1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING

33 962 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 395,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING Bài tập lớn mạng máy tính DISTANCE VECTOR ROUTING

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG

BÁO CÁO

MẠNG MÁY TÍNH

Đề tài:

DISTANCE VECTOR ROUTING

Giảng viên hướng dẫn TS.

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Sự phát triển của Internet cũng đồng nghĩa với việc tăng trưởng về quy mô vàcông nghệ nhiều loại mạng LAN, WAN … Và đặc biệt là lưu lượng thông tin trênmạng tăng đáng kể Chính điều đó đã làm cho vấn đề chia sẻ thông tin trên mạnghay là vấn đề định tuyến trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Trong việc thiết kếmạng và lựa chọn giao thức định tuyến sao cho phù hợp với chi phí, tài nguyên của

tổ chức là đặc biệt quan trọng

Internet phát triển càng mạnh, lượng người truy nhập càng tăng yêu cầu địnhtuyến càng phải tin cậy, tốc độ chuyển mạch nhanh và không gây ra lặp trên mạng.Hơn nữa khi nhiều tổ chức tham gia vào mạng thì nhiều giao thức được đưa vào sửdụng dẫn đến sự phức tạp về định tuyến cũng gia tăng, và số lượng các giao thức đểphục vụ cho việc định tuyến cũng có rất nhiều Việc hiểu biết và thiết kế các mạngthông tin cỡ lớn có sử dụng các thiết bị định tuyến đang trở thành một nhu cầu vôcùng cấp thiết trong thực tế Nó đòi hỏi người thiết kế mạng phải có sự hiểu biết sâu

về giao thức sẽ sử dụng cho việc thiết kế mạng cũng như các loại giao thức địnhtuyến khác

Trong giới hạn của bài tập lớn chúng em xin được chọn đề tài “ Tìm hiểu về giao thức định tuyến theo khoảng cách ”

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng em đã rất cố gắng để hoàn thành tốt nhưng có lẽ do vốn kiến thức còn hạn hẹp cũng như những yếu tố khách quan khác mà không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến, phê bình và hướng dẫn thêm của thầy cũng như bạn đọc

Cuối cùng chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy đã hướng dẫn chúng em hoàn thành bài tập lớn này

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

MỤC LỤC 2

DANH SÁCH HÌNH ẢNH 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

PHẦN MỜ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU VỀ DISTANCE VECTOR ROUTING 5

1.1 Sơ lược về Distance Vector Routing 5

1.1.1 Giải thuật Distance vector 5

1.1.2 Routing Loop 5

1.1.3 Các giải pháp LOOP 6

1.2 Phân loại Distance Vector 8

1.2.1 Giao thức định tuyến RIP (Routing Information Protocol) 8

1.2.2 Giao thức định tuyến IGRP (Interio Gateway Routing Protocol) 9

1.3 Thuật toán Bellman-Ford 11

1.3.1 Tư tưởng thuật toán 11

1.3.2 Chứng minh tính đúng đắn 11

1.3.3 Ứng dụng thuật toán 13

CHƯƠNG 2 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN MÔ PHỎNG 14

2.1 Phân tích yêu cầu 14

2.2 Kịch bản mô phỏng 15

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ MÔ PHỎNG 16

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

PHỤ LỤC 24

Trang 5

DANH SÁCH HÌNH ẢNH

Hình 1: Vòng lặp định tuyến 6

Hình 2: Cấu hình mạng mô phỏng 14

Hình 3: Thời điểm bắt đầu mô phỏng 16

Hình 4: Thời điểm nguồn 1 phát 16

Hình 5: Thời điểm nguồn 2 phát 17

Hình 6: Thời điểm nguồn 3 phát 17

Hình 7: Thời điểm liên kết 5-6 bị đứt 18

Hình 8: Thời điểm liên kết 9-10 bị đứt 18

Hình 9: Thời điểm liên kết 9-10 được khôi phục 19

Hình 10: Thời điểm nguồn S1 ngừng phát 19

Hình 11: Thời điểm liên kết 5-6 được khôi phục 20

Hình 12: Thời điểm nguồn S3 ngừng phát 20

Hình 13: Thời điểm kết thúc mô phỏng 21

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: kịch bản mô phỏng 15

Trang 6

PHẦN MỜ ĐẦU

Thuật toán vector khoảng cách so sánh chính xác các đường nhằm tìm ra conđường tốt nhất tới bất kỳ địa chỉ đích đã cho nào Thuật toán cung cấp thông tin cụ thể về cấu trúc đường đi trong mạng và hoàn toàn không nhận biết về các router trên đường đi

