Để thích nghi với những yếu tố mới có thể ví như trạng thái “nội công, ngoại kích” của nền kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm, cần rà soát và điều chỉnh những yếu tổ cốt lõi của thể
Trang 1Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn cuối năm 2017
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Đại học Kinh tế quốc dân SĐT: 0983478486 Email: langnguyen2200@gmail.com
Tóm tắt
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (ký hiệu thông thường là FDI- Foreign Dỉrect Investment) ngày càng đóng vai trò quan trọng và thậm chí đáng kể trong thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển của Việt Nam Điều này được khẳng định trong vòng 30 năm qua Tính đến ngày 22 tháng 3 năm 2017, có 23.731 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 300,74 tỷ đô-la Mỹ và vốn thực hiện đạt khoảng 50% FDI đóng góp khoảng 23% vốn đầu tư toàn xã hội và 70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong 6 tháng đầu năm 2017, FDI vào Việt Nam có xu hướng tăng lên cao hơn so với cùng giai đoạn năm 2016 Khả năng chiếm lĩnh các lĩnh vực có lợi nhuận cao, địa bàn thuận lợi cũng như công nghệ mũi nhọn, các khâu có giá trị gia tăng cao và tiếp cận thị trường toàn cầu của FDI trở thành hiện hữu Mục tiêu tăng trưởng năm
2017 được Chính phủ đặt ra là 6,7% Trong 6 tháng cuối năm 2017, FDI có những dấu hiệu cho thấy FDI có xu hướng tăng cao do cơ hội đầu tư vẫn còn khá lớn mặc dù việc mở cửa thị trường theo cam kết trong Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ ngày 11/1/2018, các cam kết quốc tế về thương mại tự do được thực hiện có khả năng để làm suy giảm FDI vì FDI có thay thế hàng nhập khẩu bị thay thế bởi quy mô khổng lồ và khả năng cạnh tranh cao của khối lượng hàng nhập khẩu từ 165 thành viên với khoảng 95% thương mại toàn cầu Đồng thời, kể từ 1/7/2017, mức tiền lượng cơ sở đối với
cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang có sự điều chỉnh tăng lên từ mức 1,210 triệu đồng lên 1,300 triệu
đồng Mức tiền lương được điều chỉnh có thể làm tăng giá lao động hay giá yếu tố sản xuất vốn là yếu tố hấp dẫn FDI Để thích nghi với những yếu tố mới có thể ví như trạng thái “nội công, ngoại kích” của nền kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm, cần rà soát và điều chỉnh những yếu tổ cốt lõi của thể chế đầu tư để phục vụ công tác quản lý và điều hành hiệu quả trong quá trình nền kinh tế đang chuyển đổi rất nhanh sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, mục tiêu tăng trưởng cuối năm 2017, điều chỉnh, yếu tố cốt lõi về thể chế Giới thiệu
Các nghiên cứu về FDI được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau cả về khía cạnh học thuật (Mac Dougal Kempt, Dunning) đưa ra các lý thuyết về FDI như lý thuyết năng suất biên của vốn, lý thuyết chiết trung về đầu tư để giải thích bản chất của FDI, hoặc các nghiên cứu mang tính chất tổng kết tình hình toàn cầu (UNCTAD, IMF, WB) Bên cạnh đó cũng có các nghiên cứu về tác động của FDI đến tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm của các quốc gia Các nghiên cứu này được đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học (Agya, Atabani Adi1 , Wunuji, Emmanuel Adimani (2014), Mahanta Devajit (2012)…) Đồng thời, cũng có các nghiên cứu mang tính khảo sát thực tiễn (VCCI, 2016) để phục vụ việc điều chỉnh, hoàn thiện môi trường kinh doanh đối với FDI
