Các yếu tố đó là: - Hút thuốc: hút thuốc là hoặc hút thuốc lào đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý động mạch vành, tăng huyết áp, bệnh động mạch ngoại biên… - Ít hoạt động t
Trang 1100 CÂU HỎI VỀ BỆNH TIM MẠCH
Hội Tim mạch học Việt Nam
Trang 2Câu hỏi 1: Tôi hay bị hồi hộp đánh trống ngực, đó có phải là bị bệnh tim mạch không? Xin cho biết những biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch?
Trả lời:
Hồi hộp đánh trống ngực là một triệu chứng không đặc hiệu xuất hiện khi có bất thường về nhịp đập của quả tim Các bất thường về nhịp đập của quả tim như ngoại tâm thu, bỏ nhịp, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim không đều Để chẩn đoán chính xác liệu có bất thường về nhịp tim hay không, người bệnh cần được làm điện tim đồ hoặc điện tim đồ ghi trong thời gian 24 giờ Một số nguyên nhân có thể gây ra tình trạng hồi hộp đánh trống ngực như: căng thẳng tâm lý, cường tuyến giáp, tác dụng phụ của một số loại thuốc, bệnh lý động mạch vành, bệnh lý cơ tim hoặc bệnh lý van tim Đôi khi thầy thuốc không tìm được nguyên nhân gây ra hồi hộp đánh trống ngực, lúc đó cần hỏi xem người bệnh có dùng chất cafein như coffee, chè, cacao, chocolate, soda… hay không, mặt khác cần hỏi về tiền sử sử dụng thuốc như thuốc nhỏ mũi…
Một số biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch được mô tả sau đây:
- Khó thở: là cảm giác khó khăn khi tiến hành động tác thở Nếu bạn thấy xuất hiện khó thở không tương xức với mức độ hoạt động thể lực, khó thở xuất hiện đột ngột bạn cần phải đi khám bác sỹ
- Đau thắt ngực: bất kì cơn đau nào như bóp nghẹt ở giữa ngực kéo dài hơn hai phút đều có thể là biểu hiện của bệnh lý tim mạch Ban cần gọi điện cho bác sỹ và đi khám bệnh ngay lập tức
- Ngất: một số rối loạn nhịp tim hoặc bệnh lý mạch cảnh… có thể gây ra ngất Cần cấp cứu người bệnh bị ngất tại chỗ trước khi chuyển người bệnh tới bệnh viện
- Phù: thường gặp phù mắt cá chân do các bệnh lý tim mạch Cần đưa người bệnh đi khám
để xác định nguyên nhân gây ra phù chân
- Tím tái: là hiện tượng đổi màu phớt xanh của da và niêm mạc do máu không được bão hòa oxy đầy đủ Tím tái thường thấy ở đầu các ngón tay và quanh môi Tương tự như phù, tím tái là một dấu hiệu hơn là một triệu chứng của bệnh tim mạch
- Đau cách hồi: là một dấu hiệu khá đặc hiệu của bệnh động mạch chi dưới Người bệnh có biểu hiện mỏi chân và đau hoặc chuột rút khi đi lại, sau khi nghỉ thì đỡ đau chân Độ dài, quãng đường đi hoặc mức độ đau, thời gian hồi phục phản ánh mức độ nặng nhẹ của bệnh tắc động mạch chi dưới Cần đưa người bệnh đi khám để điều trị kịp thời
Trang 3
Câu hỏi 2: Các biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch cần cấp cứu là gì? Xin cho biết cách phát hiện
và đối phó khi gặp tình huống đó?
Trả lời:
Một số biểu hiện cảnh báo bệnh lý tim mạch cần cấp cứu như sau:
- Đau thắt ngực: bệnh nhân đau ngực dữ dội, cảm giác bị bóp nghẹt trong lồng ngực, vị trí cơn đau thường ở phía sau xương ức, đau lan lên vai trái, mặt trong cánh tay trái hoặc lan ra sau lưng… Đây là biểu hiện nghi ngờ bệnh nhồi máy cơ tim Khi gặp người bệnh có biểu hiện triệu chứng như trên, bạn cần gọi người giúp đỡ đồng thời gọi cấp cứu 115 để họ xử trí ban đầu và đưa người bệnh tới bệnh viện, nếu không gọi được cấp cứu 115, bạn cần đưa người bệnh tới bệnh viện ngay lập tức, không để người bệnh tự đi khám
- Các biểu hiện ngừng tuần hoàn: người bệnh đột ngột ngất xỉu, mất phản ứng xung quanh, gọi hỏi không biết, ngừng thở, tím tái toàn thân, đôi khi có biểu hiện co giật hoặc mềm nhũn, có thể xuất hiện đại tiểu tiện không tự chủ Bạn cần gọi người hỗ trợ và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức Đồng thời bạn cần ép tim – thổi ngạt cho người bệnh ngay Tư thế ép tim như sau: người cấp cứu quỳ bên cạnh nạn nhân Đặt hai tay của người cấp cứu (bàn tay phải trên mu bàn tay trái) lên 1/3 dưới xương ức của nạn nhân, ấn mạnh đồng thời cả hai tay cho lồng ngực nạn nhân xẹp xuống Bạn cần ép tim liên tục thậm chí không cần động tác hà hơi thổi ngạt nếu bạn một mình cấp cứu nạn nhân
- Các dấu hiệu đột quỵ như đột ngột tê hoặc yếu nửa người (một bên tay chân), ngất hoặc hôn mê, mất hoặc rối loạn khả năng nói, rối loạn thị giác, đột ngột mất thăng bằng và phối hợp các động tác, đau đầu dữ dội, nôn không rõ nguyên nhân Nếu người bệnh có một trong các triệu chứng trên, cần đưa người bệnh tới ngay bệnh viện hoặc phòng cấp cứu gần nhất
- Khó thở: người bệnh đột ngột khó thở dữ dội, vã mồ hôi Cần gọi người cấp cứu và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức Đồng thời, bạn cho người bệnh nằm đầu cao, cho người bệnh thở oxy nếu
có
- Đau đột ngột chân hoặc tay: Người bệnh đi đau đột ngột chân hoặc tay, đau dữ dội Chân hoặc tay đau lạnh, nhợt hơn so với bên đối diện Đây có thể là biểu hiện tắc động mạch cấp tính của chân hoặc tay Khi gặp người bệnh có biểu hiện này, bạn cần đưa người bệnh đi cấp cứu ngay lập tức để phẫu thuật lấy cục huyết khối trong lòng mạch ở chân hoặc tay của người bệnh
Trang 4Câu hỏi 3: Bệnh tim có di truyền không? Chồng mới cưới của em gái tôi bị bệnh hở van hai lá do thấp tim, vậy cháu tôi có thể bị bệnh tim không?
ở nơi ẩm thấp, không để nhiễm lạnh cho trẻ em Một khi trẻ có dấu hiệu của viêm đường hô hấp trên, trẻ cần được điều trị triệt để và sớm Nếu trẻ có các biểu hiện đau khớp thì cần đưa ngay trẻ đến khám ở các cơ sở y tế
Câu hỏi 4: Động mạch vành là gì? Chức năng của nó ra sao?
Trả lời:
Động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng nuôi dưỡng quả tim Tuần hoàn động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim Mỗi quả tim của chúng ta có hai động mạch vành: động mạch vành phải và động mạch vành trái, các động mạch vành này xuất phát từ gốc động mạch chủ qua các trung gian là các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt quả tim Động mạch vành trái chạy một đoạn ngắn (1 – 3cm) sau đó chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước và động mach
mũ, đoạn ngắn đó được gọi là thân chung động mạch vành Như vậy, hệ thống động mạch vành
có ba nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: động mạch liên thất trước, động mach mũ và động mạch vành phải Từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ
đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim Khi bị bệnh lý động mạch vành, dòng máu từ động mạch vành tới cơ tim giảm sút, khi đó cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực
Trang 5Câu hỏi 5: Tôi 30 tuổi, nhịp tim thường xuyên 90 nhịp/phút, vậy có làm sao không?
Bạn 30 tuổi, nhịp tim là 90 nhịp/phút là bình thường
Câu hỏi 6: Những nguyên nhân nào gây ra bệnh tim mạch?
Trả lời:
Có nhiều yếu tố trong cuộc sống được chứng minh làm tăng khả năng xuất hiện và tiến triển bệnh lý tim mạch Những yếu tố này được gọi là yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch Các yếu tố
đó là:
- Hút thuốc: hút thuốc là hoặc hút thuốc lào đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh
lý động mạch vành, tăng huyết áp, bệnh động mạch ngoại biên…
- Ít hoạt động thể lực: lười hoạt động thể lức làm tăng khả năng xuất hiện bệnh tăng huyết
- Tăng cholesterol máu: tăng cholesterol máu làm thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, nó
là yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh tăng huyết áp, bệnh lý động mạch cảnh, động mạch chủ, động mạch vành, động mạch chi dưới
- Tăng huyết áp: tăng huyết áp là kẻ giết người thầm lặng, nó là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện
và tiến triển bệnh lý động mạch vành, bệnh động mạch chủ, bệnh động mạch ngoại biên… Bạn cần điều trị tăng huyết áp theo phác đồ của bác sỹ tim mạch để làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh
lý tim mạch
Trang 6- Đái tháo đường: bệnh lý này là yếu tố nguy cơ rất mạnh mắc các bệnh lý tim mạch như bệnh lý động mạch vành, bệnh động mạch cảnh, bệnh động mạch chủ và bệnh động mạch ngoại biên… Nếu bạn bị đái tháo đường, bạn cần tuân thủ điều trị bệnh này nghiêm ngặt để tránh biến chứng tim mạch
- Yếu tố gia đình: một số bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh lý cơ tim giãn, bệnh cơ tim phì đại, hội chứng Brugada có tính chất gia đình
- Tuổi: nam giới trên 55 tuổi hoặc nữ giới trên 65 tuổi có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp
- Giới tính nam
Câu hỏi 7: Tôi năm nay 50 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, hút thuốc lá, huyết áp 150/60 mmHg Khả
năng tôi bị bệnh tim như thế nào? Làm sao ước tính được nguy cơ bị bệnh tim mạch?
Trả lời:
Bạn có hai yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng xuất hiện bệnh lý tim mạch đó là hút thuốc là
và tăng huyết áp
Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến làm tăng nguy cơ mắc và tử vong do bệnh
lý tim mạch, các nguy cơ này tăng lên tỷ lệ thuận với khối lượng bạn hút thuốc và thời gian bạn hút thuốc Để làm giảm nguy cơ tim mạch, bạn cần kiên quyết bỏ hút thuốc ngay lập tức
Tăng huyết áp là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch như bệnh động mạch vành, bệnh động mạch chủ, bệnh động mạch ngoại biên… Điều trị tăng huyết áp hợp lý làm giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong do bệnh lý tim mạch
Để ước tính nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch trong vòng 10 năm, người ta sử dụng thang điểm Framingham Thang điểm Framingham được tính riêng cho nam giới và nữ giới, các thông số trong thang điểm bao gồm: tuổi, tình trạng hút thuốc, huyết áp tâm thu, nồng độ cholesterol và nồng độ HDL Sau khi tính tổng điểm ta dễ dàng quy ra phần trăm nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch trong vòng 10 năm tới cho người bệnh
Trường hợp của bạn, để tính nguy cơ tim mạch bạn cần đi khám bác sỹ chuyên khoa tim mạch, làm xét nghiệm cholesterol và HDL máu để ước tính nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch
Trang 7THANG ĐIỂM FRAMINGHAM CHO NAM GIỚI
Điểm (40-49 tuổi)
Điểm (50-59 tuổi)
Điểm (60-69 tuổi)
Điểm (70-79 tuổi
Điểm 50-59 tuổi
Điểm 60-69 tuổi
Điểm 70-79 tuổi
Trang 9THANG ĐIỂM FRAMINGHAM CHO NỮ GIỚI
Điểm 50-59 tuổi
Điểm 60-69 tuổi
Điểm 70-79 tuổi
Điểm 50-59 tuổi
Điểm 60-69 tuổi
Điểm 70-79 tuổi
Trang 10Câu hỏi 8: Hút thuốc lá ảnh hưởng đến tim mạch như thế nào? Tôi đang hút thuốc nhưng muốn
bỏ khó quá, có cách nào giúp bỏ thuốc lá không?