Các router theo vector khoảng cách thực hiện gửi toàn bộ hoặc một phần các bảng định tuyến của mình và chỉ gửi cho các router kết nối trực tiếp với mình Vì thông tin trên bảng định tuyến rất ngắn gọn, chỉ cho biết tương ứng với một mạng đích là cổng nào trên router, router kế tiếp có địa chỉ IP là bao nhiêu, thông số định tuyến của con đường này là bao nhiêu Do đó, các router định tuyến theo vector khoảng cách không biết được đường đi một cách cụ thể, không biết về các router trung gian trên đường đi và cấu trúc kết nối của chúng

Các router định tuyến theo vector khoảng cách thực hiện cập nhật thông tin định tuyến theo định kỳ nên tốn nhiều băng thông đường truyền Khi có sự cố thay đổi xảy ra, router nào nhận biết sự thay đổi đầu tiên sẽ cập nhật bảng định tuyến củamình trước rồi chuyển bảng định tuyến cập nhật cho router láng giềng Router láng giềng nhận được thông tin mới, cập nhật vào bảng định tuyến đã được cập nhật cho các router láng giềng kế tiếp Quá trình cập nhật cứ lần lượt như vậy ra toàn bộ hệ thống Do đó thời gian hội tụ chậm

CHƯƠNG 1.TÌM HIỂU VỀ DISTANCE VECTOR

ROUTING

1.1 Sơ lược về Distance Vector Routing

1.1.1 Giải thuật Distance vector

Trang 7

Distance-vector: RIP, IGRP Hoạt động theo nguyên tắc "hàng xóm", nghĩa là mỗi router sẻ gửi bảng routing-table của chính mình cho tất cả các router được nối trực tiếp với mình Các router đó sau đó so sánh với bảng routing-table mà mình hiện có và kiểm xem route của mình và route mới nhận được, route nào tốt hơn sẽ được cập nhất Các routing-update sẽ được gởi theo định kỳ (30 giây với RIP , 60 giây đối với RIP-novell , 90 giây đối với IGRP) Do đó , khi có sự thay đổi trong mạng , các router sẽ nhận biết được khúc mạng nào bị down

Ưu điểm :

 Dễ cấu hình Router không phải xử lý nhiều điều đó cho phép CPU và MEM

có thể thực hiện thêm các công việc khác

1.1.2 Routing Loop

Trước khi network 1 bị down thì thì tất cả router đều xem đường route tới network là tốt Router C nhận định rằng muốn tới network 1 thì phải qua router B với metric là 3 (ví dụ ta chạy RIP)

Trang 8

Hình 1: Vòng lặp định tuyến

Khi network 1 bị down xuống thì router E mới gửi 1 bản update tới A là: N1 down rồi nhưng router B, C, D không biết Nhưng B và D có thể nhận biết được N1 down 1 cách nhanh chóng vì nó connect trực tiếp tới A nên nhận update nhanh hơn Tuy nhiên do C không nhận được update là N1 down nến vẫn gửi 1 bản update tới

B và D là đường tới N1 vẫn tồn tại Và như thế B và D update lại bản routing table của mình là N1 vẫn tốt Muốn đến N1 hãy đi qua C Như thế là sai và quá trình này

cứ lặp đi lặp lại (vì A sẽ gửi lại 1 update nói với B và D rằng la N1 vẫn good) ===> routing loop

Nguyên nhân: B và D có thể nhận được update từ A còn C thì không , bởi vì

1 "HÔI TỤ CHẬM" ( SLOW CONVERGENCE) Vậy sau khi topology change thì tất cả router cần 1 time để tính toán lại các đường route của mình, và quá trình và thời gian đó gọi là TIME TO CONVERGENCE