Việt Nam bắt đầu thu hút FDI từ năm 1977 bằng Điều lệ đầu tư nước ngoài Tiếp theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987 và được công bố ngày 9/1/1988 Luật được liên tục sửa đổi, bổ sung các lần năm 1990, 1992, 1996, 2000, 2006 và gần đây nhất là Luật Đầu tư 2014 được coi là đỉnh cao về tư duy pháp lý theo nền kinh tế thị trường theo đó nhà đầu tư được làm những gì pháp luật không cấm Các nguyên tắc và công cụ điều chỉnh của luật tiệm cần dần với thông lệ quốc tế Việt Nam ban hành hàng loạt chính sách về FDI, tham gia phên chuẩn nhiều hiệp định về FDI tróng đó có Hiệp định tránh đánh thuế trùng Hiệu năng chính sách là FDI vào Việt Nam tăng nhanh, FDI trở thành một khu vực kinh tế có khả năng cạnh tranh cao nhất trong nền kinh tế Việt Nam và có tỷ trọng ngày càng tăng lên Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài, tính đến 20 tháng 3 năm 2017, có 23.731 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký đạt 300,74 tỷ đô-la Mỹ và vốn thực hiện đạt khoảng 50% FDI đóng góp khoảng 23% vốn đầu tư toàn xã hội
và 70% kim ngạch xuất khẩu Từ năm 2012 đến năm 2016, Việt Nam có một số năm xuất siêu là có đóng góp đáng kể của FDI Trong khi kinh tế nhà nước Việt Nam đang tiếp tục thu hẹp quy mô do kinh doanh kém hiệu quả, kinh tế tư nhân mới được khẳng định đóng vai trò quan trọng, công cuộc khởi nghiệp mới triển khai khoảng 12 tháng thì các doanh nghiệp FDI lại là khối doanh nghiệp vận hành khá ổn định và có xu hướng mở rộng đang dần dần thay thế một cách “lặng lẽ” các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác Mức độ kết nối của doanh nghiệp FDI với phần còn lại của nền kinh tế rất thấp càng lăng mức độ tụt hậu cả tương đối và tuyệt đối giữa các doanh nghiệp FDI với phần còn lại của thế giới Dưới góc độ kinh tế học, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có thể tăng lên nghĩa là phần giá trị mới sáng tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam tăng song thu nhập quốc dân (NI) phần giá trị mới thuộc sở hữu doanh nghiệp và người Việt Nam càng nhỏ kể cả cộng thêm phần giá trị được sáng tạo ra ở nước ngoài Việc mất cân đối này có thể cần phương thức ứng xử phù hợp dựa trên nền tảng nhận thức mới về FDI trong 6 tháng cuối năm vào Việt Nam từ góc độ điều chỉnh những yếu tố mang tính cốt lõi để FDI thực sự là nguồn động lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm 2017
Để giải quyết vấn đề đặt ra, bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Dữ liệu được sử dụng trong bài được lấy từ Tổng cục Thống kê, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Tổng cục Hải quan và các nghiên cứu chuyên sâu khác
Trang 2Quan niệm về FDI và những hạn chế cốt lõi của thể chế FDI của Việt Nam
Theo quan niệm thông thường được đưa vào trong giáo trình giảng dạy về kinh tế quốc tế và kinh doanh quốc tế, FDI có đặc điểm là việc di chuyển vốn quốc tế không tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng, nhà đầu tư nước ngoài có tiếng nói trực tiếp trong quản lý có kèm theo di chuyển tài sản như máy móc, thiết bị, công nghệ, kỹ năng quản lý
Sự tham gia quản lý, điều hành trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài Theo các tổ chức quốc tế, các hình thức của FDI thường là đầu tư mới (Greenfield) và M&A (Sáp nhập và Mua lại) Các hình thức FDI có thể xem xét từ góc độ phương chiều như FDI ra nước ngoài (outward FDI), FDI vào trong nước (inward FDI), theo mục đích gồm có đầu tư mới và M&A, đầu tư theo chiều ngang, chiều dọc, hoặc xem xét từ động cơ FDI là tìm kiếm nguồn lực, thị trường, hiệu quả và tài sản chiến lược trong đó FDI tìm kiếm hiệu quả được sự quan tâm lớn nhất do tác động lớn nhất đến tăng trưởng kinh tế Quan niệm của Stiglizt (1998) chỉ ra sự khác nhau của thuật ngữ FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ dong đầu tư đi ra
từ nước chủ nhà (nước sở hữu vốn) sang nước sở tại (nước tiếp nhận vốn) Nếu hạch toán dòng vốn trong tài khoản vốn của cán cân thanh toán, FDI mang dấu âm (-) nghĩa là đầu tư vốn ra nước ngoài Còn thuật ngữ DFI (Direct Foreign Investment) có chiều ngược lại chỉ vốn đầu tư từ nước ngoài vào và được hạch toán dấu dương (+) trong cán cân thanh toán Tuy nhiên, có thể do thói quen sử dụng, FDI không phân biệt về phương chiều và phải bổ sung thêm cả thuật ngữ vào (inward) và ra (outward)