Trả lời:
Khói thuốc có rất nhiều chất độc như nicotin, hắc ín, formaldehyt, cyanid… Hút thuốc lá không những làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch, đột quỵ, ung thư mà còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý răng miệng, bệnh lý đường ruột, giảm khả năng tình dục…
Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến làm tăng nguy cơ mắc và tử vong do bệnh
lý tim mạch, các nguy cơ này tăng lên tỷ lệ thuận với khối lượng bạn hút thuốc và thời gian bạn hút thuốc Nếu bạn muốn làm cho trái tim mình khỏe mạnh hơn hãy từ bỏ thói quen hút thuốc ngay lập tức
Bỏ thuốc là không hề dễ dàng Theo thống kê, có 70% người hút thuốc muốn bỏ thuốc lá nhưng chỉ có 5% số người này thành công Vậy một số lời khuyên cho bạn khi bạn muốn bỏ thuốc thành công:
Trang 11Bạn hãy nói với bác sỹ của bạn về việc bạn muốn bỏ hút thuốc và xin lời khuyên từ bác sỹ
Sử dụng nicotine từ kẹo cao su, thuốc xịt họng để thay thế nicotin từ thuốc lá Lưu ý không nên hút thuốc lá khi đang dùng nicotin thay thế
Chọn một ngày đặc biệt để tiến hành bỏ hút thuốc và bạn kiên quyết với bản thân cũng như những người thân của bạn rằng bạn thực sự muốn bỏ thuốc
Nếu lần đầu bạn chưa bỏ thuốc lá thành công, bạn đừng từ bỏ quyết tâm của mình, mình người bỏ thuốc lá sau vài lần cố gắng
Hãy thay đổi thói quen hàng ngày, bạn hãy vứt gạt tàn thuốc lá đi, bạn hãy quyét dọn nhà của, giặt quần áo hoặc đi giã ngoại với gia đình, bạn bè
Một đến ba tuần sau khi bỏ thuốc lá, bạn sẽ thấy bồn chồn, lo âu, khó chịu, khó ngủ, mất ngủ, thèm ăn nhiều, đau đầu… sau đó các triệu chứng đó hết dần
Câu hỏi 9: Tôi 57 tuổi, nam giới, cao 167 cm nặng 75 kg Như vậy có béo quá không? ảnh hưởng đến bệnh tim mạch không?
Trả lời:
Béo phì có thể được định nghĩa đơn giản là sự dư thừa lượng chất béo trong cơ thể từ đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong do bệnh lý tim mạch Cách đơn giản để đánh giá sự dư thừa lượng chất béo trong cơ thể là tính chỉ số khối cơ thể (BMI – Body Mass Index) Chỉ số khối cơ thể được tính bằng cách lấy cân nặng (tính theo kg) chia cho bình phương chiều cao (tính theo m) (Tham khảo: Atlas of CARDIOMETABOLIC RISK)
Bạn cao 167 cm, nặng 75 kg; chỉ số khối cơ thể của bạn là 26,9 Như vậy bạn được xếp vào béo phì mức độ I Những người thừa cân, béo phì có nguy cơ rất cao mắc bệnh tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và các rối loạn lipid máu khác, tăng nguy cơ bị đái tháo đường, bệnh tim mạch, đột quỵ và cả ung thư Giảm cân nặng đồng nghĩa với việc làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Trang 12Câu hỏi 10: Tôi béo quá (45 tuổi, cao 157 cm nặng 89 kg) Tôi muốn giảm cân nhưng khó quá,
có thuốc nào giảm cân tốt không? Làm thể nào để giảm cân hiệu quả?
Trả lời:
Bạn cao 157 cm, nặng 89 kg; chỉ số khối cơ thể của bạn là 36,1 như vậy bạn được xếp vào nhóm béo phì mức độ II Bạn có nguy cơ cao mắc bệnh lý tim mạch vì vậy bạn nên giảm cân để giảm nguy cơ mắc
Một điều chắc chắn rằng trong việc giảm cân nặng, nói thường luôn luôn dễ hơn thực hiện
nó Sau đây là một số lời khuyên cho bạn trong việc thực hiện mục tiêu giảm cân nặng:
- Tránh ăn thức ăn nhiều chất béo
- Tránh ăn thức ăn chế biến sẵn: do chúng chứa nhiều muối, calo…
- Tập thể dục: bạn cần tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày và đều đặn các ngày trong tuần
- Bạn cần xác định mức BMI mà bạn muốn đạt được BMI lý tưởng là từ 18,5 – 24,9
- Bạn cân định kì một lần một tuần hoặc một lần mõi hai tuần, bạn đừng cân hàng ngày
- Bạn đừng để bị đói quá
- Bạn nên ăn chậm
- Bạn không nên bỏ ăn sáng
- Bạn không nên ăn khi xem ti vi
- Tránh ăn trước khi đi ngủ
- Bạn nên sử dụng thức ăn có lợi cho tim mạch
Câu hỏi 11: Tại sao và nên tập thể dục như thế nào là tốt cho tim mạch?
Trả lời:
Tập thể dục thường xuyên không những giúp bạn giảm nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch mà còn làm cho bạn cảm thấy khỏe khoắn và thoải mái hơn trong cuộc sống!
Nếu bạn tập thể dục 30 đến 60 phút mỗi ngày và tập thể dục hầu hết các ngày trong tuần, bạn
sẽ giảm được nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch, kiểm soát được các yếu tố nguy cơ như tăng huyết
áp, tăng cholesterol máu và béo phì
Một số nhà nghiên cứu còn chứng minh rằng ngay cả khi bạn tập thể dục với cường độ nhẹ như đi bộ, chăm sóc cây cảnh, làm vườn… bạn cũng đã giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch Tập thể dục mặt khác còn giúp bản giảm căng thẳng trong cuộc sống, khỏe hơn, ngủ ngon hơn và ăn ngon miệng hơn
Trang 13Trong các hình thức tập thể dục thì đi bộ được chứng minh rất tốt cho sức khỏe tim mạch, bạn có thể đi bộ mọi nơi, mọi lúc với các tốc độ khác nhau
Các hình thức tập thể dục khác như đi xe đạp, tập yoga, bơi… cũng rất tốt cho tim mạch Bạn đừng để vấn đề tuổi tác làm nặng đôi vai mình, người cao tuổi vẫn rất cần tập thể dục, hãy trao đổi với bác sỹ của bạn về hình thức, thời gian tập thể dục
Bạn nên ngừng tập thể dục nếu bạn cảm thấy: đau ngực, đau lưng, đau vai, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, khó thở, mệt, nhịp tim đập nhanh hoặc đập chậm… hoặc khi bạn thấy bạn bị nói ngắt quãng khi đang tập thể dục
Câu hỏi 12: Chế độ ăn uống như thế nào là tốt cho bệnh tim mạch?
Trả lời:
Các nhà khoa học chứng minh chế độ ăn hợp lý sẽ giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch Một số điểm cần lưu ý trong chế độ ăn phù hợp với sức khỏe tim mạch như sau:
- Giảm muối: chế độ ăn giảm muối giúp giảm và kiểm soát tăng huyết áp
- Giàu kali: thiếu kali làm ảnh hưởng tới huyết áp, gây rối loạn nhịp tim Chế độ ăn bổ sung kali giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả hơn Các thức ăn giàu kali bao gồm chuối, cam, lê, mận chín…
- Nhiều rau, trái cây, ngũ cốc
- Tránh thức ăn chế biến sẵn
- Dùng dầu ăn thay vì dùng mỡ động vật để tránh chất béo bão hòa
- Mua thịt chưa chế biến, bạn chế biến bằng đồ không có chất béo bão hòa và transfat
- Tránh thức ăn và đồ uống có nhiều đường
- Bạn đừng dùng bơ kèm mayonaise khi chế biến thức ăn, bạn chỉ nên dùng một trong hai thứ này mà thôi
- Bạn có thể uống rượu với lượng rượu vừa phải
- Nếu có thể, bạn nên đến bác sỹ dinh dưỡng để được tư vấn về chế độ ăn hợp lý
- Chế độ ăn vùng Địa Trung Hải giúp làm giảm yếu tố nguy cơ tim mạch Nguyên lý của chế
độ ăn này là: nhiều rau, nhiều quả, nhiều cá ăn kèm với bánh mì, ngũ cốc, khoai tây, đậu, củ, sữa chua… ngoài ra chế độ ăn này có rất ít thịt, ít chất béo (bơ, dầu dừa, dầu cọ, thịt) thay vào đó là nhiều chất béo không bão hòa (dầu ôliu); cuối cùng chế độ ăn này kèm theo một chút rượu đỏ
Trang 14Câu hỏi 13: Tôi bị bệnh động mạch vành mạn tính đang dùng thuốc theo đơn bác sỹ Gần đây tôi
được giới thiệu nhiều về các thực phẩm chức năng? Xin cho biết có thể dùng thực phẩm chức năng
này thay được không? lợi ích thực sự với bệnh tim mạch như thế nào?
Trả lời:
Thực phẩm chức năng được người Nhật sử dụng đầu tiên trong những năm 1980 để chỉ những thực phẩm chế biến có chứa những thành phần tuy không có giá trị dinh dưỡngnhưng giúp nâng cao sức khoẻ cho người sử dụng Bộ Y tế Việt Nam định nghĩa thực phẩm chức năng: là thực phẩm
dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái,
tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh Như vậy, thực phẩm chức năng khác với thuốc, thuốc là những sản phẩm để điều trị và phòng bệnh, được chỉ định để nhằm tái lập, điều chỉnh hoặc sửa đổi chức năng sinh lý của cơ thể Thực phẩm chức năng được dùng để hỗ trợ điều trị chứ không thể thay thế hoàn toàn thuốc trong các chế độ điều trị bệnh
Bạn bị bệnh động mạch vành mạn tính, bạn cần phải điều trị thuốc thường xuyên và liên tục Các thuốc điều trị bệnh động mạch vành được chứng minh làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, tử vong Thực phẩm chức năng chỉ có tác dụng hỗ trợ chế độ điều trị không được thay thế thuốc điều trị, đặc biệt là các thuốc tim mạch
Hiện nay có nhiều loại thực phẩm chức năng khác nhau được quảng cáo trên thị trường tuy nhiên chưa có loại thực phẩm chức năng nào được chứng minh là mang lại hiệu quả thực sự cho bệnh nhân tim mạch Hãy hỏi ý kiến bác sỹ của bạn trước khi dùng một số tiền lớn để mua thực phẩm chức năng
Hãy nhớ thực phẩm chức năng chỉ có tác dụng HỖ TRỢ điều trị chứ không thay thế hoàn
Uống rượu vang đỏ với một lượng vừa phải giúp cải thiện sức khỏe tim mạch do rượu vang
Trang 15- Ngăn ngừa quá trình xơ vữa động mạch gây ra bởi LDL (loại cholesterol xấu)
Vậy, uống rượu bao nhiêu rượu vang đỏ là đủ? Bạn nên uống 2 – 3 ly rượu vang mỗi ngày Một nghiên cứu tại đại học Bordeaux (Pháp) chứng minh rằng, với một lượng rượu vang như vậy, bạn sẽ giảm được 30% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, 35% nguy cơ tử vong do bệnh lý tim mạch, 18 – 24% nguy cơ tử vong do ung thư Hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo nữ giới và nam giới trên 65 tuôi không nên uống quá 5 – ounce rượu hàng ngày, nam giới dưới 65 tuổi không nên uống quá 5 ounce rượu mỗi ngày Người ta thấy rằng rượu vang đỏ có các chất chống quá trình oxi hóa và giúp bảo vệ mạch máu và trái tim
Câu hỏi 15: Uống café có ảnh hưởng đến tim mạch không?
