùng để trang trí cảnh quan tại các công viên, làm hoa nền tại các lễ hội và có thể sử dụng như là một loại rau để chế biến các món ăn (Đỗ Tất Lợi, 2004; Kitti và ctv., 2010)
Trang 2Những năm gần đây, cùng với đời sống vật chất, tinh thần ngày một nâng cao, việc tiêu thụ hoa, cây cảnh đã trở thành nhu cầu thiết yếu của
xã hội Đây cũng chính là cơ hội thuận lợi để người dân phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh Do vậy, diện tích trồng và sản lượng hoa, cây cảnh không ngừng tăng lên, từ đó mang lại giá trị thu nhập rất cao so với các ngành nông nghiệp khác (Ngô Văn Diện, 1998; Nguyễn Văn Đông, 2010) Trong các biện pháp kỹ thuật canh tác cây trồng nói chung, cây hoa nói riêng, phân bón đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Ở Việt Nam, phân bón đóng góp khoảng 45% tổng sản lượng cây trồng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân hiệu suất sử dụng phân bón chưa cao, chỉ 45 - 50% đối với đạm, 25 - 35% đối với lân và khoảng 60% đối với kali (Nguyễn Văn
Bộ, 2014) Do vậy, việc nghiên cứu liều lượng phân bón phù hợp cho từng loại cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất là rất cần thiết
Cho đến nay, đã có các công trình nghiên cứu về phân bón trên một số loài hoa như hoa cúc (Hoàng Thị Thái Hòa và Đỗ Đình Thục, 2010), hoa đồng tiền (Nguyễn Thị Kim Thanh và Phạm Thị Thanh Thủy, 2008), hoa lan (Nguyễn Thị Kim Lý và ctv., 2010)… Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu chính thống về phân bón được công bố trên cây hoa mào gà Do vậy, đề
tài ‘Ảnh hưởng của đạm, lân và kali đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa mào gà (Celosia cristata L.) trồng chậu tại thành phố Hồ Chí Minh’ được thực hiện nhằm xác định liều lượng
N, P và K thích hợp cho cây hoa mào gà sinh trưởng, phát triển tốt và đạt hiệu quả kinh tế cao
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại trại thực nghiệm Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (10o52’22,0” N và 106o47’15,5” E) từ tháng 11/2016 – 05/2017 với diễn biến thời tiết: nhiệt độ không khí 27,3 – 29,8 oC, độ ẩm không khí 68,5 – 82,6%, số giờ nắng 95,2 – 285,5 giờ/tháng và lượng mưa 5,9 – 213,6 mm/tháng
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống: hoa mào gà lửa (Celosia cristata L.)
- Chậu trồng cây: chậu nhựa màu đen có đục lỗ ở đáy chậu (7 lỗ, đường kính 1,5 cm); kích thước (cm) 20 x 20 x 18 (chiều cao x đường kính miệng x đường kính đáy chậu)
- Giá thể: xơ dừa, tro trấu đã qua xử lý và phân bò ủ hoai với tỷ lệ 2:1:1 (theo thể tích)
- Phân khoáng: Urê (46% N), Super lân (16% P2O5) và KCl (60% K2O)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm hai yếu tố được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại, gồm 20 chậu/nghiệm thức và 1 cây/chậu Hạt giống được gieo trong khay nhựa chuyên dùng trên nền giá thể nêu trên, khi cây được 3 cặp lá thật chuyển vào chậu trồng