1.1.3 Các giải pháp LOOP

 SPLIT HORIZON: Router B và D nhận update về N1(down) sẽ không gửi lại update về N1 (up, sau khi nhận được từ C) tới cho router A Split horizon được sử dụng để đảm bảo rằng thông tin về một route do một router phát ra không quay lại chính nó Ví dụ, khi network 1 chưa down, router E gửi thông

Trang 9

tin update đến router A Router A sẽ không gửi lại thông tin update đến N1 quay lại E vì nếu làm như thế, đương nhiên E sẽ không dùng thông tin đó

==> lãng phí Còn trong trường hợp route bị poison ==> Do có Split horizon,thông tin về route đến N1 không bị lặp đi lặp lại trên link giữa A và E

(count-to-infinite) Split horizon with Poison reverse : Bình thường, A không gửi lại cho E thông tin về route đến N1 Nhưng khi A nhận được bản tin update nói rằng route đến N1 là unreachable > A gửi lại cho E thông tin về route đến N1 với metric là infinite

 HOLD DOWN TIMER : Khi router nhận được thông tin về một route là unreachable, router sẽ đánh dấu route đó và đặt nó vào trạng thái hold-down (Router đặt bộ định thời = thời gian hold-down) Trong thời gian hold-down, router vẫn tiếp tục dùng route đó để forward gói tin, nhưng sẽ bỏ qua tất cả các thông tin về route với thông số metric bằng hoăc xấu hơn metric router đang có về route đó Hold-down timer bị reset khi thời gian hold-down đã hết, hoặc router nhận được thông tin về route với metric tốt hơn metric nó đang giữ Ví dụ: Khi A nhận được thông tin route đến N1 bị down, hold-down timer cho route đó được thiết lập Tương tự với B, D Do đó khi D nhận được update từ C, vì metric mà C gửi lớn hơn (xấu hơn) metric D đang

có về route N1 nên D bỏ qua ==> Không còn loop

 POSION REVERSE UPDATE : Là bản update đặc biệt được gửi từ router connect với 1 network down tới các router neighbor của mình ( khong bao gồm router có network bị down ) rằng đường route tới network đó là infinity.Khi một router phát hiện ra một route R bị down (router không nhận được bản tin update từ router neighbor mà từ đó nó học được route R), router sẽ đặt giá trị metric của route R bằng giá trị không xác định (infinite) và gửi đi trong bản tin cập nhật định tuyến để thông báo với các router trên mạng rằng route R unreachable Trong hình vẽ, router E không nhận được thông tin về route đến N1, nó đặt metric của route đến N1 là infinite rồi gửi đi trong bản tin định tuyến Đồng thờ, E hủy bỏ route đến N1 trong bảng định tuyến của nó

Trang 10

 TRIGGER UPDATE: Trigger updates là bản update được gửi ngay khi có route bị fail, không cần chờ đến thời gian định kỳ để gửi update.

1.2 Phân loại Distance Vector

Các giao thức định tuyến thuộc loại này như : RIP , IGRP , …… Hoạt động theo nguyên tắc Neighbor , nghĩa là mỗi router sẻ gửi routing-table của mình cho tất

cả các router được nối trực tiếp với nó Các router đó sau đó so sánh với bảng routing-table mà mình hiện có và kiểm tra lại các tuyến đường của mình với các tuyến đường mới nhận được, tuyến đường nào tối ưu hơn sẻ được đưa vào routing-table Các gói tin update sẽ được gửi theo định kỳ (30 giây với RIP ,90 giây đối vớiIGRP)

1.2.1 Giao thức định tuyến RIP (Routing Information Protocol)

 Routing Information Protocol (RIP) là giao thức định tuyến vector khoảng cách (Distance Vector Protocol) xuất hiện vào năm 1970 bởi Xerox như là một phần của bộ giao thức Xerox Networking Services (XNS) Và sau đó RIP được chấp nhận rộng rải trước khi có một chuẩn chính thức được xuất bản Đến năm 1988 RIP mới được chính thức ban bố trong RFC1058 bởi Charles Hedrick RIP được sử dụng rộng rãi do tính chất đơn giản và tiện dụng của nó