Trả lời:
Một vài thập kỷ gần đây, các nhà khoa học tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiểu việc uống café mang lại lợi ích hay mang đến nguy cơ cho sức khỏe trái tim Các nhà khoa học chứng minh rằng uống café với một lượng vừa phải (một vài cốc mỗi ngày) là có lợi cho tim mạch do café có thể mang lại một số lợi ích sau:
- Café có thể làm giảm nguy cơ mắc đái tháo đường typ 2
- Café có thể làm giảm nguy cơ bị sỏi mật
- Café có thể làm giảm khả năng mắc ung thư đại tràng
- Café làm tăng khả năng nhận thức
- Café làm giảm nguy cơ tổn thương gan ở những bệnh nhân bị bệnh gan
- Café làm giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson
- Café còn làm tăng khả năng dẻo dai của vận động viên
Café có các lợi ích đó do hạt café chứa nhiều chất chống oxi hóa từ đó giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch, ung thư, đái tháo đường, đột quỵ Tuy nhiên, café cũng có một
số nhược điểm sau:
- Trong thành phần của café có cafein là một chất gây nghiện mức độ nhẹ Sử dụng quá nhiều café có thể gây ra hồi hộp, bồn chồn, run tay chân cho một số người Mặt khác, cafein làm tăng tần số tim, tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim Uống quá nhiều café có thể làm tăng cholesterol
Hầu hết các nghiên cứu lớn chứng minh rằng rất ít người gặp phải các tác dụng khó chịu của café Vì vậy, bạn có thể uống café với một lượng vừa phải mỗi ngày
Trang 16Câu hỏi 16: Tôi bị bệnh tim, có nên tránh ra ngoài khi thời tiết lạnh quá không?
Trả lời:
Những bệnh nhân bị bệnh tim nên cẩn thận khi ra ngoài trong thời tiết lạnh do:
- Khi thời tiết lạnh, nhu cầu cơ thể cần giữ được nhiệt độ ấm, tim cần phải làm việc nhiều hơn để đưa oxy tới các mô trong cơ thể, việc này làm cho trái tim đang bị bệnh phải gồng mình làm việc nặng hơn Mặt khác khi đi ngoài trời lạnh, những cơn gió lạnh càng làm bạn mất nhiệt nhiều hơn, tim bạn càng phải làm việc nhiều hơn, điều này là không tốt cho trái tim của bạn
- Thời tiết lạnh làm các mạch máu co lại, điều này đặc biệt nguy hiểm ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp, khi đó huyết áp sẽ cao hơn và có thể gây ra biến cố tim mạch
- Thời tiết lạnh và tăng nguy cơ hình thành huyết khối trong lòng động mạch
- Mặt khác, thời tiết lạnh làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp, từ đó làm tăng nguy
cơ tổn thương tim mạch
Như vậy, khi bạn bị bệnh tim, trong thời tiết lạnh, bạn nên giữ cơ thể ấm áp, tránh ra ngoài trời lạnh
Câu hỏi 17: Lo lắng có ảnh hưởng đến bệnh tim mạch không?
Trả lời:
Lo lắng có nhiều tác động xấu tới bệnh lý tim mạch
Các lo lắng, căng thẳng cấp tính có thể gây ra tắc cấp tính động mạch như động mạch vành Các lo lắng, căng thẳng kéo dài có thể làm tăng huyết áp Các lo lắng về tâm lý, tình cảm làm mất tính ổn định điện của tim từ đó có thể gây ra rối loạn nhịp tim và ngừng tim
Tuy nhiên có một điều thú vị là, các lo lắng căng thẳng lại tác động khác nhau tới mỗi người,
ở người này các lo lắng căng thẳng gây ra tình trạng chán nản, đau đớn nhưng với một số người khác, các căng thẳng lo lắng làm cho họ càng thêm hăng hái Để kiểm soát được các lo lắng, căng thẳng, bước đầu tiên, bạn cần biết nguyên nhân gây ra nó sau đó bạn sẽ học cách để đối phó với
nó
Kinh nghiệm để vượt qua các lo lắng, căng thẳng:
- Hãy giữ cho cuộc sống của bạn cân bằng
- Hãy học cách chấp nhận những việc bạn không thể làm được
- Hãy học cách nói “không” khi cần thiết
Trang 17Câu hỏi 18: Bố tôi 85 tuổi, huyết áp là 160/80 mmHg, có phải là bình thường theo tuổi không? Xin cho biết phân mức độ THA
Trả lời:
Huyết áp là áp lực của dòng máu đi nuôi cở thể Nhờ có huyết áp cơ thể tạo ra dòng tuần hoàn mang oxy và chất dinh dưỡng đi nuôi cơ thể
Bình thường, huyết áp cả người trưởng thành là dưới 120/80 mmHg Khi huyết áp của bạn
là 140/90 mmHg hoặc cao hơn, bạn đã bị tăng huyết áp (THA) Nếu bạn bị tiểu đường hoặc bị bệnh thận, con số huyết áp tốt nhất là dưới 130/80 mmHg Nếu huyết áp của bạn cao hơn ngưỡng này, bạn đã bị coi là tăng huyết áp và cần phải điều trị
Bố bạn 85 tuổi, huyết áp là 160/80 mmHg Như vậy bố bạn đã bị tăng huyết áp và bố bạn cần được bác sỹ điều trị bệnh tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại tăng huyết áp Chúng tôi xin giới thiệu cách phân loại tăng huyết áp theo Tổ chức Y tế Thế giới và theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam năm 2008:
Giai đoạn I 140 - 159 Và/ hoặc 90 - 99
Giai đoạn II 160 - 179 Và/ hoặc 100 - 109
Giai đoạn III >= 180 Và/hoặc >=110
Câu hỏi 19: Nguyên nhân gây ra THA là gì?
Trả lời:
Tăng huyết áp không phải là bệnh thần kinh, không phải là do căng thẳng thần kinh Khoảng
90 – 95% các trường hợp tăng huyết áp không tìm thấy nguyên nhân nhưng có một số yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh tăng huyết áp, các yếu tố này được gọi là yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp
Yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được:
- Thừa cân và béo phì: người có chỉ số khối cơ thể (BMI) là 23 hoặc cao hơn
- Ăn nhiều muối
Trang 18- Hút thuốc lá: gây co mạch và tăng xơ vữa động mạch
- Uống rượu nặng và thường xuyên
- Thiếu vận động: cuộc sống tĩnh lặng dễ dẫn đến thừa cân, tăng huyết áp
- Stress: các căng thẳng trong cuộc sống cũng làm ảnh hưởng tới huyết áp
Các yếu tố nguy cơ không thể điều chỉnh được:
- Chủng tộc: Người Mỹ gốc Phi cơ tăng huyết áp hơn người Cancasians
- Di truyền: nếu bố mẹ hoặc người ruột thịt của bạn bị tăng huyết áp, bạn có nguy cơ bị bệnh này cao hơn
- Tuổi: tuổi càng cao bạn càng dễ bị tăng huyết áp
Có khoảng < 10% số người bị tăng huyết áp tìm thấy nguyên nhân gây bệnh, các bệnh nhân này được gọi là tăng huyết áp thứ phát (THA có căn nguyên) Một số nguyên nhân gây THA thứ phát gồm có:
- Các bệnh lý về thận: viêm cầu thận, sỏi thận, hẹp động mạch thận…
- Nội tiết: cường tuyến giáp, cường tuyến yên, u vỏ hoặc tủy thượng thận…
- Bệnh lý mạch máu và tim: hở van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, Takayasu…
Tăng huyết áp thúc đẩy và gây ra xơ vữa động mạch Đây là bệnh lý nguy hiểm gây ra nhiều biến chứng tim mạch (tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim…)
Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đột quỵ, ngoài ra tăng huyết áp còn có thể làm tổn thương thận, mắt
Nếu bạn bị tăng huyết áp, hãy nghe theo lời khuyên vủa bác sỹ Hầu hết các trường hợp tăng huyết áp có thể kiểm soát hiệu quả bằng thuốc và từ đó làm giảm nguy cơ mắc bệnh và biến cố tim mạch do tăng huyết áp
Trang 19Các biến chứng thường gặp của THA có thể tóm tắt ngắn ngọn như sau:
Biến chứng tim:
- Cấp tính: phù phổi cấp, NMCT cấp…
- Mạn tính: dày thành tim trái, suy vành mạn, suy tim…
Biến chứng mạch não:
- Cấp tính: xuất huyết não, tắc mạch não, TBMN thoáng qua, bệnh não do THA…
- Mạn tính: tai biến mạch não, tai biến mạch não thoáng qua…
Thận: đái máu, đái ra protein, suy thận…
Mắt: phù võng mạc, xuất huyết, xuất tiết võng mạc, động mạch võng mạc co nhỏ…
Biến chứng động mạch: tách thành động mạch chủ, bệnh động mạch ngoại biên…
Câu hỏi 21: Tôi năm nay 35 tuổi, nữ giới, HA là 170/90 mmHg Như vậy có phải bị THA nặng không? Tôi phải làm gì?
Theo phân loại của Ủy ban phòng chống tăng huyết áp Hoa Kỳ (JNC-VI) và WHO – ISH cũng như khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2008 (bảng dưới đây) thì với số đo huyết áp của bạn là 170/90 mmHg, bạn bị THA giai đoạn II
Giai đoạn I 140 - 159 Và/ hoặc 90 - 99
Giai đoạn II 160 - 179 Và/ hoặc 100 - 109
Giai đoạn III >= 180 Và/hoặc >=110
Đánh giá một bệnh nhân THA không chỉ đơn thuần dựa vào trị số huyết áp mà còn cần đánh giá mức độ ảnh hưởng của THA lên các cơ quan trong cơ thể và mức độ dao động của huyết áp trong ngày THA gây ra nhiều biến chứng đối với tất cả các hệ cơ quan: tim mạch (suy tim, bệnh động mạch vành…), não (tai biến mạch não, bệnh não do THA…), thận (đái ra protein, suy thận…), mắt và các động mạch ngoại vi… Thêm vào đó, huyết áp thay đổi khác biệt quá nhiều giữa các thời điểm trong ngày làm tăng nguy cơ xảy ra tai biến Chính vì vậy bạn cần được khám
và đánh giá đầy đủ tình trạng bệnh của mình
Trang 20Khi đã được chẩn đoán là THA bạn cần được điều trị Ở mức THA giai đoạn I có thể bắt đầu với thay đổi lối sống và chế độ ăn Nếu không hiệu quả mới cần dùng thuốc Tuy nhiên, bạn ở mức THA giai đoạn II, bạn cần đến gặp bác sỹ để có lời khuyên và chỉ định điều trị hợp lý
Trường hợp của bạn bị THA ở độ tuổi 35 được coi là tăng huyết áp ở người trẻ Nếu như có đến 95% trường hợp THA ở người lớn tuổi không có nguyên nhân, chỉ khoảng 5% có nguyên nhân thì ở người trẻ, tỉ lệ tăng huyết áp có nguyên nhân cao hơn so với người lớn tuổi Các nguyên nhân
đó có thể là: viêm cầu thận mạn, suy thận mạn, hẹp động mạch thận, cường giáp, u tủy thượng thận, hẹp eo động mạch chủ, do thuốc… Trong đó một số nguyên nhân khi được loại bỏ, huyết áp của bạn có thể trở về bình thường (khỏi bệnh) Chính vì vậy bạn cần phải đến khám bác sỹ chuyên khoa tim mạch để tìm hiểu nguyên nhân gây tăng huyết áp, từ đó có những biện pháp điều trị hợp
lý nhất
Câu hỏi 22: Tôi bị THA, cần phải ăn uống và tập luyện như thế nào?