Thí nghiệm 1: gồm 12 nghiệm thức (4 liều lượng N: 3; 6; 9 và 12 g/chậu kết hợp 3 liều lượng K2O: 0; 1 và 2 g/chậu) trên nền 1 g P2O5/chậu Thực hiện từ tháng 11/2016 – 02/2017 Thí nghiệm 2: liều lượng N, P, K được điều chỉnh dựa vào kết quả của thí nghiệm 1; gồm 12 nghiệm thức (4 liều lượng N: 0,6; 1,2; 2,4 và 3,0 g/chậu kết hợp với 3 liều lượng P2O5: 0,5; 1,0 và 1,5 g/chậu) trên nền 2 g K2O/chậu Thực hiện từ tháng 02 – 5/2017
Phương pháp bón phân: cả hai thí nghiệm phân lân được bón lót 100%, trộn đều với giá thể trước khi trồng, phân đạm và kali được chia đều cho 4 lần bón thúc (10; 17; 24 và 31 ngày
Trang 3sau trồng - NST) Phân đạm và kali hòa tan trong nước và tưới đều vào chậu cách gốc 3 – 5 cm
Chỉ tiêu theo dõi: đánh dấu cố định 5 cây (chậu)/nghiệm thức đo chiều cao cây (từ bề mặt giá thể đến đỉnh sinh trưởng) tại thời điểm 10; 17; 24; 31; 38 và 45 NST Tại thời điểm 45 NST, đo đường kính gốc (cách mặt giá thể 5 cm), số phát hoa (đếm tất cả số phát hoa/cây), chiều dài phát hoa trên thân chính Phẩm chất cây xuất vườn được đánh giá theo 2 cấp bằng cảm quan; cây loại 1 có bộ lá xanh tốt, cây khỏe, tán cân đối có nhiều phát hoa và màu sắc đẹp và cây loại 2 có bộ lá xanh tốt, có biểu hiện vết sâu bệnh, tán không cân đối và ít phát hoa
Tính toán hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi Trong đó, tổng chi là tổng các chi phí vật liệu đầu vào và công lao động; tổng thu là tổng số cây (loại 1 hay loại 2) nhân với giá bán tại thời điểm xuất vườn Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/Tổng chi
Số liệu thu thập được phân tích phương sai (ANOVA), các giá trị trung bình được phân hạng theo trắc nghiệm LSD (Least Significant Differences – khác biệt có ý nghĩa nhỏ nhất) và
T-test ở mức α < 0,05 bằng phần mềm xử lý thống kê GenStat, phiên bản 7.1 năm 2003
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Ảnh hưởng của N, P, K đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa mào gà
3.1.1 Chiều cao cây
Nhìn chung, đối với các liều lượng N (N1 = 3, N2 = 6, N3 = 9 và N4 = 12 g/chậu) và K (K1 = 0, K2 = 1 và K3 = 2 g K2O/chậu) tốc độ tăng trưởng chiều cao cây hoa mào gà ở giai đoạn từ 10 – 17 NST chậm hơn so với giai đoạn từ 24 – 38 NST, sau đó tăng trưởng chậm lại
ở giai đoạn từ 38 – 45 NST (Hình 1a và b) Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây trong suốt quá trình sinh trưởng của cây mào gà đạt cao nhất ở nghiệm thức N1 > N2 > N3 > N4 (Hình 1a), nhưng giữa các nghiệm thức K1, K2 và K3 tốc độ tăng trưởng tương đương nhau (Hình 1b)
Hình 1 Ảnh hưởng của N (a) và K (b) đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây hoa mào gà Giai đoạn 45 NST, chiều cao cây hoa mào gà đạt cao nhất ở mức N1 (57,3 cm), khác biệt có ý nghĩa với các mức N2, N3, N4 và thấp nhất ở mức N4 (41,8 cm) Tăng trưởng chiều cao cây hoa mào gà tỷ lệ nghịch với liều lượng N bón Điều này có thể là do lượng N > 3g/chậu sẽ gây mất cân đối với liều lượng P và K (1 g P2O5/chậu và 2 g K2O/chậu), nên đã ức chế sự sinh trưởng về chiều cao Trong khi đó, các liều lượng K1, K2 và K3 chiều cao cây đạt tương nhau (khoảng 50 cm) (Bảng 1)