 RIP là giao thức định tuyến vector khoảng cách điển hình, là nó đều đặn gửi toàn bộ routing table ra các Router hàng xóm và các Router này sẽ phát tán

ra tất cả Router bên cạnh đều đặn theo chu kỳ là 30 giây RIP chỉ sử dụng metric là hop-count để tính ra tuyến đường tốt nhất tới mạng đích Thuật toán

mà RIP sử dụng để xây dựng nên routing table là Bellman-Ford

 RIP sử dụng hop-count như một thước đo định tuyến để tìm kiếm đường đi tốt nhất giữa hai điểm Hop-count là số lượng Router mà một packet phải đi qua cho đến khi đến được địa chỉ đích Để tránh tình trạng Lop vô tận thì RIPgiới hạn Hop-count tối đa là 16 Khi một Router nhận được một thông tin láng giềng Router sẽ tăng chỉ số Hop lên 1 vì Router cũng xem nó là 1 Hop

Trang 11

trên đường đi, nếu sau khi tăng chỉ số Hop lên 1 mà chỉ số này lớn hơn 15 thìRouter xem như không tồn tại mạng đích trên tuyến đường này.

 Route update timer: là thời gian trao đổi thông tin định tuyến của Router với tất cả các active interface Thông tin ở đây là toàn bộ bảng định tuyến và thởigian định kỳ là 30s • Routing invalid Timer: là khoảng thời gian xác định một tuyến đường invalid Được bắt đầu nếu hết thời gian Hold time mà không nhận được update, sau khoảng thời gian đó Router sẽ gửi một update tới tất cả các Interface là tuyến đường đó đã invalid

1.2.2 Giao thức định tuyến IGRP (Interio Gateway Routing Protocol)

 IGRP là giao thức định tuyến độc quyền của Cisco, là giao thức định tuyến động dạng Distance Vector IGRP được mở rộng nhiều chức năng hơn so vớiRIP Là giao thức định tuyến dạng Distance vector nên nó cũng bao gồm chức năng sau: + Gửi bản update định tuyến theo định kỳ là 90s + Gửi đầy

đủ thông tin cập nhật trong bảng định tuyến theo định kỳ + Thuật toán mà nó

sử dụng là Bellman Fort

 IGRP nó có thể khắc phục được những yếu điểm của RIP như metric là count, kích thước mạng tối đa là 15 hop Cụ thể metric của nó là sự kết hợp của 5 yếu tố sau:

hop-+Bandwidth–Băngthông

+Delay – Trễ

+Load –Tải

+Reliabilyti– độ tin cậy

+ Maximum transfer Unit (MTU)- đơn vị tối đa

 IGRP không sử dụng hợp count trong metric của mình mà nó vấn có thể theodõi được hop count Một mạng mà sử dụng IGRP thì kích thước mạng tối đa

có thể lên đến 255 hop Cái ưu điểm dễ thấy ở đây của IGRP so với RIP ở đây là có hổ trợ unequal-cost load sharing (là tính năng load balancing nghĩa

Trang 12

là gói tin có thể đi nhiều đường tới địa chỉ đích nhưng cố định thay vì chỉ chọn đường đi tốt nhất cho gói tin) và thời gian update lâu hơn RIP gấp 3 lần Tuy vậy nhưng IGRP là giao thức định tuyến nên cũng tồn tại yếu điểm

là giao thức độc quyền của Cisco

 Nguyên lý hoạt động và những đặc trưng của IGRP Cũng giống như RIP nó

là Classfull Distance Protocol nghĩa là nó sẽ gửi toàn bộ thông tin của bảng định tuyến một cách có định kỳ ra tất cả các active interface, cũng broadcast request packet khi khởi động,cũng cẩn thận check packet xem sourch