Mục đích và nguyên tắc chung trong điều trị bệnh tăng huyết áp là phải phối hợp việc thay đổi lối sống và kiểm soát được huyết áp mục tiêu ở mức < 140/90mmHg, những bệnh nhân có kết hợp đái tháo đường hoặc suy tim, suy thận phải kiểm soát huyết áp với huyết áp mục tiêu thấp hơn 130/85mmHg
Bên cạnh việc dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, vấn đề ăn uống và tập luyện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc điều trị bệnh và phòng ngừa biến chứng của bệnh Trong những trường hợp mới bị tăng huyết áp ở mức độ nhẹ chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn và tăng cường tập luyện đã cải thiện đáng kể tình trạng bệnh (còn gọi là chế độ điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc) Còn trong những trường hợp THA giai đoạn II, III, việc thay đổi chế độ ăn và lựa chọn hình thức tập luyện hợp lý là bắt buộc để phối hợp với điều trị bằng thuốc
Chế độ ăn
Bạn cần phải ăn nhạt với lượng muối không quá 6g/ngày vì ăn mặn sẽ gây giữ nước trong máu, gây tăng huyết áp Cần hạn chế ăn nhiều các thức ăn chế biến sẵn như giò, chả, đồ xông khói, các món muối (dưa muối, cà muối), tẩm ướp, vì trong quá trình chế biến thường cho nhiều muối Cần hạn chế tối đa chất béo trong khẩu phần ăn Không ăn thịt mỡ, bơ, loại bỏ hết mỡ nhìn thấy trong quá trình chế biến, không ăn nước xào, canh xương, canh cá chưa vớt hết váng mỡ, không ăn da các loại gia súc, gia cầm, hạn chế ăn dầu thực vật vì có chứa nhiều calo, uống sữa đã tách bơ
Hạn chế tối đa dùng đường, bánh kẹo ngọt, uống rượu bia, không hút thuốc lá
Trang 21Tăng cường ăn rau quả xanh, trái cây, chú ý ăn các thức ăn có chứa nhiều kali và magiê và các nguyên tố vi lượng khác như khoai tây, rong biển, chuối, dưa hấu, dứa
Nếu người bị tăng huyết áp và thừa cân thì phải thực hiện chế độ ăn giảm calo, điều chỉnh cân nặng về mức hợp lý Nếu bạn trong trường hợp này nên tìm lời khuyên cụ thể của các bác sỹ dinh dưỡng
Chế độ tập luyện thể dục thể thao
Các nhà tim mạch hàng đầu thế giới đã khẳng định rằng tập luyện, rèn luyện sức khoẻ là một trong những phương pháp chữa bệnh tăng huyết áp hữu hiệu không dùng thuốc Cơ sở sinh lý của rèn luyện sức khoẻ ở bệnh nhân tăng huyết áp là điều hòa lượng cholesterol máu, kìm chế xơ vữa động mạch, làm giãn và tăng tính đàn hồi của các mạch máu trong các cơ hoạt động và giảm sức cản máu ngoại biên - kết quả là giảm huyết áp Nhưng bạn cũng cần phải nhớ rằng, phải qua 2-3 tháng tập luyện thường xuyên huyết áp mới bắt đầu hạ xuống, bởi vậy tập luyện đòi hỏi phải kiên trì
Chương trình tập luyện ở bệnh nhân tăng huyết áp mang tính cá nhân, phụ thuộc vào mức độ tăng huyết áp và các yếu tố khác như: đi bộ nhanh và chạy sức khỏe là phương pháp hữu hiệu làm giảm huyết áp ở những bệnh nhân có biểu hiện tăng huyết áp độ I, II Tuỳ theo tình trạng sức khỏe của bạn mà có thể tập đi bộ nhanh, chạy bước nhỏ, hay tập luân phiên giữa đi bộ nhanh và chạy bước nhỏ Nguyên tắc tập luyện chung là thường xuyên, liên tục và nâng dần tốc độ hoặc thời gian tập
Bạn nên duy trì chế độ luyện tập đều đặn ít nhất là 30-45 phút/ngày và hầu hết các ngày trong tuần
Câu hỏi 23: Tôi bị THA, uống thuốc huyết áp thì đo HA về bình thường Tôi có thể dừng uống thuốc không?
Bạn có biết rằng Tăng huyết áp được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”? Bởi vì bệnh diễn biến âm thầm, ít có các biểu hiện lâm sàng, do vậy rất nhiều bệnh nhân chủ quan không theo dõi và điều trị đến khi xảy ra những biến chứng nặng nề thì đã muộn và lúc đó họ mới thấy được vai trò vô cùng quan trọng của việc điều trị đúng và đủ
Việc điều trị tăng huyết áp nhằm hai mục đích: ngăn ngừa lâu dài các biến chứng; nếu đã xảy ra các biến chứng thì điều trị tích cực chống tái phát và hạn chế tối đa tiến triển của bệnh Tóm lại, thuốc điều trị tăng huyết áp có vai trò như người gác cổng, không để cho huyết áp của bạn lên cao và gây ra tai biến
Trang 22Chính vì vậy, nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị THA là điều trị lâu dài nếu không muốn nói là “suốt đời” Tuy nhiên, nói thì dễ nhưng thực hiện mới là khó, đa số các bệnh nhân không tuân thủ điều trị theo nguyên tắc này vì chủ quan cảm thấy mình không có biểu hiện gì bất thường, vì e ngại các tác dụng phụ của thuốc khi dùng lâu dài hoặc vì cảm thấy dùng thuốc đều đặn hàng ngày là một việc phiền phức
Nhưng bạn cần hiểu rằng, trong quá trình bạn uống thuốc, con số huyết áp trở về bình thường thì đó mới chỉ đạt mục tiêu điều trị, và con số huyết áp trở về bình thường là nhờ vào việc bạn uống thuốc đều đặn hàng ngày, do vậy bạn không được ngừng điều trị, khi muốn thay đổi thuốc phải hỏi ý kiến bác sĩ của bạn
Khi bạn tự ngưng điều trị tăng huyết áp thì sẽ bị tái phát huyết áp ở mức như trước khi điều trị hay thậm chí còn cao hơn và đây là thời điểm thường xảy ra các biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ… vì bạn cần luôn ghi nhớ rằng THA lâu dài đã làm cho thành mạch máu của bạn yếu, xơ vữa và kém đàn hồi Chính vì thế, khi huyết áp tăng cao đột ngột trở lại, thành mạch của bạn dễ dàng nứt vỡ, là nguồn gốc của các biến chứng như nhồi máu cơ tim, đột quỵ…
Vì vậy, dù huyết áp có bình thường, dù bạn cảm thấy khoẻ mạnh, làm việc và sinh hoạt bình thường thì bạn vẫn phải duy trì uống thuốc đều đặn, có như vậy mới đạt được mục đích điều trị như đã nêu trên
Câu hỏi 24: Tôi nam giới 60 tuổi, bị THA, bác sỹ kê đơn Betaloc ZOK 50 mg/ngày Xin hỏi nếu uống thuốc này lâu dài có lo ngại gì không?
Betaloc ZOK là thuốc thuộc nhóm chẹn beta giao cảm Sử dụng thuốc Betaloc ZOK nói riêng hay nhóm thuốc chẹn beta lâu dài có thể ảnh hường đến chức năng của một số cơ quan trong cơ thể, thường gặp là:
- Chuyển hóa và cân nặng: bất thường xét nghiệm chức năng gan, tăng cân
- Tâm thần-thần kinh: gây trầm cảm, mất ngủ, lo âu, ngủ gà, rối loạn chức năng sinh dục Ngoài ra, cũng có thể gặp một số tác dụng phụ trong giai đoạn sử dụng sớm hoặc kéo dài như co thắt phế quản (gây ra các cơn khó thở), lạnh tay chân, hạ huyết áp thư thế (cảm giác xây xẩm mặt mày, mệt, khó chịu khi thay đổi tư thế), chậm nhịp tim (cảm thấy mệt, hụt hơi, đếm mạch thấy chậm, đặc biệt hay gặp về đêm)
Khi gặp những dấu hiệu, triệu chứng bị tác dụng phụ nêu trên bạn phải thông báo và đi khám lại bác sĩ ngay từ đó bác sĩ của bạn sẽ quyết định có nên tiếp tục dùng thuốc hay điều chỉnh liều thuốc để hạn chế tối đa các tác dụng phụ này hoặc thay đổi sang thuốc khác tùy vào mức độ cần thiết chỉ định dùng thuốc và mức độ nghiêm trọng của tác dụng phụ
Trang 23Câu hỏi 25: Tôi bị THA, có thể hoạt động tình dục được không?
Hoạt động tình dục là một phần không thể thiếu của cuộc sống Tuy nhiên khi đã bị tăng huyết áp rồi thì liệu còn có thể hoạt động tình dục không và nếu có thì quan hệ tình dục nên như thế nào là câu hỏi mà đa số bệnh nhân đều thắc mắc nhưng không phải ai cũng dám hỏi và tâm sự cùng bác sỹ
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng hoạt động tình dục là một gắng sức vừa phải, có thể coi như một động tác thể dục nhẹ nhàng chính vì vậy với những bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn
I và II vẫn có thể giao hợp bình thường Thậm chí, hoạt động tình dục lại có lợi với những bệnh nhân này vì đây như là một cách luyện tập nhẹ nhàng
Những bệnh nhân có trị số huyết áp thường xuyên quá cao cần phải lưu ý điều trị cho ổn định rồi mới quan hệ để tránh tai biến
Còn với những bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn III, có suy tim hoặc đau thắt ngực thì cần hạn chế và hỏi ý kiến bác sĩ
Bệnh nhân tăng huyết áp cần lưu ý là trong sinh hoạt tình dục, bạn có thể bị rối loạn cương dương do những thay đổi ở mạch máu hoặc tác dụng phụ của thuốc hạ áp Một số thuốc hạ áp có thể gây giảm chức năng tình dục như metoprolol, prazosin v.v Tuy nhiên bạn không nên vội vàng dừng thuốc Đừng ngại ngùng hỏi bác sĩ về chuyện này và luôn phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của việc dùng thuốc Thông thường, việc điều chỉnh về loại thuốc hay liều dùng sẽ giúp giải quyết vấn đề này
Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói là khó có thể vượt qua những trở ngại mà bệnh tật gây
ra đối với hoạt động tình dục nếu bệnh nhân không có sự cảm thông, khích lệ, giúp đỡ của người
vợ hoặc người chồng Chính vì vậy hãy cùng nhau trao đổi về nhu cầu tình dục và các mối lo ngại
sẽ đương đầu tốt hơn với bệnh tật Sự gần gũi và thẳng thắn sẽ giúp cả hai sớm bắt đầu lại đời sống tình dục và có cảm giác dễ chịu hơn Hai người cũng có thể trò chuyện với nhân viên y tế về những
lo lắng chung này
Câu hỏi 26: Tôi 50 tuổi, nam giới, vừa qua được khám sức khỏe định kỳ, bác sỹ có nói là mỡ trong
máu cao, nhưng tôi lại thấy có một thành phần HDL-C thấp hơn bình thường, vậy có đúng không?
Xin cho biết các thành phần trong mỡ máu và ảnh hưởng đến các bệnh
Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu Chúng thường được gọi là các thành phần của mỡ máu hay chính xác hơn là lipid máu
Trang 24Tất cả chúng ta đều có cholesterol và triglycerid trong máu Các cholesterol thường có nguồn gốc từ thức ăn của chúng ta, tuy nhiên cơ thể có thể tạo ra tất cả các cholesterol cần thiết Triglycerid máu có nguồn gốc từ thức ăn do chúng ta ăn vào Sau khi ăn chất béo (mỡ), triglycerid
và cholesterol được hấp thu vào tế bào ruột dưới dạng acid béo và cholesterol tự do (chuyển hóa lipid ngoại sinh) Trong cơ thể các cholesterol cũng được tổng hợp tại các tế bào gan (chuyển hóa lipid nội sinh)
Vì không tan trong nước nên để tuần hoàn được trong huyết tương, các lipid phải được kết hợp với các protein dưới dạng phức hợp phân tử lớn gọi là lipoprotein
Có 6 loại lipoprotein khác nhau về tỷ trọng, nhưng có 2 loại được quan tâm nhất là Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C: Low Density Lipoprotein Cholesterol) và Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C: High Density Lipoprotein Cholesterol) Trong đó, Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) là một loại cholesterol có hại vì LDL có vai trò chuyên chở cholesterol từ gan đi khắp cơ thể, nên nếu các tế bào của cơ thể không thu nhận, cholesterol thừa lưu thông trong máu sẽ tích tụ và tạo thành mảng xơ vữa trong lòng động mạch Còn Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) là một loại cholesterol có ích vì HDL có nhiệm vụ thu dọn, chuyên chở cholesterol dư thừa không cần thiết trở về gan để phần lớn biến đổi thành acid mật và bài tiết theo mật ra khỏi cơ thể Như vậy HDL làm giảm nguy cơ gây xơ vữa, do đó còn được gọi là “bạn tốt bảo vệ tim”
Ngoài ra còn có Lipoprotein có tỷ trọng rất thấp (VLDL: very low density lipoprotein) chủ yếu do gan, một phần nhỏ do ruột tổng hợp, mang nhiều triglycerid nội sinh
“Mỡ trong máu cao” là cách nói thường ngày của dân ta để ám chỉ tình trạng các chất béo có trong máu như cholesterol, triglycerid vượt quá giới hạn bình thường Tuy nhiên nếu đúng phải gọi là rối loạn lipid máu vì có một thành phần chất béo là lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) không tăng mà lại giảm là có hại, đúng như câu hỏi bạn đã nêu ra
Câu hỏi 27: Tôi được chẩn đoán là rối loạn lipid máu, xin cho biết chế độ ăn uống và tập luyện như thế nào để phòng tránh?