Việc khai thác tác động FDI cần tránh cực đoan về FDI Một mặt, FDI có thể bị xem là sự tiếp tay cho bóc lôṭ lao động và xâm lược về kinh tế dẫn đến cấm triệt để FDI chủ yếu là quan điểm của những người theo trường phái kinh tế- chính trị Mác- Lênin luôn coi tư bản bóc lột lao động làm thuê; mặt khác, FDI có thể được xem là có tác động rất lớn cho nên dẫn đến tự do hóa cao nhất đối với FDI dẫn đến phụ thuộc hoàn toàn đầu tư nước ngoài Do đó, cần có cách tiếp cận cân bằng về FDI nghĩa là vừa thấy được tác động tích cực và tác động tiêu cực của FDI đối với các đối tượng hữu quan để phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực
Những hạn chế và yếu tố cốt lõi về thể chế điều chỉnh FDI của Việt Nam thể hiện:
1 Định nghĩa đầu tư còn đơn giản thể hiện tư duy pháp lý chưa sâu sắc và chưa bao quát hết nội hàm của đầu tư trong đó có FDI đặc biệt trong Luật Đầu tư 2000 Theo Luật Đầu tư Việt Nam 2014, đưa ra khái niệm đầu tư kinh doanh
là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư (Điều
3, khoản 5) Đồng thời, Nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam (Điều 3, khoản 14) Nếu so sánh, đối chiếu định nghĩa này với định nghĩa về đầu tư được Việt Nam phê chuẩn trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ năm
2011 có thể thấy định nghĩa đầu tư của thể chế đầu tư của Việt Nam thiếu khá nhiều yếu tố mang tính cốt lõi đặc biệt là đầu tư tài sản tài chính hay nói cách khác đầu tư cần được hiểu theo nghĩa rộng Có như vậy, nhận thức và khuôn khổ điều tiết đầu tư mới không bị bỏ sót giao dịch
Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (Chương IV “Phát triển quan hệ đầu tư”, Điều 1: Đầu tư là các hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một Bên do các công dân hoặc công ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp bao hàm các hình thức: A Một công ty hoặc 1 doanh nghiệp: B Cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quan hệ đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty: C Các quyền theo hợp đồng, như quyền theo các hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng quản lý, các hoạt động sản xuất hoặc hợp đồng phân chia doanh thu, tô nhượng hoặc các hợp đồng tương tự khác: D Tài sản hữu hình, gồm cả bất động sản và tài sản vô hình, gồm cả các quyền như giao dịch thuê, thế chấp, cầm cố và quyền lưu giữ tài sản;
E Quyền sở hữu trí tuệ, gồm quyền tác giả và các quyền có liên quan, nhãn hiệu, sáng chế, thiết kế bố trí (topoghaphy) mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, thông tin bí mật (bí mật thương mại), kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, và F, Các quyền theo quy định của pháp luật như các giấy phép và sự cho phép
Còn theo Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP, 2016), (Chương 9, Điều 9.1): Đầu tư là mọi tài sản do nhà đầu tư sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp, có đặc điểm đầu tư, bao gồm các đặc điểm như cam kết về vốn đầu tư hoặc các nguồn lực khác, kỳ vọng về lợi nhuận, hoặc gánh chịu rủi ro Các hình thức đầu tư có thể bao gồm: (a) doanh nghiệp; (b) cổ phiếu, cổ phần và các hình thức góp vốn vào doanh nghiệp; (c) trái phiếu, trái khoán, các công cụ nợ khác, và các khoản cho vay; (d) hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm tài chính phái sinh khác; (e) hợp đồng chìa khoá trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất, nhượng quyền, phân chia doanh thu và các hợp đồng tương tự khác; (f) quyền sở hữu trí tuệ; (g) giấy phép, chấp thuận, cho phép, và các quyền tương tự hình thành trên cơ sở quy định pháp luật một Bên; và (h) các tài sản hữu hình hoặc vô hình, động sản hoặc bất động sản, và quyền tài sản liên quan, như cho thuê, cầm cố, cầm giữ và thế chấp; nhưng đầu tư không có nghĩa là lệnh hoặc phán quyết theo thủ tục hành chính hoặc
tư pháp
Như vậy, định nghĩa đầu tư của Luật Đầu tư 2014 của Việt Nam là yếu tố cốt lõi của thể chế đầu tư trong đó có thể chế FDI còn bộc lộ sự thiếu hụt nhiều khía cạnh như:
- Không phản ánh hết bản chất và không bao trùm hết phạm vi nội hàm khái niệm đầu tư trong đó có FDI
- Tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp đầu tư hoặc lẫn lộn giữa tranh chấp đầu tư với các tranh chấp khác mang đặc điểm hay bản chất đầu tư
Trang 3- Hình thành tính khác biệt của đầu tư so với các giao dịch khác dẫn đến cách ứng xử thiếu thống nhất
- Khó hội nhập hiệu quả ít nhất về tính chất pháp lý hình thức và bản chất pháp trị của thể chế kinh tế thị trường
- Gây tốn kém để điều chỉnh và hoàn thiện thể chế trong tương lai
2 Hình thức đầu tư theo quy định của Việt Nam có sự khác biệt với phần còn lại của thế giới Theo Luật Đầu tư
2014 của Việt Nam, các hình thức đầu tư bao gồm thành lập tổ chức kinh tế (Điều 22), đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế (Điều 24), đầu tư theo hình thức hợp đồng (PPP, BCC) (Điều 27, 28) trong khi đó các tổ chức quốc tế sử dụng hình thức đầu tư mới và M&A, đầu tư ra và đầu tư vào hay đầu tư chiều ngang, chiều dọc Khả năng hiểu FDI có sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước là rõ ràng Luật pháp quy định mang tính khái quát cao cho nên lại cần có văn bản hướng dẫn và dễ dẫn đến cách giải thích khác nhau
3 Số liệu thống kê về FDI của Việt Nam chưa thống nhất với các nước đặc biệt số liệu của tổ chức quốc tế như IMF Quy mô FDI của Việt Nam được xác định dựa trên việc cộng dồn hay lũy kế tất cả các số liệu về FDI trong đó có phần tham gia của Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh như phân góp vốn của Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh về giá trị quyền sử dụng đất đai, mặt nước, mặt biển, máy móc, thiết bị, tiền Việt Nam, bí quyết…do đó yếu tố nước ngoài trong FDI không bảo đảm độ tin cậy Theo đó, quy mô FDI vào Việt Nam cần chiết giảm khoảng 5-10% trong tổng vốn FDI nghĩa là trừ đi phần góp vốn của Việt Nam cũng được tính toán trong FDI không phản ánh dung bản chất của nó Điều này vừa làm lệch lạc số liệu, vừa giảm độ tin cậy của số liệu thông kê về FDI Các tính toán, đánh giá, xây dựng và kiểm định mô hình tác đông FDI có thể bị sai lệch do sai lệch số liệu Một số số liệu thống kê của các tổ chức quốc tế đã loại bỏ phần tính không đúng này cho nên số liệu công bố của Tổng cục Thống kê hoặc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam có sự khác nhau nhất định
4 Thể chế thu hút FDI được phân cấp khá hiệu quả cho các địa phương dân đến tình trạng các địa phương cạnh tranh nhau đáng kể để thu hút FDI thông qua miễn thuế 5 năm đầu kể từ ngày thành lập và miễn 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho 9 năm tiếp theo nghĩa là có khả năng được miễn và giảm thuế 14 năm vượt quá chu kỳ công nghệ và gấp 2-3 lần chu kỳ kinh doanh Đây là khoảng thời gian khá dài để nhà đầu tư có thể hoàn vốn và có lãi Khi hết thời hạn, nhà đầu
tư có thể chuyển đổi hình thức đầu tư để được hưởng ưu đãi theo hình thức đầu tư mới hoặc di chuyển cơ sở sản xuất sang địa phương khác để được hưởng các ưu đãi từ đầu nghĩa là 14 năm tiếp theo Nếu di chuyển đầu tư 63 địa phương của cả nước với 63 cơ quan độc lập trong quyết định đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư có thể được hưởng ưu đãi rất lớn về đầu tư lên đến 882 năm nghĩa là gần một thiên niên kỷ Điều này có thể làm giảm tính bền vững về tài khóa, ngân sách đối với Việt Nam
5 Việc loại bỏ thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư do nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh (năm 2016 tăng 9 bậc so với năm 2015) vào doanh nghiệp FDI với tỷ lệ góp vốn dưới 51% có thể tạo
ra một làn sóng đầu tư theo hướng doanh nghiệp liên doanh FDI dưới 51% Điều này đang tạo cơ hội để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, bí quyết và tăng khả năng học hỏi nhà đầu tư nước ngoài cần được chuẩn bị sự thích ứng triệt để Xu hướng doanh nghiệp 100% nước ngoài và liên doanh dưới 51% phần góp vốn điều lệ sẽ tăng lên ở Việt Nam