Trang 4Có sự hỗ tương giữa liều lượng N và K đến chiều cao cây hoa mào gà ở giai đoạn 45 NST Chiều cao cây đạt cao nhất (58,6 cm) ở nghiệm thức N1K3, khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức N2, N3 và N4 kết hợp với các mức K1, K2 và K3; chiều cao cây thấp nhất (37,4 cm) ở nghiệm thức N4K3 Trong cùng một liều lượng N (N1, N2 hay N3), chiều cao cây hoa mào gà có xu hướng tăng lên khi tăng liều lượng K, nhưng đối với liều lượng N4 chiều cao cây lại giảm xuống khi tăng liều lượng K (Bảng 1)
Kết quả ở thí nghiệm 2 (trên nền 2 g K2O/chậu), ảnh hưởng của các mức N (N1 = 0,6; N2 = 1,2; N3 = 2,4 và N4 = 3,0 g N/chậu) và P (P1 = 0,5; P2 = 1,0 và P3 = 1,5 g P2O5/chậu) đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây hoa mào gà được trình bày ở Hình 2 Ở các mức bón N (Hình 2a) và K (Hình 2b) tốc độ tăng trưởng chiều cao cây xảy ra mạnh ở giai đoạn từ 17 – 38 NST; đối với giai đoạn đầu (10 – 17 NST) và giai đoạn cuối (38 – 45 NST), tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm hơn Trong các mức N, tốc độ tăng trưởng chiều cao ở mức N4 > N3 > N2 > N1 (Hình 2a); đối với các mức P có xu hướng ngược lại P1 < P2 < P3 (Hình 2b)
Bảng 1 Ảnh hưởng của N và K đến chiều cao cây hoa mào gà (cm) 45 ngày sau trồng
K1 = 0
K2 = 1
K3 = 2
56,1 57,3 58,6
50,9 53,3 53,3
47,8 48,9 50,9
43,7 44,2 37,4
49,6 50,9 50,1
CV(%) = 5,4; LSD(0,05) của N = 2,6; LSD(0,05) của NK = 4,5
Hình 2 Ảnh hưởng của N (a) và P (b) đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây hoa mào gà
So sánh giữa các mức N và P (Bảng 2) cho thấy, chiều cao cây hoa mào gà ở giai đoạn
45 NST đạt cao nhất ở mức N3 (3,0 g N/chậu) và mức P3 (1,5 g P2O5/chậu) theo thứ tự là 58,8 và 52,8 cm, cao hơn có ý nghĩa so với mức N1 (0,6 g N/chậu), N2 (1,2 g N/chậu) và mức P1 (0,5 g P2O5/chậu)
Mặc dù ảnh hưởng hỗ tương của N và P đến chiều cao cây hoa mào gà ở giai đoạn 45 NST không khác biệt có ý nghĩa, nhưng các nghiệm thức N3P3 và N4P3 có chiều cao cây cao hơn so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 2)
Bảng 2 Ảnh hưởng của N và P đến chiều cao cây hoa mào gà (cm) 45 ngày sau trồng
N1 = 0,6 N2 = 1,2 N3 = 2,4 N4 = 3,0
Trang 5P2 = 1,0
P3 = 1,5 43,043,3 48,448,8 56,759,4 58,759,6 51,752,8
CV(%) = 4,0; LSD(0,05) của N = 2,0; LSD(0,05) của P = 1,8
Từ những kết quả thu được từ thí nghiệm 1 và 2 cho thấy, sinh trưởng chiều cao cây hoa mào gà xảy ra mạnh trong giai đoạn từ 17 – 38 NST và đạt cao nhất ở mức phân bón (g/chậu): 2,4 – 3,0 N + 1,5 P2O5 + 2,0 K2O
3.1.2 Đường kính gốc
Đối với N, liều lượng bón càng cao thì đường kính gốc càng giảm Cây có đường kính gốc lớn nhất ở mức 3 g N/chậu (2,11 cm) khác biệt có ý nghĩa so với các mức đạm cao (6, 9
và 12 g N/chậu) Ngược lại, đối với các mức K đường kính gốc tăng tỷ lệ thuận với liều lượng bón Cây có đường kính gốc lớn nhất ở mức 2 g K2O/chậu (2,5 cm) khác biệt rất có ý nghĩa so với các mức 0 và 1 g K2O/chậu (Bảng 3) Đường kính gốc biến thiên từ 1,46 – 2,59 cm ở mức