Các biện pháp điều trị không dùng thuốc/thay đổi lối sống là biện pháp cơ bản trong điều trị rối loạn lipid máu Thay đổi lối sống một cách tích cực có thể phòng ngừa sự tiến triển hoặc thậm chí có thể làm thoái triển bệnh
Chế độ ăn:
Thay đổi chế độ ăn là một bước có tính chất quyết định trong điều trị rối loạn lipid máu Mục tiêu chung là ăn giảm acid béo, đơn giản là ăn giảm chất béo bão hòa chủ yếu có nguồn gốc
Trang 25từ động vật, ăn nhiều các chất béo có nguồn gốc từ thực vật Ngoại trừ dầu dừa, dầu cọ và thịt các loại giáp xác như tôm, cua có chứa nhiều chất béo bão hòa
Chế độ ăn kiêng kiểu miền Địa trung hải "A Mediterranean-type diet" được cho là chế độ
ăn có tác dụng bảo vệ tối ưu, đặc biệt sau khi bạn bị nhồi máu cơ tim Bạn nên ăn nhiều chất xơ, nhiều rau tươi, nhiều cá, ít thịt và muối, "không ngày nào là không ăn hoa quả" Không ăn bơ và cream, ăn dầu ôliu Dầu cá có chứa acid béo ômêga-3 làm giảm tỷ lệ bị đột tử, làm tăng tuổi thọ
và có tác dụng bảo vệ đặc biệt giai đoạn sau nhồi máu cơ tim
Với các bệnh nhân chỉ tăng cholesterol máu: kiêng ăn mỡ lợn, mỡ gà, dầu dừa, dầu cọ, các phủ tạng động vật như gan, lòng, óc, bầu dục các thịt tạp vụn như cổ, cánh, da Hạn chế ăn trứng gà, vịt
Với các bệnh nhân có tăng cả triglycerid kèm theo thì phải kiêng thêm đường, mứt, mật, bánh kẹo, rượu và các đồ uống có chất cồn Hạn chế các chất bột như bánh mì, cơm gạo Các thức ăn nên dùng là dầu đậu nành, các lọai rau quả tươi, cá, thịt nạc
Bệnh nhân có bệnh tăng huyết áp kèm theo, đặc biệt đối với người lớn tuổi cần một chế độ
ăn giảm muối
Uống rượu vừa phải:
Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch như bệnh động mạch vành, đột quỵ do làm tăng lượng triglyceride trong máu và làm tăng huyết áp Không nên uống quá 20-30g ethanol/ngày đối với nam giới và 10-20g ethanol/ngày với nữ giới
Uống rượu với lượng vừa phải (đặc biệt là rượu vang đỏ) có tác dụng bảo vệ tim do làm tăng lượng HDL-C và tác dụng chống oxy hóa
Giảm cân và tập thể dục:
Giảm cân sẽ giảm được sự rối loạn lipid máu trên bệnh nhân thừa cân và có lợi đối với các bệnh đi kèm như tiểu đường, tăng huyết áp Giảm cân bằng cách ăn kiêng, tăng cường tập thể dục, giảm lượng rượu hàng ngày ở những người nghiện rượu thừa cân và giảm ăn muối
Tập thể dục là rất quan trọng, nó có thể làm giảm được LDL-C và tăng HDL-C Tập thể dục còn làm giảm cân nặng, giảm huyết áp, và giảm nguy cơ bệnh mạch vành
Bạn nên thường xuyên tập thể dục ở mức vừa phải như đi bộ, chạy bộ, hoặc bơi lội trong 30-45 phút, 3-4 lần mỗi tuần Mức độ tập luyện phải tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của bạn
Trang 26Câu hỏi 28: Tôi đang được dùng thuốc hạ lipid máu tên là Crestor 10 mg/ngày Xin cho biết lợi ích và những tác dụng phụ? Có những loại thuốc nào khác điều trị được bệnh này không?
1 Crestor là sản phẩm của công ty dược phẩm AstraZeneca có thành phần là rosuvastatin Đây là thuốc thuộc nhóm statin, có những lợi ích sau:
Điều trị rối loạn lipid máu:
Tăng cholesterol máu nguyên phát hoặc rối loạn lipid máu hỗn hợp: là một liệu pháp hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng khi bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với chế độ ăn kiêng và các liệu pháp không dùng thuốc khác (như tập thể dục, giảm cân)
Tăng cholesterol máu gia đình kiểu đồng hợp tử: dùng hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng và các biện pháp điều trị giảm lipid khác hoặc khi các liệu pháp này không thích hợp
Phòng ngừa tiên phát bệnh lý tim mạch
Crestor đã chứng minh làm giảm nguy cơ bị tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim ở những bệnh nhân không bị bệnh mạch vành hoặc rối loạn lipid máu nhưng lại đi kèm các yếu tố sau: 1)tuổi trên 50 với nam và trên 60 với nữ, 2) hsCRP ≥ 2 mg/L và 3) có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ là tăng huyết áp, HDL-C thấp, hút thuốc lá, tiền sử gia đình có người mắc bệnh mạch vành
Phòng ngừa thứ phát bệnh tim mạch
Crestor được chứng minh làm giảm quá trình vữa xơ động mạch
2 Tuy nhiên cũng giống như bất kỳ loại thuốc nào khác, Crestor cũng có một số tác dụng phụ sau:
Các phản ứng ngoại ý được ghi nhận khi dùng Rosuvastatin (Crestor) thường nhẹ và thoáng qua Trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng, có dưới 4% bệnh nhân điều trị bằng Rosuvastatin rút khỏi nghiên cứu do biến cố ngoại ý Hiếm gặp các phản ứng quá mẫn kể cả phù mạch
Rối loạn hệ thần kinh: Thường gặp: nhức đầu, chóng mặt
Rối loạn hệ tiêu hoá: Thường gặp: táo bón, buồn nôn, đau bụng
Rối loạn da và mô dưới da: Ít gặp: ngứa, phát ban và mề đay
Rối loạn hệ cơ xương, mô liên kết và xương: Thường gặp: đau cơ Hiếm gặp: bệnh cơ, tiêu
cơ vân
Các rối loạn tổng quát: Thường gặp: suy nhược
3 Các thuốc điều trị rối loạn lipid máu bao gồm 5 nhóm chủ yếu:
Nhóm thuốc statin: Thuốc ngăn chặn tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế cạnh
tranh hoạt động của men HMG-CoA reductase, làm giảm tổng hợp cholesterol ở toàn bộ cơ thể
Trang 27Thuốc gắn acid mật (resin): Thuốc làm tăng gắn cholesterol với acid mật, do vậy thuốc làm
tăng thải cholesterol qua đường mật
Thuốc ức chế ly giải lipid (Nicotinic acid): Thuốc làm giảm sự di chuyển acid béo tự do từ
các tổ chức mỡ, do vậy gan sẽ có ít nguyên liệu để tổng hợp ra cholesterol
Nhóm thuốc fibrat: Thuốc làm tăng ly giải lipid ở ngoại biên và giảm sản xuất triglycerid
ở gan
Thuốc ức chế hấp thu cholesterol (Ezetimibe): Thuốc có tác dụng ức chế hấp thu
cholesterol một cách có chọn lọc ở ruột non
Câu hỏi 29: Tôi bị bệnh đái tháo đường và động mạch vành đã được đặt stent 2 năm, hiện nay
đang được điều trị bằng thuốc hạ lipid máu, nhưng hiện nay xét nghiệm thấy LDL-C đã là 2,3
mmol/l, như vậy đã ổn chưa, tôi có thể dừng thuốc được không?
Điều trị rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phòng ngừa nguyên phát và thứ phát những biến chứng tim mạch nhất là bệnh động mạch vành Trong số các thuốc điều trị rối loạn lipid máu thì thuốc nhóm statin được chứng minh là có lợi ích rõ rệt hơn cả Hầu hết các khuyến cáo đều nêu rõ với bệnh nhân bị đái tháo đường, mục tiêu LDL-C cần hạ được xuống dưới 2,6 mmol/l khi chưa có biểu hiện bệnh động mạch vành và dưới 1,8 mmol/l ở bệnh nhân đã rõ bệnh động mạch vành Vì vậy với mức LDL-C là 2,6 mmol/l thì bạn vẫn phải tiếp tục dùng thuốc hạ lipid máu ít nhất cho tới khi LDL-C đạt được mục tiêu nêu trên
Câu hỏi 30: Tôi được chẩn đoán bị bệnh đái tháo đường Nguy cơ tôi bị bệnh tim mạch có cao không? Tại sao?
Có tới 80% số bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) chết do các biến cố tim mạch và có tới 70%
số bệnh nhân ĐTĐ phải nhập viện cũng vì các biến cố tim mạch Riêng ĐTĐ là một trong những nguy cơ gây tử vong do tim mạch lớn gấp 3 lần so với những người không bị ĐTĐ Trong số các biến cố tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ, bệnh động mạch vành (ĐMV) là biến chứng hàng đầu và quan trọng
Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường xuất hiện sau 40 tuổi (gọi
là type II) có tỉ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường Ngay cả khi lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn Những người đái tháo đường type II thường có nồng độ insulin trong máu cao Insulin là một loại hormon
do tuỵ sản xuất, có vai trò chủ yếu trong quá trình điều hoà lượng đường trong máu bằng cách tham gia quá trình vận chuyển đường vào các tế bào của cơ thể Vì một lí do nào đó, insulin bị
Trang 28giảm tác dụng nên cần có một lượng lớn hơn để thực hiện vai trò sinh lý Người ta gọi đây là tình trạng kháng insulin Insulin tăng cao trong máu có thể gây tăng huyết áp và tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch Hậu quả là thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó
Cơ chế tổn thương ĐMV ở bệnh nhân ĐTĐ được coi là do đa yếu tố tương tác lẫn nhau Đối với những bệnh nhân ĐTĐ, thường có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển kết hợp với nhau trong đó các nguy cơ thường gặp là: tăng đường huyết, tăng insulin huyết và hội chứng chuyển hóa, tăng huyết áp, bệnh thận Bản thân ĐTĐ là một yếu tố dự báo tiên lượng tồi nhất ở những bệnh nhân bị bệnh ĐMV cấp hay nhồi máu cơ tim Rối loạn thần kinh tự động cũng là một nguyên nhân làm tăng các biến cố rối loạn nhịp đe dọa tính mạng của bệnh nhân Rối loạn đông máu và ngưng kết tiểu cầu làm tăng nguy cơ huyết khối và các biến cố tắc mạch, tái tắc mạch sau điều trị tái thông động mạch vành Cuối cùng, suy thận các giai đoạn đều là một nguy cơ độc lập dự đoán các biến cố tim mạch
Câu hỏi 31: Tôi đang bị bệnh tim, có tập thể dục được không? Tập như thế nào?