Từ những vấn đề trên là yếu tố cốt lõi gây ra những thay đổi tiềm năng và tường mình trong thể chế FDI tại Việt Nam cần được quan tâm để điều chỉnh để FDI trở thành một nguồn động lực vận đông theo đúng xu hướng cũng như bản chất của nó Vấn đề là cần triệt để khai thác tác động tích cực, lan tỏa và lâu dài của FDI đến nền kinh tế để tận dụng lớn nhất tác động của FDI đến việc thực hiện các mục tiêu đặt ra trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
Vị trí và vai trò của FDI trong nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1988-2018
FDI vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng sau khi có Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Việt Nam có nhiều tiêm năng để thu hút FDI về điều kiện tự nhiên, nguồn lực, thị trường, chính sách kể cả tài sản chiến lược Điều đó có thể xem qua động thái tăng trưởng cả vốn đăng ký và vốn thực hiện ở Hình 1 Năm 2008, số vốn FDI đăng ký của Việt Nam đạt mức kỷ lục trên 70 tỷ USD Đây là thời điểm Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO Tuy nhiên, đối chiếu với tình hình FDI toàn cầu, năm 2008 lại là năm FDI đang đà suy giảm để chạm đáy vào năm 2009 từ 1979 tỷ USD xuống
1114 tỷ USD Nói cách khác, động thái của FDI của thế giới và FDI của Việt Nam biến thiên không tương ứng với nhau
Trang 4Hình 1: FDI toàn cầu 2007-2018 và FDI của Việt Nam đăng ký và thực hiện giai đoạn 1988-2016
• Nguồn: UNCTAD (2017) • Nguồn: Tổng cục Thống kê (2016) và Bộ Kế hoạch
và Đầu tư (2017)
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/03/2017, cả nước có 23.071 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng
ký 300,7 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế đạt 158,45 tỷ USD, bằng 49,3% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực
FDI đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất 175,57 tỷ USD, chiếm 59,3% tổng vốn đầu tư, tiếp theo là kinh doanh bất động sản 52,58 tỷ USD (chiếm 17,48% tổng vốn đầu tư), sản xuất, phân phối điện, khí nước với 12,9 tỷ USD (chiếm 4,29% tổng vốn đầu tư)
Có 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 54 tỷ USD (chiếm 17,9% tổng vốn đầu tư) Nhật Bản đứng thứ hai với 42,49 tỷ USD (chiếm 14,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, British Virgin Island, Hồng Kông FDI được đầu tư vào tất cả 63 tỉnh, thành phố, trong đó thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 45,66 tỷ USD (chiếm 15,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là Bình Dương với 28,2 tỷ USD (chiếm 9,4% tổng vốn đầu tư), Bà Rịa – Vũng Tàu với 27,2 tỷ USD (chiếm 9% tổng vốn đầu tư), Hà Nội với 26 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư)
Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2017, vốn FDI đă tăng 54% so với cùng kỳ năm 2016 và xuất hiện ở 18 ngành kinh tế
và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng trên 50% như trong năm 2016 Tổng vốn FDI đăng ký của năm
2017 đạt trên 20 tỷ USD và FDI thực hiện có thể 17-18 tỷ USD Nếu đối chiếu với cơ cấu đầu tư theo ngành của FDI của thế giới (Hình 2) thì có thể thấy có sự khác nhau đáng kể Năm 2016, FDI vào dịch vụ chiếm tỷ trọng 64%, ngành chế tạo chỉ 27%, chế biến thô 7% và các ngành khác 2%
Hình 2: Cơ cấu đầu tư theo ngành của FDI thế giới- khác cơ bản với cơ cấu này của Việt Nam
• Nguồn: UNCTAD (2017)
Về hình thức FDI, đến năm 2016, ở Việt Nam, hình thức doanh nghiệp 100% vốn FDI chiếm tỷ trọng 82,7% số
dự án, doanh nghiệp liên doanh chiếm 16,1%, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 1% và các hợp đồng BOT,
BT, BTO chiếm 0,2% Hình thức này khác với cơ cấu hình thức của FDI thế giới trong đó đầu tư mới chiếm tỷ trọng khoảng 2/3 số dự án đầu tư và số dự án theo hình thức này ngày càng giảm còn hình thức M&A ngày càng tăng và các nước công nghiệp phát triển coi trong hình thức M&A Số liệu thống kê của Việt Nam không thống kê theo tiêu thức này cho nên rất khó so sánh chính xác giữa Việt Nam và thế giới về hình thức đầu tư (Hình 3)