N kết hợp với K Mặc dù ảnh hưởng hỗ tương giữa N và K đến đường kính gốc không khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức, nhưng cây hoa mào gà có đường kính gốc lớn nhất ở mức (g/chậu) 3 N + 2 K2O (Bảng 3) Kết quả nghiên cứu của Oroka (2012) cho rằng, bón kết hợp phân hữu cơ (75%) với phân NPK (25%) cây hoa mào gà có đường kính gốc cao hơn so với bón 100% phân NPK và kết hợp phân hữu cơ (50%) với phân NPK (50%) Điều này cho thấy, cây hoa mào gà trồng trên nền hữu cơ, bón N với liều lượng cao và không cân đối với P
và K có tác dụng làm giảm đường kính gốc
Bảng 3 Ảnh hưởng của N và K đến đường kính gốc cây hoa mào gà (cm) 45 ngày sau trồng
K1 = 0
K2 = 1
K3 = 2
1,67 2,06 2,59
1,61 2,00 2,46
1,55 1,91 2,41
1,46 1,85 2,38
1,57 1,96 2,46
CV(%) = 4,7; LSD(0,05) của N = 0,09; LSD(0,05) của K = 0,08 Kết quả thu được từ thí nghiệm 2 cho thấy, khi giảm mức đạm nhỏ hơn 3,0 g N/chậu (0,6; 1,2 và 2,4 g N/chậu) đều làm cho đường kính gốc nhỏ hơn có ý nghĩa so với mức 3,0 g N/chậu Trong khi đó, đường kính gốc tăng tỷ lệ thuận và khác biệt có ý nghĩa với liều lượng
P (0,5; 1,0 và 1,5 g P2O5/chậu) Đường kính gốc đạt cao nhất (2,59 và 2,61 cm) ở nghiệm thức N3P3 và N4P3 và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 4)
Bảng 4 Ảnh hưởng của N và P đến đường kính gốc cây hoa mào gà (cm) 45 ngày sau trồng
N1 = 0,6 N2 = 1,2 N3 = 2,4 N4 = 3,0 P1 = 0,5
P2 = 1,0
P3 = 1,5
1,77 1,83 2,02
2,05 2,15 2,19
2,16 2,31 2,59
2,46 2,55 2,61
2,11 2,21 2,35
CV(%) = 1,4; LSD(0,05) của N = 0,03; LSD(0,05) của P = 0,03; LSD(0,05) của NP = 0,05 Tương tự như chiều cây cao, kết quả từ thí nghiệm 1 và 2 cho thấy, đường kính gốc cây hoa mào gà đạt cao nhất ở mức (g/chậu): 2,4 – 3,0 N + 1,5 P2O5 + 2,0 K2O
3.2 Ảnh hưởng của N, P, K đến chất lượng cây hoa mào gà
Trang 6Bảng 5 cho thấy liều lượng đạm đã ảnh hưởng đến số lượng phát hoa/cây khác biệt có ý nghĩa thống kê Cây có nhiều phát hoa nhất khi bón đạm ở mức 3 g N/chậu đạt 13,0 phát hoa/cây và thấp nhất ở mức 12 g N/chậu (12,0 phát hoa/chậu) Ảnh hưởng của kali đến số phát hoa/cây cũng khác biệt có ý nghĩa Cây có nhiều phát hoa nhất ở mức 2 g K2O/chậu (16,4 phát hoa/cây) và cây có số phát hoa thấp nhất khi không bón kali chỉ 8,9 phát hoa/cây Bón kết hợp 3 g N/chậu với 2 g K2O/chậu làm tăng số phát hoa cao nhất (16,7 phát hoa/cây) Bảng 5 Ảnh hưởng của N và K đến số lượng phát hoa (hoa/cây) 45 ngày sau trồng
K1 = 0
K2 = 1
K3 = 2
9,7 12,7 16,7
9,0 12,0 16,3
8,7 11,7 16,3
8,3 11,3 16,3
8,9 11,9 16,4
CV(%) = 5,4; LSD(0,05) của N = 0,7; LSD(0,05) của K = 0,6
Đạm và lân đều có ảnh hưởng đến số lượng phát hoa/cây trong thí nghiệm 2 (Bảng 6) Đối với đạm, cây có nhiều phát hoa nhất khi bón đạm ở mức 2,4 g N/chậu (13,5 phát hoa/cây) cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại (0,6; 1,2 và 3,0 g N/chậu) Đối với lân, cây có phát hoa nhiều nhất ở mức 1,5 g/chậu (14,7 phát hoa/cây), cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức 0,5 g P2O5/chậu (9,8 phát hoa/cây) và 1,0 g P2O5/chậu (11,8 phát hoa/cây) Kết quả này phù hợp với quan điểm của Lê Nghiêm (2012) đã cho rằng, liều lượng đạm phù hợp cho cây hoa mào gà trồng chậu là 2,7 g N/chậu