Address,chúng cũng không mang theo subnet mask trong thông tin định tuyến Nếu như RIP sử dụng port 520, chạy trên nền UDP để trao đổi định tuyến thì IGRP lại làm điều này trực tiếp trong gói tin IP, vơi protocol

numbers là 9 IGRP sử dụng khái niệm Autonomous System (AS), một IGRP

AS là một IGRP process domain_tập hợp các router có chung routing

protocol là một IGRP process Cho phép multiple IGRP AS tồn tại bên trong một AS có nghĩa là người quản trị có phân đoạn mạng tốt hơn Người quản trị có thể tạo một IGRP AS cho mỗi routing domain, giúp cho việc điều khiển thông tin giữa các mạng tương tác tốt hơn IGRP thừa nhận 3 loại tuyến đường trong thông tin update: + Interior route: mạng nối trực tiếp với router + System route: là đường tới địa chỉ mạng mà bị summary bởi

network border router + Exterior route: là đường học qua IGRP từ IGRP ASkhác, nó cung cấp thông tin sử dụng bởi default route

 IGRPtimer Chu kỳ update của IGRP là 90 giây, IGRP có sử dụng nhân tố random 20% để ngăn chặn sự đồng bộ update timer Khoảng thời gian giữa 2lần update biến đổi từ 72 đến 90 giây Khi một tuyến đường đầu tiên được học, invalid timer cho tuyến đó là 270 giây hay là gấp 3 lần update timer Flush timer được thiết lập với giá trị là 630 giây_ gấp 7 lần update timer Mỗi lần tuyến được được update thì những thông số thời gian này được khởi động lại Nếu như invalid timer trôi qua mà tuyến đường đó không nhận được một update thì tuyến đường đó sẽ bị đánh dấu là không đến được Tuyến đường đó sẽ được giữ trong routing table và quảng bá với thông tin là

Trang 13

tuyến đó không đến được cho đến khi flush timer trôi qua, tuyến đó sẽ được xoá khỏi routing table Update timer của IGRP gấp 3 lần RIP, điều đó chứng

tỏ IGRP tốn it băng thông hơn cho việc gửi update Nhưng thời gian hội tụ của IGRP sẽ lớn hơn RIP

1.3 Thuật toán Bellman-Ford

Distance Vector Routing sử dụng thuật toán Bellman-Ford để định tuyến trong mạng thông tin

Thuật toán Bellman-Ford là một thuật toán tính các đường đi ngắn nhất nguồn đơn trong một đồ thị có hướng có trọng số (trong đó một số cung có thể có trọng số âm) Thuật toán Dijkstra giải cùng bài toán này với thời gian chạy thấp hơn, nhưng lại đòi hỏi trọng số của các cung phải có giá trị không âm Do đó, thuật toán Bellman-Ford thường chỉ được dùng khi có các cung với trọng số âm

Thuật toán Bellman Ford chạy trong thời gian O(V·E), trong đó V là số đỉnh

và E là số cung của đồ thị

1.3.1 Tư tưởng thuật toán

 Bước 1: Khởi tạo ∏(0,x)=0; ∏(0,i)=+∞, ∀i≠x và k=1

 Bước 2: Với mỗi i∈X ta đặt: ∏(k,i)=min({∏(k-1,i)}∪{∏(k-1,j)+L[j][i]})

 Bước 3: Nếu ∏(k,i)=∏(k-1,i) với i∈X thì∏(k,i) chính làđộ dài đường đi ngắn nhất từ x đến i Ngược lại nếu k<n thì tăng k=k+1 và trở lại bước 2; nếuk=n thì dừng vì từ x đi tới được 1 mạch âm

Trang 14

 Nếu có một đường đi từ s tới u qua nhiều nhất i cung, thì Khoảng_cách(u) cógiá trị không vượt quá độ dài của đường đi ngắn nhất từ s tới u qua tối đa i cung

Chứng minh

 Trường hợp cơ bản: Xét i=0 và thời điểm trước khi vòng for được chạy lần đầu tiên Khi đó, với đỉnh nguồn khoảng_cách(nguồn) = 0, điều này đúng Đối với các đỉnh u khác, khoảng_cách(u) = vô cùng, điều này cũng đúng vì không có đường đi nào từ nguồn đến u qua 0 cung

 Trường hợp quy nạp:

- Chứng minh câu 1 Xét thời điểm khi khoảng cách tới một đỉnh được cập nhật bởi công thức khoảng_cách(v):= khoảng_cách(u) + trọng_số(u,v) Theo giả thiết quy nạp, khoảng_cách(u) là độ dài của một đường đi nào đó từ nguồn tới u Do đó, khoảng_cách(u) + trọng_số(u,v) là độ dài của đường đi

từ nguồn tới u rồi tới v

- Chứng minh câu 2: Xét đường đi ngắn nhất từ nguồn tới u qua tối đa i cung Giả sử v là đỉnh liền ngay trước u trên đường đi này Khi đó, phần đường đi

từ nguồn tới v là đường đi ngắn nhất từ nguồn tới v qua tối đa i-1 cung Theogiả thuyết quy nạp, khoảng_cách(v) sau i-1 vòng lặp không vượt quá độ dài đường đi này Do đó, trọng_số(v,u) + khoảng_cách(v) có giá trị không vượt quá độ dài của đường đi từ s tới u Trong lần lặp thứ i, khoảng_cách(u) được lấy giá trị nhỏ nhất của khoảng_cách(v) + trọng_số(v,u) với mọi v có thể Do

đó, sau i lần lặp, khoảng_cách(u) có giá trị không vượt quá độ dài đường đi ngắn nhất từ nguồn tới u qua tối đa i cung Khi i bằng số đỉnh của đồ thị, mỗiđường đi tìm được sẽ là đường đi ngắn nhất toàn cục, trừ khi đồ thị có chu trình âm Nếu tồn tại chu trình âm mà từ đỉnh nguồn có thể đi đến được thì sẽkhông tồn tại đường đi nhỏ nhất (vì mỗi lần đi quanh chu trình âm là một lần giảm trọng số của đường)

Trang 15

1.3.3 Ứng dụng thuật toán

Một biến thể phân tán của thuật toán Bellman-Ford được dùng trong các giaothức định tuyến vector khoảng cách, chẳng hạn giao thức RIP (Routing Information Protocol) Đây là biến thể phân tán vì nó liên quan đến các nút mạng (các thiết bị định tuyến) trong một hệ thống tự chủ (autonomous system), ví dụ một tập các mạng IP thuộc sở hữu của một nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)

Thuật toán gồm các bước sau:

a) Mỗi nút tính khoảng cách giữa nó và tất cả các nút khác trong hệ thống tự chủ và lưu trữ thông tin này trong một bảng

b) Mỗi nút gửi bảng thông tin của mình cho tất cả các nút lân cận

c) Khi một nút nhận được các bảng thông tin từ các nút lân cận, nó tính các tuyến đường ngắn nhất tới tất cả các nút khác và cập nhật bảng thông tin của chính mình

Nhược điểm chính của thuật toán Bellman-Ford trong cấu hình này là

Trang 16

CHƯƠNG 2.KẾ HOẠCH THỰC HIỆN MÔ PHỎNG 2.1 Phân tích yêu cầu

Mô phỏng mô hình định tuyến sử dụng vector khoảng cách (Distance vector routing) tùy chọn thiết lập mạng và chọn các tham số phù hợp

Hình 2: Cấu hình mạng mô phỏng

Với cấu hình mạng như trên hình 2

 Có 3 nguồn S1,S2,S3 : là các nguồn UDP, kích thước gói là 500B, thời gian giữa các gói là 5ms, tốc độ bit là 1MB, trễ lan truyền là 10ms

 Có 11 router: với tốc độ bit là 10MB, trễ lan truyền là 10ms

 1 nguồn nhận tín hiệu d:

 Kích thước hàng đợi là 1000000000 tương đương với vô hạn để tránh rơi gói

Để thực hiện được các yêu cầu đó thì các thành viên trong nhóm cần phải:

- Càiđặt, tìm hiểu và sử dụng tốt hệ điều hành ubuntu, Bộ công cụ mô phỏngns2

- Tìmhiểuvềđịnhtuyến

- ThiếtlậpđượcsốlượnggóiphátsinhtheophânbốPoisson

Ngày đăng: 01/03/2018, 00:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w