Trang 5Hình 3: Cơ cấu FDI theo hình thức của Việt Nam
• Nguồn: Bố Kế hoạch và Đầu tư
Nếu xem xét về kim ngạch xuất- nhập khẩu trong giai đoạn 2001-2016, có thể thấy FDI chiếm tỷ trọng khoảng 70% trong tổng kim ngạch xuất- nhập khẩu của cả nước Từ năm 2001-2010, doanh nghiệp FDI chủ yếu nhập siêu nhưng tính từ năm 2012, các doanh nghiệp FDI chủ yếu xuất siêu và điều này cho thấy năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp FDI được cải thiện đáng kể hay nói cách khác FDI của Việt Nam chủ yếu thực hiện theo định hướng xuất khẩu (Hình 4)
Hình 4: Kim ngạch xuất- nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2016
* Nguồn: Tổng cục Hải quan (2017)
Căn cứ vào tình hình thực hiện của FDI trong khoảng 30 năm có thể thấy trong các năm 2017 và 2018 FDI có xu hướng tăng lên và theo dự đoán của tác giả, FDI thực hiện năm 2017 vào khoảng 17,5 tỷ USD và năm 2018 là 18 tỷ USD Tốc độ tăng GDP của Việt Nam năm 2017 có thể đạt con số 6,7% mặc dù theo dự báo của Ngân hàng thế giới WB, tốc độ này có thể chỉ đạt 6.3% và Việt Nam đang có giải pháp xuất khẩu 2 triệu tấn dầu thô và 1 triệu tấn than để đạt được con số 6,7% có thể gặp khó khăn do giá nguyên liệu thô trên thị trường thế giới giảm và đi ngược với mô hình tăng trưởng theo chiều sâu Vẫn có ý kiến cho rằng khả năng Việt Nam đạt 6.7% là khả thi nếu có quyết tâm cao, khai thác được tác động khởi nghiệp, kinh tế tư nhân, giải ngân FDI cam kết và tác giả cũng đồng ý theo cách tiếp cận này Năm 2018, với việc
mở cửa thị trường theo cam kết WTO cũng như các cam kết quốc tế khác, động lực tăng trưởng của Việt Nam do mở rộng thị trường tăng lên nên Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 7% Kết hợp giữa xu hướng vận động của FDI và GDP cùng trên Hình 5, có thể thấy rõ xu hướng mặc dù khác nhau (GDP chủ yếu nằm ngang còn FDI là đường dốc lên) nhưng
cả hai đều năm trong xu hướng mở rộng
Trang 6Hình 5: Tăng trưởng GDP và FDI thực hiện của Việt Nam giai đoạn 1988-2018
• Nguồn: Tổng cục Thống kê và dự đoán của tác giả (2017)
Nếu sử dụng kiểm định Khi bình phương (Chisquare) có thể thu được kết quả như sau:
Case Processing Summary
Cases
Chi-Square Tests
(2-sided)
a 837 cells (100.0%) have expected count less than 5 The minimum expected count is 03
Hệ số kiểm định Khi bình phương là 806.000, bậc tự do là 780 và mức ý nghĩa lớn hơn 5% cho nên GDP của Việt Nam không có mối quan hệ tương quan với FDI Nói cách khác, FDI có tác động đáng kể đến GDP nhưng khong máng tính tương quan, hai biên này độc lập với nhau Tăng trưởng GDP của Việt Nam còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác do
đó không nên quá chủ trong khai thác FDI vào thực hiện mục tiêu tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam
Một số đề xuất trong 6 tháng cuối năm 2017
Dựa trên phân tích xu hướng và kiểm định mối quan hệ tương quan giữa FDI và GDP kết hợp với việc xem xét các yếu tố khác như mở cửa thị trường theo cam kết trong WTO từ 11/1/2018 hàng rào thương mại được loại bỏ, do đó,
có thể thấy nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu áp lực khác mạnh từ FDI và nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài mà các đối tác thương mại đang có chiến lược thâm nhập vào thị trường Việt Nam với quy mô dân số khoảng 95 triệu người và thu nhập bình quân đầu người khoảng 2500 USD Mặc dù các phân tích và nghiên cứu định lượng cho thấy FDI không có mối quan
hệ chặt chẽ với GDP của Việt Nam nhưng vị trí và vai trò của FDI trong tác động thị trường, tạo việc làm và thuscd dẩy xuất khẩu
Để tiếp tục khai thác tác động của FDI với các tác động có thể, có một số đề xuất sau:
Thứ nhất, cần điều chỉnh các yếu tổ cốt lõi về thể chế áp dụng đối với FDI theo đúng thông lệ và cam kết quốc tế