Ảnh hưởng hỗ tương giữa 2 yếu tố N và P đến số phát hoa trên cây khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 6) Số phát hoa/cây dao động từ 8,7 – 16,1; trong đó, cây có nhiều phát hoa nhất khi bón đạm ở mức 2,4 và 3,0 g N/chậu kết hợp 1,5 g P2O5/chậu, theo thứ tự là 16,1 và 15,9 phát hoa/cây, khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại Điều này cho thấy ngoài đạm và kali, lân cũng là yếu tố rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây hoa mào gà Lân có tác dụng xúc tiến quá trình phân chia tế bào, kích thích cây ra rễ, làm thân cây cứng, thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả và giúp cải thiện chất lượng của sản phẩm (Vũ Hữu Yêm, 1998)
Bảng 6 Ảnh hưởng của N và P đến số lượng phát hoa (hoa/cây) 45 ngày sau trồng
N1 = 0,6 N2 = 1,2 N3 = 2,4 N4 = 3,0 P1 = 0,5
P2 = 1,0
P3 = 1,5
8,7 10,3 11,9
8,8 11,8 14,7
10,7 13,7 16,1
10,9 11,3 15,9
9,8 11,8 14,7
CV(%) = 3,1; LSD(0,05) của N = 0,4; LSD(0,05) của P = 0,3; LSD(0,05) của NP = 0,6
Chiều dài phát hoa đạt cao nhất (30 cm) ở mức 3 g N/chậu và giảm mạnh ở mức 9 và 12
g N/chậu (dao động từ 21,6 – 22,9 cm) Chiều dài phát hoa tăng tỷ lệ thuận theo mức K, đạt cao nhất (26,8 cm) ở mức 2 g K2O/chậu so với mức 0 và 1 g K2O/chậu chỉ đạt 25,1 và 25,8
cm Các nghiệm thức kết hợp N và K có chiều dài phát hoa từ 20,3 – 30,7 cm, đạt cao nhất là nghiệm thức N thấp và K cao (3 g N + 2 g K2O/chậu) (Bảng 7)
Trang 7Khi giảm mức đạm bón, chiều dài phát hoa giảm so với mức bón 3 g N/chậu; cụ thể là chiều dài phát hoa cao nhất (29,1 cm) ở mức 3 g N/chậu, giảm dần từ 26,0; 22,6 và 21,4 cm theo thứ tự với các mức 2,4; 1,2 và 0,6 g N/chậu (Bảng 8) Bón lân ở mức 1,5 g P2O5/chậu cho phát hoa có kích thước dài hơn so với mức 0,5 và 1,0 g P2O5/chậu Trong các nghiệm thức bón kết hợp N và P, nghiệm thức N4P3 (3 g N + 1,5 g P2O5/chậu) có phát hoa dài nhất (29,4 cm)
Bảng 7 Ảnh hưởng của N và K đến chiều dài phát hoa (cm) 45 ngày sau trồng
K1 = 0
K2 = 1
K3 = 2
29,8 29,7 30,7
27,9 29,3 29,8
20,5 22,0 20,3
22,0 22,3 24,4
25,1 25,8 26,8
CV(%) = 5,8; LSD(0,05) của N = 1,5; LSD(0,05) của K = 1,3
Bảng 8 Ảnh hưởng của N và P đến chiều dài phát hoa (cm) 45 ngày sau trồng
N1 = 0,6 N2 = 1,2 N3 = 2,4 N4 = 3,0 P1 = 0,5
P2 = 1,0
P3 = 1,5
20,5 21,6 22,0
22,3 22,6 22,8
23,6 25,1 29,2
28,7 29,0 29,4
23,8 24,5 25,9
CV(%) = 6,0; LSD(0,05) của N = 1,5; LSD(0,05) của P = 1,3
3.3 Sinh trưởng và chất lượng cây hoa mào gà theo thời vụ
Thí nghiệm 1 và 2 được thực hiện tại hai thời điểm khác nhau, dưới điều kiện thời tiết khác nhau, đồng thời trong cả hai thí nghiệm đều có cùng một nghiệm thức (g/chậu) 3 N + 1 P2O5 + 2 K2O Do vậy các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng của cây hoa mào gà ở nghiệm thức này tại hai thời điểm khác nhau được so sánh, nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời vụ đến cây hoa mào gà và được trình bày ở Bảng 9
Bảng 9 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa mào gà trên
cùng liều lượng phân bón (3 N + 1 P2O5 + 2 K2O g/chậu)
Thí nghiệm
(thời vụ)
Thí nghiệm 1
(11/2016 - 02/2017) 58,6 2,59 55,1 16,7 30,7 91,7 Thí nghiệm 2
P 0,978 0,186 < 0,001 0,007 0,044 < 0,001
CCC: chiều cao cây; ĐKG: đường kính gốc; ĐKT: đường kính tán; SPH: số phát hoa; CDPH: chiều dài phát hoa.