Tập thể dục không chỉ khắc phục được lối sống tĩnh tại, ít hoạt động của cuộc sống bộn bề ngày nay mà hơn thế nữa còn giúp phòng và chống được các biến chứng nguy hiểm của bệnh tim mạch như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành…
Khi tập thể dục, rõ ràng là chúng ta phải gắng sức dù ít hoặc nhiều, vì thế không phải là không có nguy hiểm, thậm chí một số biến cố tim mạch có thể xuất hiện như cơn đau thắt ngực hoặc rối loạn nặng nhịp tim Tuy vậy, nguy cơ đó cực kỳ thấp, chỉ xấp xỉ gần một lần xuất hiện nếu tập 400.000-800.000 giờ (hay tương đương với việc chỉ có một người bị bệnh trong số 400 –
800 nghìn người tập luyện, nếu tính trung bình một người tập một giờ)
Những tỷ lệ quá thấp như vậy cho thấy độ an toàn cao của việc tập luyện ngay cả khi chúng
ta có bệnh tim mạch Một điểm đáng lưu ý khác là nguy cơ biến chứng bệnh tim mạch còn thấp hơn nữa ở những người thường xuyên luyện tập Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu tập thể dục tương đối đều đặn (khoảng 5 lần một tuần) thì nguy cơ xảy ra biến chứng tim mạch nặng trong lúc tập
đã giảm tới 50 lần so với những người lười vận động Hơn thế nữa, nếu tính chung cho tất cả mọi người, thì tới 90% các biến cố tim mạch xảy ra khi nghỉ ngơi, chứ không phải lúc đang vận động
Như vậy, tập thể dục đều có thể coi là an toàn Tuy nhiên, chúng ta cũng nên để ý tới những
biểu hiện bất thường khác với mọi ngày, nảy sinh trong hoặc sau khi luyện tập như cảm giác đau ngực (nặng tức hay ép trong ngực, lan lên cằm, cổ, vai hoặc lan xuống cánh tay), thở dốc khác thường, hoa mắt chóng mặt, choáng váng hoặc cảm giác hẫng, hồi hộp lạ thường Nếu phát hiện
Trang 29thấy có, chúng ta nên tới các bác sỹ chuyên khoa tim mạch để được khám và tư vấn về chế độ luyện tập phù hợp
Vậy phải bắt đầu việc tập thể dục như thế nào ?
Nếu đã sẵn có bệnh tim mạch hoặc sẵn có nguy cơ cao xuất hiện bệnh tim mạch (tuổi trên
45 kết hợp với có ít nhất hai trong số các yếu tố sau: hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, lười vận động, béo phì, tiền sử có người thân trong gia đình mắc bệnh tim mạch trước tuổi 55) thì chúng ta cần tham khảo ý kiến của các bác sỹ chuyên khoa tim mạch trước khi lựa chọn một hình thức tập luyện thể dục thể thao phù hợp cho mình Tất cả mọi tài liệu đều cho thấy các lợi ích rõ ràng từ việc tập luyện mức độ trung bình mỗi ngày nửa giờ Nếu chúng ta không thể sắp xếp thời gian để có thể giành riêng ra mỗi ngày nửa giờ đồng hồ cho việc luyện tập thì có thể bắt đầu bằng những hình thức hết sức đơn giản chẳng hạn chúng ta tự leo cầu thang bộ ở cơ quan hay ở khu tập thể thay vì đi thang máy hoặc cố gắng đi bộ để đi chợ mua sắm hay tới nơi làm việc (nếu gần) thay vì đi xe máy Cố gắng thu xếp những khoảng thời gian ngắn cỡ chừng 10 phút
để vận động chân tay trong lịch làm việc hàng ngày của mình Vấn đề chính là ở chỗ chúng ta phải thay đổi và hoạt động tay chân nhiều hơn
Khuyến cáo của Hội Tim Mạch Học Việt Nam nêu rõ: Mỗi người lớn cần/nên tham gia chơi thể thao, tập thể dục hoặc vận động chân tay ở mức độ vừa phải ít nhất 30 phút mỗi ngày đối với tất cả các ngày trong tuần Hoạt động thể lực ở mức độ vừa tương đương với việc đi bộ với tốc độ trung bình (6-7 km/giờ) hoặc các công việc khác nhau như lao động ngoài đồng, làm việc nội trợ,
đi xe đạp, bơi…
Câu hỏi 32: Tôi bị bệnh tim đang điều trị, có thể hoạt động tình dục được không?
Câu trả lời là bạn vẫn có thể tiếp tục sinh hoạt tình dục, nhưng cần có sự hiểu biết và tôn trọng những lời khuyên của thầy thuốc
Có nhiều người coi hoạt động tình dục chỉ là những hành vi giao hợp đơn thuần Nhưng tình dục còn có ý nghĩa nhiều hơn thế Bạn có thể thể hiện ham muốn tình dục của mình theo nhiều cách
Bạn có thể ôm ấp hay vuốt ve bạn tình mà không nhằm mục đích đạt cực khoái Các bạn vẫn
có cảm giác được yêu thương và che chở mà không phải gắng sức thể lực quá nhiều Chẳng cần quá nhiều năng lượng cho những cử chỉ ôm ấp vuốt ve, và việc ấy hoàn toàn có thể diễn ra ngay khi bạn xuất viện Bạn có thể quay lại chuyện sinh hoạt tình dục một cách từ từ Khi tự tin hơn, bạn sẽ thấy thư giãn hơn với bản thân và với bạn tình của mình
Trang 30Hoạt động giao hợp đòi hỏi nhiều năng lượng hơn đôi chút Bác sĩ có thể yêu cầu bạn đợi đến khi sức khoẻ khá lên Đa số bắt đầu lại chuyện giao hợp khoảng 4 đến 6 tuần sau cơn đau ngực Những bệnh nhân không có biến chứng có thể sớm hơn, sau 7 đến 10 ngày Đối với phẫu thuật tim mạch, khoảng thời gian này thường là 2 đến 3 tuần Theo ước tính, nếu bạn có thể đi bộ lên 3 tầng thang gác một cách bình thường, bạn có thể trở lại hoạt động tình dục một cách từ từ và bình thường
Nếu bạn không chắc chắn về tình trạng sức khoẻ của mình, bác sĩ có thể cho bạn làm nghiệm pháp gắng sức để đánh giá khả năng gắng sức của bạn Dựa trên nhịp tim và huyết áp, thày thuốc
sẽ quyết định bạn đã có thể sinh hoạt tình dục hay chưa
Nếu các triệu chứng xuất hiện khi bạn quan hệ tình dục, hãy ngừng lại và nằm nghỉ Sau đó đến khám bác sĩ
Câu hỏi 33: Em gái tôi 25 tuổi, được chẩn đoán bị bệnh tim bẩm sinh chưa điều trị gì Em gái tôi muốn lấy chồng và có con được không?
Được làm vợ và làm mẹ và có một gia đình hạnh phúc là niềm khát khao của bất kỳ người phụ nữ nào Tuy nhiên khi không may bị bệnh tim bẩm sinh, liệu người phụ nữ có thể thực hiện được thiên chức làm mẹ được không?
Câu trả lời là “Có thể” Để có câu trả lời chính xác phải dựa vào loại bệnh tim bẩm sinh mà bạn mắc phải Nếu tổn thương đơn giản, bệnh nhân không có triệu chứng biểu hiện gì thì hoàn toàn CÓ thể mang thai Còn nếu tổn thương nặng, phức tạp với những biểu hiện bệnh nặng nề thì câu trả lời là KHÔNG, ví dụ như những bệnh nhân bị tăng áp động mạch phổi, hội chứng Eisenmenger’s, tim bẩm sinh có tím, …
Khi mang thai, cơ thể người mẹ thay đổi rất nhiều cụ thể là: cung lượng tim tăng khá sớm và tăng cực đại là 50% trong quý 2 của thai kỳ, nhịp tim tăng 10-20% chính vì vậy làm cho quả tim của bạn phải làm việc nhiều hơn Những nguy cơ có thể gặp phải khi mang thai đối với những bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh là: rối loạn nhịp tim, huyết khối, tai biến mạch não, suy tim, phù phổi cấp, mất máu sau đẻ, các thuốc đang dùng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, đứa trẻ cũng có thể bị suy dinh dưỡng, bị tim bẩm sinh do di truyền hoặc do tình trạng thiếu oxy trong máu của mẹ hoặc tình trạng giảm lượng máu tới thai do tình trạng suy tim của mẹ
Chính vì vậy trước khi quyết định mang thai, bạn nhất thiết phải đi khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch để bác sĩ cân nhắc và đưa ra quyết định bạn có thể mang thai được không và những nguy
cơ bạn có thể gặp phải khi mang thai là gì, những nguy cơ đối với tình trạng thai là gì Từ đó quyết
Trang 31định có thể mang thai được hay không sẽ được đưa ra dựa trên hiểu biết đầy đủ cũng như trao đổi cặn kẽ giữa bác sỹ và bạn
Cuối cùng chúc bạn “mẹ tròn, con vuông”
Câu hỏi 34: Tôi nữ giới 27 tuổi hay bị đau nhói ngực, có phải bị đau tim không? có phải là bị bệnh động mạch vành không?
Đau ngực là một trong những lý do khiến bệnh nhân nữ trẻ tuổi phải đến khám bác sĩ tim mạch nhiều nhất Và một quan điểm phổ biến của đại đa số người dân cho rằng đau ngực là do bệnh tim mạch, là do nhồi máu cơ tim Chính điều này làm cho bệnh nhân rất lo lắng
Tuy nhiên, chứng cứ khoa học đã khẳng định rõ ràng rằng bệnh mạch vành hoặc nhồi máu
cơ tim rất hiếm khi gặp ở bệnh nhân nữ trẻ tuổi Do Estrogen là hormon sinh dục nữ có tác dụng chống lại sự hình thành và phát triển của mảng xơ vữa trong lòng mạch vành là nguyên nhân gây
ra nhồi máu cơ tim Khi mãn kinh, lượng hormon này giảm xuống và lúc này nguy cơ tim mạch
và bệnh mạch vành tăng lên đáng kể
Các nguyên nhân gây ra đau ngực hay gặp ở lứa tuổi của bạn có thể là: bệnh van tim do thấp, hẹp van hai lá, sa van hai lá, viêm màng ngoài tim Nhồi máu phổi hay gặp ở những bệnh nhân dùng thuốc tránh thai Các nguyên nhân không phải tim mạch như viêm phổi, viêm màng phổi, trào ngược dạ dày thực quản, viêm sụn sườn, đau dây thần kinh liên sườn, bệnh zona Một nguyên nhân nữa cũng hay gặp trong xã hội hiện đại là do lo lắng, căng thẳng, stress
Như vậy, bạn hoàn toàn có thể yên tâm rằng nguy cơ bị bệnh mạch vành là rất thấp Tuy nhiên như đã nói ở trên có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau ngực nên bạn cần phải đi khám để được chẩn đoán và điều trị đúng bệnh
Câu hỏi 35: Tôi nghe nói bị bệnh động mạch vành rất nguy hiểm? có các loại bệnh động mạch vành như thế nào? Làm sao biết tôi có bị bệnh động mạch vành hay không?
Thật vậy, bệnh động mạch vành rất nguy hiểm Theo ước tính hiện ở Mỹ có khoảng gần 7 triệu người bị bệnh động mạch vành và hàng năm có thêm khoảng 350.000 người bị đau thắt ngực mới Tỷ lệ này ở các nước phát triển khác cũng rất đáng lo ngại Tại châu Âu, có tới 600.000 bệnh nhân từ vong mỗi năm do bệnh động mạch vành và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam, bệnh động mạch vành đang có
xu hướng gia tăng nhanh chóng và gây nhiều thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch
Trang 32Bệnh của động mạch vành thường bao gồm 3 dạng bệnh lý như sau:
- Đau thắt ngực ổn định là tình trạng không có những diễn biến nặng lên bất ổn của cơn đau
thắt ngực trong vòng vài tuần gần đây Với đau thắt ngực ổn định thì tình trạng lâm sàng thường
ổn định, cơn đau thắt ngực ngắn, xảy ra khi gắng sức, đỡ khi nghỉ và đáp ứng tốt với các thuốc nhóm Nitrates Đau thắt ngực ổn định thường liên quan đến sự ổn định của mảng xơ vữa
- Đau thắt ngực không ổn định là tình trạng bất ổn về lâm sàng, cơn đau thắt ngực xuất hiện
nhiều và dài hơn, xảy ra cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi và cơn đau ít đáp ứng với các Nitrates Cơn đau này thường liên quan đến tình trạng bất ổn của mảng xơ vữa động mạch vành Đau thắt ngực không ổn định có thể dẫn tới Nhồi máu cơ tim (NMCT) hoặc ổn định lại để thành đau thắt ngực
ổn định
- Nhồi máu cơ tim là tình trạng bị tắc hoàn toàn động mạch vành (ĐMV) một cách nhanh
chóng gây hoại tử vùng cơ tim phía sau phần nuôi dưỡng của đoạn ĐMV bị tắc Về cơ chế gây NMCT cũng giống phần nào so với cơn đau thắt ngực không ổn định là do sự nứt vỡ của mảng xơ vữa và gây huyết khối bịt tắc hoàn toàn ĐMV
Vậy chẩn đoán bệnh như thế nào?