mà Việt Nam đã tham gia để tăng độ ổn định, thống nhất của thể chế, thể hiện sự quan tâm của thể chế cũng như để giảm thiểu những thiệt hại về lợi ích do nhà đầu tư nước ngoài có thể khai thác triệt để các ưu đãi để thu lợi và giảm các nghĩa
vụ phải thực hiện với Việt Nam Việc ký kết hiệp định TPP sẽ tạo động lực mạnh để các nhà đầu tư tăng FDI vào Việt Nam, vì thế cần đưa ra tuyên bô chính thức tham gia TPP để nhà đầu tư chuẩn bị từ trước khi TPP có hiệu lực vào 2/4/2018 Trong điều kiện TPP không có Mỹ, cần đàm phán để nâng Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa
Kỳ lên một trình độ mới phù hợp với đặc thù hai nước và chính sách phát triển đàm phán song phương của Chínhq uyền Tổng thống Donald Trump Đây sẽ là động lực lớn để dòng FDI xuất khẩu tăng nhanh vào Việt Nam để đến khi vượt qua một ngưỡng nhất định sẽ tạo động lực toàn diện và triệt để nhất với nền kinh tế Việt Nam trong đó 6 tháng cuối năm 2017
Trang 7là giai đoạn có tính bước ngoặt Có chiến lược để khai thác quy chế kinh tế thị trường khi Việt Nam được Hoa Kỳ công nhân nền kinh tế thị trường nhằm hình thánh sức mạnh tăng trưởng
Thứ hai, kết nối khu vực kinh tế còn lại với FDI theo cách thức cải thiện trình độ nguồn nhân lực để có thể học
hỏi trực tiếp trong dự án, mô phỏng mô hình tham gia thị trường, cùng đầu tư vào các lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao do FDI thực hiện tại Việt Nam để giảm thiểu chi phí nghiên cứu thị trường Nỗ lực, chủ động và tích của của doanh nghiệp là nguồn động lực trực tiếp để đạt mục tiêu học hỏi và kết nối với FDI Cần quyết tâm sử dụng FDI để mở rộng thị trường trong nước, phát triển mạnh thị trường địa phương và cả nước, kết nối thị trường trong nước và nước ngoài Việc hoàn thiện thể chế FDI sẽ tạo sự đột phá lớn đối với FDI
Thứ ba, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch, giảm thiểu chi phí giao
dịch ngầm, tình trạng quan liêu, tham nhũng hoặc các loại thủ tục, giấy phép không phù hợp bằng việc xây dựng và công
bố công khai một hệ thống quản lý sử dụng trực tuyến dễ tiếp cận, loại bỏ các loại giấy phép con và đào tạo đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn, kỹ luật lao động và có năng suất cao Đặc biệt, cần chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh của các địa phương và lấy chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) làm căn cử để hoàn thiện các khía cạnh Mạnh dan bổ sung thêm chỉ số thành phần “Mức độ thân thiện và thiện ý với nhà đầu tư nước ngoài” để tăng khả năng hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng xây dựng một chính phủ gần dân, gần nhà đầu tư và chính phủ hỗ trợ Chỉ số này cùng nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng vô cảm hoặc giảm thiểu những gai góc, sắc nhọn trong ứng xử về chính sách, công cụ và biện pháp áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng về đường giao thông, sân bay, bến cảng, hạ tầng thông tin, trung tâm
dịch vụ logistics, dịch vụ kinh doanh và các loại dịch vụ khác để tiết kiệm thời gian, chi phí để thúc đẩy quá trình đầu tư, phát hiện và khai thác cơ hội cũng như tạo nền tảng để nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư lớn vào các lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần khai thác các nguồn lực phát triển mới được tận dụng dưới mức tiềm năng Đặc biệt cần tăng sự kết nối với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, kết nối thị trường khu vực để các vùng kinh tế trong và ngoài nước này trở thành đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng cả nước
Kết luận