Mặc dù sinh trưởng chiều cao và đường kính gốc của cây hoa mào gà không khác biệt giữa hai thời vụ trồng, nhưng đường kính tán, số phát hoa, chiều dài phát hoa và tỷ lệ cây xuất vườn loại 1 ở thí nghiệm 1 (11/2016 – 2/2017) đều cao hơn có ý nghĩa so với thí nghiệm 2 (02 – 05/2017) (Bảng 9) Điều này có thể là do điều kiện thời tiết khác nhau ở hai thời điểm nêu trên, cụ thể là ẩm độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa giai đoạn 02 – 05/2017 cao hơn so
Trang 8với giai đoạn 11/2016 – 2/2017 (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu, 2017) Đây là những yếu tố gây trở ngại đến sinh trưởng và tạo điều kiện sâu bệnh hại trên cây hoa mào gà Do vậy, thời vụ trồng cây hoa mào gà thích hợp là từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, đúng vào thời điểm tiêu thụ sản phẩm vào dịp Tết Nguyên đán
3.4 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của việc trồng cây hoa mào gà tính trên 100 chậu và được trình bày ở Bảng 10 và 11 Đối với thí nghiệm 1, trong các nghiệm thức bón kết hợp các liều lượng N và
K trên nền P = 1 g P2O5/chậu, nghiệm thức N1K3 (3 g N + 2 g K2O/chậu) cho tỷ lệ cây loại 1 cao nhất (91,7%), cho nên đã mang lại lợi nhuận (1.371.000 đồng/100 chậu) và tỷ suất lợi nhuận (1,34) cao nhất so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 10)
Bảng 10 Ảnh hưởng của N và K đến hiệu quả kinh tế của cây hoa mào gà (tính trên 100 chậu)
Nghiệm
thức
Tỷ lệ cây loại 1 Tỷ lệ cây loại 2 Tổng thu Tổng chi Lợi nhuận lợi nhuậnTỷ suất
N1K1
N1K2
N1K3
N2K1
N2K2
N2K3
N3K1
N3K2
N3K3
N4K1
N4K2
N4K3
88,3 90,0 91,7 88,3 88,3 90,0 78,3 81,7 85,0 76,7 80,0 80,0
6,7 8,3 6,7 6,7 6,7 6,7 8,3 10,0 10,0 8,3 10,0 11,7
2.308 2.375 2.392 2.308 2.308 2.350 2.083 2.192 2.275 2.042 2.150 2.175
1.017 1.019 1.020 1.024 1.025 1.027 1.030 1.032 1.033 1.037 1.038 1.040
1.291 1.356 1.371 1.285 1.283 1.323 1.053 1.160 1.242 1.005 1.112 1.135
1,27 1,33 1,34 1,25 1,25 1,29 1,02 1,12 1,20 0,97 1,07 1,09
Giá bán: loại 1 = 25.000 đồng/chậu; loại 2 = 15.000 đồng chậu
Đối với thí nghiệm 2, nghiệm thức N3P3 (2,4 g N + 1,5 g P2O5/chậu) trên nền K = 2 g K2O/chậu cho tỷ lệ cây loại 1 cao nhất (90%), từ đó đã góp phần tăng lợi nhuận (1.364.000 đồng) và tỷ suất lợi nhuận (1,35) cao nhất so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 11)
Bảng 11 Ảnh hưởng của N và P đến hiệu quả kinh tế của cây hoa mào gà (tính trên 100 chậu) Nghiệm
thức
Tỷ lệ cây loại 1 Tỷ lệ cây loại 2 Tổng thu Tổng chi Lợi nhuận lợi nhuậnTỷ suất
N1P1
N1P2
N1P3
N2P1
N2P2
N2P3
N3P1
N3P2
N3P3
N4P1
N4P2
75,0 78,3 81,7 81,7 83,3 86,7 85,0 88,3 90,0 76,7 80,0
8,3 5,0 11,7 10,0 10,0 11,7 10,0 8,3 8,3 10,0 15,0
2.000 2.033 2.217 2.192 2.233 2.342 2.275 2.333 2.375 2.067 2.225
1.005 1.006 1.007 1.006 1.007 1.008 1.009 1.010 1.011 1.010 1.011
995 1.027 1.210 1.186 1.226 1.333 1.266 1.324 1.364 1.057 1.214
0,99 1,02 1,20 1,18 1,22 1,32 1,26 1,31 1,35 1,05 1,20
Trang 94. Kết luận
Tại thành phố Hồ Chí Minh, cây hoa mào gà trồng chậu trên nền giá thể xơ dừa, tro trấu
và phân bò hoai với tỷ lệ theo thể tích 2:1:1, liều lượng N, P, K thích hợp cho cây sinh trưởng
và phát triển tốt là (g/chậu) 2,4 – 3,0 N + 1,5 P2O5 + 2 K2O; trong đó, liều lượng (g/chậu) 2,4
N + 1,5 P2O5 + 2 K2O đạt hiệu quả kinh tế cao, với lợi nhuận 1.364.000 đồng/100 chậu và tỷ suất lợi nhuận đạt 1,35 Thời vụ trồng cây hoa mào gà thích hợp là từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau
Tài liệu tham khảo
[1] Đặng Văn Đông, 2010 Ứng dụng khoa học công nghệ phát triển hoa, cây cảnh theo hướng sản xuất hàng hóa: hiện trạng và một số vấn đề đặt ra Báo cáo Khoa học năm 2010 Viện Nghiên cứu Rau Quả Hà Nội.