Nếu bạn có những triệu chứng của bệnh bạn nên đi khám bác sĩ Bác sĩ có thể yêu cầu bạn làm các xét nghiệm cần thiết như:
- Điện tâm đồ (ĐTĐ) thường quy là một thăm dò đơn giản giúp chẩn đoán bệnh
- Xét nghiệm máu: các men tim có trong máu có thể bình thường hoặc tăng trong nhồi máu
cơ tim
- Siêu âm tim: thường giúp ích cho chẩn đoán rối loạn vận động vùng (nếu có), đánh giá chức năng thất trái (đặc biệt sau nhồi máu cơ tim) và các bệnh lý tổn thương van tim kèm theo hoặc giúp cho các bác sĩ chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác
- Nghiệm pháp gắng sức là phương pháp ghi lại những thay đổi của trái tim khi bạn phải hoạt động gắng sức Như chúng ta đã biết, khi nghỉ thì dù bạn có bị hẹp ĐMV nhưng vẫn đủ khả năng để nuôi dưỡng cho phần cơ tim nên có thể sẽ không phát hiện đượng những biến đổi trên các biện pháp thăm dò thông thường (điện tim đồ, phóng xạ đồ, siêu âm tim ) Khi phải gằng sức đỏi hỏi nhu cầu cao hơn thì nơi ĐMV bị hẹp sẽ không đủ khả năng cung cấp ô xy cho cơ tim phía sau
và khi đó mới lộ ra những thay đổi của việc thiếu máu cơ tim trên các thăm dò Điện tim đồ gắng sức là một biện pháp khá hữu hiệu và kinh điển Bạn sẽ được yêu cầu đạp xe với tốc độ tăng dần hoặc chạy trên thảm chạy có chương trình với tốc độ tăng dần, đồng thời bạn được gắn điện tim
để ghi theo các diễn biến Qua đó bác sỹ có thể biết được bạn có thể bị bệnh ĐMV hay không và mức độ như thế nào Kết quả này có thể hướng tới các thăm dò chính xác hơn
Trang 33- Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thông tim và chụp mạch vành Đây là biện pháp tốt nhất và hiện đại nhất cho phép chẩn đoán bệnh lý động mạch vành bởi vì nó cho phép người bác sĩ có thể nhìn thấy chính xác động mạch vành nào bị hẹp hay tắc dưới màn huỳnh quang tăng sáng
Câu hỏi 36: Có khi nào bị bệnh động mạch vành mà không đau ngực không?
Thực tế có một số trường hợp bị bệnh động mạch vành nhất là nhồi máu cơ tim mà không
có cảm giác đau ngực rõ rệt (còn gọi là nhồi máu cơ tim thầm lặng) Hiện tượng này hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, bệnh nhân bị đái tháo đường, tăng huyết áp, Do vậy, cần cảnh giác khi bạn là người có nhiều yếu tố nguy cơ mà có những triệu chứng mơ hồ về đau ngực và thấy khó thở hoặc khó chịu ở vùng ngực thì nên đi đến bác sỹ khám ngay
Như vậy, bạn càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc đánh giá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bản thân Tùy vào mức độ các yếu tố nguy cơ của bạn mà bạn cần được khám theo dõi thường xuyên định kỳ, phát hiện sớm các biến chứng nhất là khi biểu hiện rất mơ hồ, không
rõ ràng, từ đó có biện pháp điều trị kịp thời
Câu hỏi 37: Nữ giới có thể bị bệnh động mạch vành không?
“Bệnh động mạch vành là bệnh của đàn ông” – đây là một quan niệm phổ biến của nhân dân
ta nhưng sự thực là nữ giới cũng hoàn toàn có thể mắc bệnh động mạch vành Tại nước có nền Y học phát triển hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu ở nữ giới lại chính là bệnh động mạch vành
Sau khi mãn kinh, nguy cơ bị bệnh động mạch vành ở nữ giới sẽ gia tăng Ở độ tuổi 50, người phụ nữ sẽ đối mặt với sự gia tăng 46% nguy cơ bị bệnh mạch vành và 31% nguy cơ có thể tử vong
do bệnh này Còn ở tuổi 75, nguy cơ bị bệnh ở nữ lúc này là ngang bằng với nam giới
Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch gia tăng sau độ tuổi mãn kinh bao gồm: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, béo phì, lối sống tĩnh tại, ít vận động,…
Đặc điểm cần lưu ý là triệu chứng bệnh mạch vành cấp ở phụ nữ thường mơ hồ làm rất khó khăn trong chẩn đoán, gần 40% là không có triệu chứng đau ngực, và thường có thể có những biểu hiện của những cơn đau khác như đau ở cổ, vai, vùng dạ dày, nhịp thở gấp, nôn mửa, đổ mồ hôi, hoa mắt chóng mặt hoặc những sự mệt mỏi khác dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác Mặt khác 2/3 bệnh mạch vành ở phụ nữ thường chết đột ngột không có dấu hiệu báo trước Ngoài ra một đặc tính có tính cách truyền thống của phụ nữ Á đông là luôn có tính chịu đựng, chịu thương, chịu khó, luôn hết mình lo cho chồng, cho con, cho gia đình hơn là cho chính bản thân mình nên dẫn đến khi phát hiện bệnh thì thường đã nặng Đa số phụ nữ khi phát hiện các bệnh lý nguy cơ tim mạch
Trang 34không điều trị sớm, thậm chí ngay cả khi lên cơn đau, vẫn có khuynh hướng lưỡng lự do dự chần chừ không đi cấp cứu sớm
Chính vì vậy Đại hội Tim Mạch toàn quốc năm 2010 đã tập trung cảnh báo về nguy cơ bệnh tim mạch ở phụ nữ mà đã được thế giới đặc biệt chú ý trong nhiều năm qua
Câu hỏi 38: Nguyên nhân gây bệnh động mạch vành là gì?
Quả tim như một khối cơ hoạt động như như một cái bơm tống máu đi khắp cơ thể Để đảm bảo chức năng này, quả tim phải nhận đủ oxygen Oxy được cung cấp tới cơ tim qua hệ thống động mạch vành, hệ thống này bao phủ xung quanh quả tim Khi bị bệnh lí động mạch vành, dòng máu tới động mạch giảm sút Khi đó cơ tim không nhận đủ oxy, và triệu chứng đau ngực xuất hiện (còn được gọi cơn đau thắt ngực)
Bệnh lí này do sự lắng đọng các chất béo như cholesterol, nó nằm dọc thành mạch được gọi mảng xơ vữa Chắc các bạn đã từng nghe tới các khái niệm như “mảng”, “tổn thương”, “tắc nghẽn” hay “hẹp” Điều này có nghĩa rằng có sự hẹp của thành mạch gây ra do sự dầy lên do lắng đọng các chất béo, thậm chí có thể gây tắc mạch Do động mạch vành cung cấp máu giàu oxy cho cơ tim nên khi sự tắc nghẽn không được điều trị có thể rất nguy hiểm, dẫn tới nhồi máu cơ tim hay thậm chí tử vong Có rất nhiều các nguyên nhân có hại trong cuộc sống có thể gây hẹp hay tắc một hay nhiều các động mạch vành của bạn
Tại sao lại có thể bị bệnh động mạch vành (bị xơ vữa động mạch vành)?
Trong quá trình sống của chúng ta có rất nhiều yếu tố nguy cơ đã được tìm ra là nguyên nhân làm tăng khả năng bị xơ vữa gây hẹp ĐMV Hiện nay, các nghiên cứu đã cho thấy rõ có 2 loại yếu
tố nguy cơ của bệnh ĐMV như sau:
- Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được:
o Tuổi cao (nam trên 50 và nữ trên 55 tuổi)
o Giới nam nguy cơ bị nhiều hơn nữ khoảng 2 – 3 lần
Trang 35o Rối loạn mỡ máu
o Stress
Vấn đề chính là chúng ta phải biết rõ chúng ta có thể mang những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được nào và cần phải tránh hoặc từ bỏ hoặc kịp thời khống chế những nguy cơ có thể thay đổi được
Trong mọi truờng hợp, “phòng bệnh hơn chữa bệnh” luôn luôn là nguyên tắc bất di bất dịch trong cuộc sống Bạn hãy cố gắng tạo cho mình được một cuộc sống với ít nhất những yếu tố nguy
cơ nếu có thể
Câu hỏi 39: Làm thế nào ngăn ngừa bệnh động mạch vành?
Để ngăn ngừa bệnh động mạch vành trước tiên, cùng với sự giúp đỡ của thầy thuốc, bạn phải đánh giá là mình thuộc nhóm nguy cơ thấp hay cao
Nhiều câu hỏi bạn có thể tự trả lời được Bạn có hút thuốc? Bạn có thừa cân? Bạn có uống quá nhiều rượu? Có ai trong gia đình bạn mắc bệnh tim mạch hay tăng huyết áp? Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ về mức độ nguy cơ của bản thân, bạn cần có sự trợ giúp của thầy thuốc Thầy thuốc sẽ đo huyết áp, sẽ gửi máu của bạn đi làm xét nghiệm về cholesterol, triglycerid, đường trong máu đồng thời khai thác tiền sử và tiến hành quá trình thăm khám Thầy thuốc có thể ghi điện tâm đồ hoặc tiến hành một vài xét nghiệm chuyên biệt nào đó để xác định xem quả tim bạn
có bị phì đại hay bất thường không Bằng việc kết hợp những thông tin thu được về các yếu tố, thầy thuốc sẽ giúp bạn xác định được tổng nguy cơ
Khi các thông số về nguy cơ đã được thu thập và lượng giá, một chương trình điều trị hướng tới việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có thể được bắt đầu
Nếu bạn là người không mang yếu tố nguy cơ và không mắc bệnh tim mạch, những lời khuyên đơn giản dưới đây sẽ luôn hữu ích và nếu có, cũng sẽ rất ít gây hại cho bạn:
· Thực hiện chế độ ăn uống có lợi cho tim, ít mỡ bão hoà và cholesterol, nhiều rau, quả, cá
· Giảm cân nặng nếu bạn thừa cân
· Hạn chế muối đưa vào cơ thể Đa số chúng ta ăn nhiều muối hơn lượng cơ thể chúng ta
cần Nhiều thức ăn tự nhiên đã chứa muối hoặc muối đã được thêm vào trong quá trình chế biến Đơn giản nhất, bạn hãy hạn chế cho muối vào thức ăn khi nấu nướng
· Bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục Tập luyện đều đặn có lợi cho tất cả mọi người
Bạn hãy chọn một phương pháp phù hợp với sở thích, thời gian và khả năng của bạn Luyện tập đều đặn, mỗi ngày ít nhất 45 phút
· Nếu bạn hút thuốc, hãy ngừng ngay
Trang 36· Nếu bạn uống rượu, hãy vừa phải
· Học cách làm giảm căng thẳng, tránh phản ứng với các tình huống có thể gây stress bởi nó
chỉ làm vấn đề trở nên trầm trọng hơn mà thôi
· Đi khám bệnh định kỳ để đánh giá mức độ nguy cơ của bạn Một hồ sơ hoàn toàn trong
sạch về sức khoẻ tại một thời điểm nào đó không thể suốt đời đảm bảo được rằng bạn không có bệnh tật
Trong trường hợp bạn đã được xác định tăng huyết áp hoặc có lượng cholesterol trong máu cao? Thời gian bắt đầu và việc chọn lựa một phác đồ điều trị hãy để người thầy thuốc quyết định, tất nhiên phải có sự đồng ý của bạn Nhìn chung, khi bị tăng huyết áp, tăng lượng cholesterol trong máu hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp, bạn cần được điều trị bằng thuốc Tất nhiên, bạn hoàn toàn có thể khởi đầu bằng thực hiện chế độ ăn kiêng, tập luyện thể lực và điều chỉnh các thói quen
có hại
Sau cùng, xin chúc bạn sức khoẻ và thành công!