Trong 6 tháng cuối năm 2017, Việt Nam đặt mục tiêu hoàn thành được mục tiêu tăng trưởng 6,7% mặc dù Ngân hàng thế giới đưa ra dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2017 chỉ có thể đạt 6,3% trong đó có các giải pháp như tiếp tục xuất khẩu 1 triệu tấn dầu thô và hàng triệu tấn than đá theo phương thức vận hành của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng Tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam rất lớn xét về nguồn lực tài nguyên, nhân lực, tài chính, năng lực sản xuất cũng như các vùng kinh tế động lực của nền kinh tế vẫn có những chiều hương phát triển tích cực Tuy nhiên, FDI vẫn là một nguồn động lực lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam 6 tháng cuối năm 2017 FDI trở thành một nguồn lực đóng vai trò nội công của nền kinh tế trong khi nguồn hàng nhập khẩu từ nước ngoài sẽ tăng lên rất lớn do mở cửa đầy đủ theo các cam kết trong WTO trong giai đoạn chuẩn bị 6 tháng cuối năm 2017
Cần rà soát và điều chỉnh các yếu tổ cốt lõi của thể chế FDI để FDI thực sự trở thành một nguồn động lực không thể thiếu trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam 6 tháng cuối năm 2017 bên cạnh phần còn lại của nền kinh tế Việt Nam Việc điều chỉnh này có thể không phải là biện pháp mang tính tức thời nhưng có giá trị trong trung hạn và dài hạn Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan xây dựng và thực hiện pháp luật để thực hiện mục tiêu này đạt hiệu quả Đầy là giai đoạn Việt Nam đối mặt với trạng thái “nội công, ngoại kích” về kinh tế trong đó FDI trở thành yếu tố nội công còn nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam trở thành yếu tố “ngoại kích” cần được giải quyết thỏa đáng
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Agya, Atabani Adi1 , Wunuji, Emmanuel Adimani (2014), Effect of Foreign Direct Investment on China Economic Growth: A Granger Causality Approach, truy cập lần cuối cùng ngày 28 tháng 6 năm 2017, từ:
<http://www.iosrjournals.org/iosr-jef/papers/vol2-issue4/G0245663.pdf>
2 Bân Kinh tế trung ương (2017), Tài liệu “Diễn đàn kinh tế Việt Nam năm 2017” tổ chức tại Hà Nội ngày 25 tháng 6 năm 2017
3 Cục đầu tư nước ngoài (2017), Số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Truy cập lần cuối cùng ngày 28 tháng 6 năm 2017, từ: <https://drive.google.com/file/d/0B0jqVAnX-mtBOXJadUtBRmZ0MlU/view>
4 Đại học Kinh tế quốc dân (2012), Giáo trình Kinh tế quốc tế Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Chương di chuyển quốc tế nguồn lực
5 Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, Phần về đầu tư
6 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, Chương 30: Đầu tư
7 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2000
8 Luật đầu tư 2014
9 Mahanta Devajit (2012), Impact of Foreign Direct Investment on Indian economy, truy cập lần cuối cùng ngày 28 tháng 6 năm 2017, từ: <http://www.isca.in/IJMS/Archive/v1/i2/5.ISCA-RJMgtS-2012-020.pdf>
10 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2016), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, truy cập lầ cuối cùng ngày 28 tháng 6 năm 2017, từ: < http://www.pcivietnam.org/uploads/46374-Bao%20cao%20PCI%202016_final.pdf>
Trang 811 P.T (2017), Báo Dân trí, Lương công chức, viên chức chính thức tăng từ 1/7/2017, truy cập lần cuối cùng ngày
28 tháng 6 năm 2017, từ:
<http://dantri.com.vn/chinh-tri/luong-cong-chuc-vien-chuc-chinh-thuc-tang-tu-1-7-2017-20170426202041401.htm>
12 Stiglizt E.J (1995), Kinh tế học công cộng Nhà xuất bản Khoa học- kỹ thuật
13 Trung tâm WTO, Các cam kết quốc tế của Việt Nam, truy cập lần cuối cùng ngày 28 tháng 6 năm 2017, từ:
<htpp://trungtamwto.org>
14 Uy ban của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), Báo cáo đầu tư toàn cầu 2017, truy cập lần cuối cùng ngày 28 tháng 6 năm 2017, từ: <http://unctad.org/en/PublicationsLibrary/wir2017_en.pdf>
15 Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2017), Cần chính sách an toàn và ổn định để thu hút đầu tư nước ngoài,
<ttp://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ttsk/dtn/ttskdtn_chitiet?dDocName=MOFUCM103785&_a frLoop=8698065521563177#!%40%40%3F_afrLoop%3D8698065521563177%26dDocName%3DMOFUCM10 3785%26_adf.ctrl-state%3Do7axofyni_9>