[2] Đỗ Tất Lợi, 2004 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Nhà Xuất Bản Y học.
Hà Nội.
[3] Hoàng Thị Thái Hòa và Đỗ Đình Thục, 2010 Thăm dò ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc tại thành phố Huế Tạp chí Khoa học Đại học Huế (57): 51-58.
[4] Kitti Bodhipadmaa, Sompoch Noichindaa, Intira Yadbuntunga, Waranya
Buaeiama and David W M Leung, 2010 Comparison of in vitro and in vivo
inflorescence of common cockscomb (Celosia argentea var cristata).
ScienceAsia 36: 68-71.
[5] Lê Nghiêm, 2012 Hoa, cây kiểng - Hoa mào gà Trung tâm Khuyến nông thành phố Hồ Chí Minh http://khuyennongtphcm.com/index.php? BRSR=30&mnu=5&s=600007
[6] Nermeen T Shanan, Medhat Y Abou-Zeid and Zeinab H El Sadek, 2014.
Response of Celosia cristata cv Red Velvet Plant Growth and Floral Performance to Organo and Bio-Stimulants World Journal of Agricultural
Sciences 10 (4): 146-153.
[7] Ngô Văn Diện, 1998 Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài đánh giá ảnh hưởng
của các quá trình đô thị hóa và đề xuất giải pháp duy trì, phát triển vùng hoa
ở Hà Nội 12-1998.
[8] Nguyễn Thị Kim Lý, Hoàng Thị Lan Hương và Lê Đức Thảo, 2010 Nghiên cứu
ảnh hưởng của các biện pháp bón phân đến sinh trưởng phát triển của lan hồ điệp HL3 (Phalaenopsis stockhon) Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ
2006 – 2010 Viên Di truyền Nông nghiệp.
[9] Nguyễn Thị Kim Thanh và Phạm Thị Thanh Thủy, 2008 Nghiên cứu sử dụng
chế phẩm phân bón lá nhằm giảm lượng phân bón gốc cho cây hoa đồng tiền (Gerbera jamesoii L.) trồng tại Hải Phòng Tạp chí Khoa học và Phát triển, VI
(2): 254-260.
[10] Nguyễn Văn Bộ, 2013 Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng phân bón ở
Việt Nam Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
[11] Oroka F O., 2012 Comparative Effects of Municipal Solid Waste Compost
and NPK Fertilizer on the Growth and Marketable Yield of Celosia argentea L.
New York Science Journal 5 (10): 34-38.
[12] Trần Hợp, 2000 Cây cảnh, hoa Việt Nam Nhà Xuất Bản Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 10[13] Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu, 2017 Thông báo khí tượng nông nghiệp (từ tháng 11/2016 đến tháng 5/2017).
[14] Vũ Hữu Yêm, 1998 Giáo trình phân bón và cách bón phân Nhà Xuất Bản Nông nghiệp Hà Nội.
[15] Yagia M I., Widad M O Modaweib, Mohammed Almubarak A A., 2014.
Effect of Nitrogen and Spacing in Growth, Yield and Quality of Celocia cristata International Journal of Sciences: Basic and Applied Research
(IJSBAR) 18 (1): 132-142.