Câu hỏi 40: Dấu hiệu nào phải chú ý là có thể bị Nhồi máu cơ tim?
Dấu hiệu cần phải chú ý bạn có thể bị nhồi máu cơ tim đó là triệu chứng đau thắt ngực Cơn đau thắt ngực điển hình là đau như bóp nghẹt phía sau xương ức hoặc hơi lệch sang trái, lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út Nhiều khi bạn có cảm giác như
bị “voi giẫm lên ngực” Cơn đau thường kéo dài hơn 20 phút và không đỡ khi dùng Nitroglycerin Một số trường hợp đau có thể lan lên cổ, cằm, vai, sau lưng, tay phải, hoặc vùng thượng vị Tuy nhiên cũng có một số trường hợp NMCT có thể xảy ra mà bệnh nhân không hoặc ít cảm giác đau (NMCT thầm lặng), hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, bệnh nhân có tiểu đường hoặc tăng huyết áp
Kèm theo đau người bệnh có thể rất hoảng sợ, vã mồ hôi, khó thở, hồi hộp đánh trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn
Khi bạn bị đau ngực như vậy hãy nằm yên và gọi người giúp đỡ hoặc gọi điện thoại cấp cứu Không được cố gắng đi lại hoặc tiếp tục làm việc gì đó
Câu hỏi 41: Phải làm gì khi bản thân hoặc người nhà bị cơn đau ngực trái đột ngột?
Thông thường, đau ngực trái có thể do rất nhiều nguyên nhân Có những nguyên nhân tương đối lành tính (như ngoại tâm thu), trong khi lại có những nguyên nhân là tình trạng cấp cứu nặng (như nhồi máu cơ tim, phình tách động mạch chủ)
Trang 37Nếu bạn còn trẻ tuổi, không có tiền sử bệnh tim mạch, cơn đau ngực ngắn (kéo dài khoảng vài chục giây đến nửa phút) thì thường không liên quan đến tình trạng cấp cứu nghiêm trọng Hãy bình tĩnh nghỉ ngơi để cơn đau qua đi và đến khám bác sỹ
Ngược lại, nếu bạn là người có tuổi, có tiền sử bệnh tăng huyết áp, tiền sử đái tháo đường, thì cơn đau ngực trái là một dấu hiệu cho thấy bạn cần phải đến cơ sở y tế ngay lập tức
Nếu bạn đau ngực theo từng cơn, mỗi cơn kéo dài từ 10 phút đến vài giờ, có khả năng bạn
bị mắc bệnh mạch vành Các triệu chứng của cơn đau ngực rất đa dạng, như đau bóp nghẹt ngực, đau bỏng rát, đau như dao đâm, hoặc chỉ là cảm giác tức hay nặng ngực Cơn đau không giảm đi khi thay đổi tư thế Những triệu chứng kèm theo có thể là vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mệt, đánh trống ngực,… Nếu bạn có tiền sử tăng huyết áp, và đau ngực liên tục không giảm, cơn đau lan ra sau lưng, có khả năng bạn bị phồng hay tách thành động mạch chủ Cả bệnh mạch vành và phồng tách động mạch chủ đều là tình trạng cấp cứu nội khoa, Sự chậm trễ trong việc cấp cứu có thể khiến bạn phải trả giá bằng mạnh sống của mình Do vậy, hãy đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt
Câu hỏi 42: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Tôi rất lo lắng, xin cho biết bệnh này là gì? Tại sao tôi lại bị?
Đau thắt ngực ổn định là tình trạng tức ngực xuất hiện khi cơ tim bị thiếu oxy, thường gặp nhất là sau khi phải gắng sức, bị căng thẳng tâm lý hay tiếp xúc với khí hậu lạnh,…
Nguyên nhân của đau thắt ngực ổn định là do tổn thương hẹp động mạch vành Cơ tim của bạn làm việc liên tục, cả ngày lẫn đêm, vì thế nó cần được cung cấp oxy liên tục Cơ tim lấy oxy
từ các động mạch vành cấp máu nuôi tim Khi cơ tim làm việc nhiều hơn bình thường, nhu cầu oxy cũng cao hơn Nếu động mạch vành không cấp đủ oxy cho cơ tim (mạch vành bị hẹp hoặc tắc,
do xơ vữa mạch máu, hoặc do cục máu đông), sẽ xuất hiện các triệu chứng của cơn đau thắt ngực.Người bệnh thường đau theo cơn Cơn đau điển hình là đau sau xương ức, hơi lệch trái, đau bóp nghẹt ngực hoặc đau nhói như dao đâm Đau có thể lan lên cổ, lên cằm, hoặc lan ra sau lưng hay lan xuống cánh tay Cơn đau tiến triển tăng dần, kéo dài khoảng 15 đến 30 phút Cơn đau giảm
đi khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc Các triệu chứng kèm theo thường là vã mồ hôi lạnh, hoa mắt chóng mặt, đau đầu, nôn, buồn nôn, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi… Mặc dù không nặng nề như nhồi máu cơ tim hay đau thắt ngực không ổn định, nhưng cơn đau thắt ngực ổn định cũng có thể nguy hiểm tính mạng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người bệnh Nếu được chẩn đoán đau thắt ngực ổn định, bạn cần phải đi khám định kỳ và được theo dõi bởi thầy thuốc chuyên khoa tim mạch
Trang 38Bạn có nguy cơ cao tổn thương động mạch vành và xuất hiện triệu chứng của cơn đau thắt ngực nếu bạn thuộc một trong những nhóm đối tượng sau: nam giới, tuổi cao, hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn mỡ máu, tiền sử gia đình có người thân bị bệnh mạch vành…
Câu hỏi 43: Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Bệnh này có chữa được không? Chữa như thế nào?
Các biện pháp điều trị đau thắt ngực ổn định bao gồm: điều trị bằng thuốc, can thiệp động mạch vành, và phẫu thuật
Đau thắt ngực ổn định là một biểu hiện của bệnh mạch vành Để kiểm soát tốt bệnh mạch vành, bạn phải được theo dõi định kỳ bởi thầy thuốc chuyên khoa và uống thuốc liên tục Các thuốc dùng để điều trị đau thắt ngực ổn định thường bao gồm: nitroglycerin, thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel), thuốc giảm mỡ máu, thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển hoặc một số thuốc tim mạch khác Hãy đi khám bác sỹ đều đặn, bác sỹ sẽ cho bạn đơn thuốc phù hợp Điều trị nội khoa tối ưu có thể cải thiện cơn đau ngực, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm tỉ lệ suy tim, giảm tỉ lệ nhập viện vì cơn đau ngực, cũng như giảm tỉ lệ tử vong của người bệnh Thầy thuốc cũng sẽ tư vấn cho bạn chế độ dinh dưỡng và tập luyện thích hợp Can thiệp động mạch vành là thủ thuật mở thông nhánh động mạch vành bị hẹp Nhờ một ống thông đưa vào lòng mạch qua da, thầy thuốc sẽ dùng một quả bóng nong rộng mạch vành, và đặt vào đó một giá đỡ kim loại (stent) để giúp mạch vành không bị hẹp lại Qua đó tăng cường lượng máu cung cấp cho cơ tim và cải thiện các triệu chứng của người bệnh
Phẫu thuật là biện pháp tạo một cầu nối vượt qua chỗ mạch vành bị hẹp, nhờ đó cải thiện dòng máu giàu oxy đi đến cơ tim
Cần nhớ là ngay cả khi đã được can thiệp mạch vành hay phẫu thuật thì bạn vẫn phải tiếp tục uống thuốc định kỳ, đều đặn Ngừng thuốc có thể dẫn đến những hậu quả nghiệm trọng và đe dọa tính mạng
Câu hỏi 44: Xin phân biệt giữa đau thắt ngực ổn định và không ổn định?
Đau thắt ngực ổn định và không ổn định đều là các biểu hiện của bệnh mạch vành Phân biệt hai tình trạng này rất quan trọng
Cơn đau thắt ngực ổn định là hậu quả của sự hẹp cố định động mạch vành, do mảng xơ vữa mạch vành ổn định Khi mạch vành bị hẹp, lưu lượng máu nuôi cơ tim bị giảm đi , dẫn đến triệu chứng đau ngực, nhất là khi người bệnh hoạt động gắng sức hay bị stress tâm lý Tuy nhiên, nếu
Trang 39người bệnh nghỉ ngơi, nhịp tim chậm lại, động mạch vành lại có thể đáp ứng được nhu cầu oxy của cơ tim, nhờ vậy triệu chứng đau ngực sẽ mất đi
Cơn đau thắt ngực không ổn định xuất hiện do sự giảm đột ngột của dòng máu mạch vành nuôi cơ tim, thường do nứt vỡ mảng xơ vữa dẫn đến bít tắc đột ngột một phần hoặc toàn bộ lòng mạch Khác với đau thắt ngực ổn định (gặp khi bệnh nhân gắng sức), đau thắt ngực không ổn định
có thể gặp kể cả khi người bệnh nghỉ ngơi, đang ngủ, hoặc sinh hoạt bình thường Triệu chứng đau ngực thường dữ dội hơn, kéo dài hơn Các cơn đau có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều, với cường độ đau tăng dần Đau thắt ngực không ổn định có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim và đe dọa nghiêm trọng tính mạng người bệnh
Câu hỏi 45: Tôi đã được đặt stent động mạch vành loại phủ thuốc? Xin cho hỏi stent này tồn tại được bao lâu? Có nguy cơ gì không?
Stent là một khung đỡ bằng kim loại được đặt trong lòng động mạch vành, nhằm mục đích
mở rộng lòng mạch vành bị hẹp và giữ nó không bị hẹp lại Có hai loại stent mạch vành: stent thường và stent phủ thuốc Stent phủ thuốc được tráng một lớp thuốc đặc biệt, lớp thuốc này
sẽ được giải phóng dần dần vào lòng mạch sau khi đặt stent, ngăn ngừa tiến triển của mô sẹo Qua
đó giúp lòng mạch luôn trơn nhẵn và mạch vành không bị hẹp lại Tỉ lệ mạch vành bị hẹp trở lại khi dùng stent phủ thuốc thấp hơn đáng kể so với khi sử dụng stent loại thường
Stent phủ thuốc là một bước tiến lớn của ngành tim mạch can thiệp Ngày càng có nhiều bệnh nhân được điều trị thành công bằng stent phủ thuốc Nếu bạn được đặt stent phủ thuốc, có một số nguy cơ bạn cần lưu ý
Đầu tiên, stent phủ thuốc làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông trong lòng mạch Cụcmáu đông gây tắc stent là một biến chứng cấp tính và có tỉ lệ tử vong cao Để ngăn ngừa nguy cơ này, bạn phải uống thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel) đều đặn vàkhông được tự ý bỏ thuốc Nhiều nghiên cứu lớn tại Mỹ và Anh cho thấy bỏ thuốc có liên quan mật thiết với tỉ lệ tắc lại stent và sự gia tăng tỷ lệ tử vong
Thứ hai, dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (như aspirin, clopidogrel) kéo dài đồng nghĩa với nguy cơ chảy máu tăng lên, đặc biệt là chảy máu dạ dày Hãy báo cho thầy thuốc biết nếu bạn
có sẵn các tình trạng bệnh lý dễ chảy máu hay bệnh viêm loét dạ dày tá tràng Đi khám thường xuyên để bác sỹ theo dõi và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp nhất cho bạn
Cuối cùng, stent phủ thuốc hạn chế chứ không ngăn ngừa hoàn toàn hiện tượng tái hẹp Vì thế dù tỷ lệ rất thấp, lòng mạch chỗ đặt stent vẫn có thể bị hẹp lại sau một thời gian đặt stent phủ
Trang 40thuốc nhất là nếu bạn không uống tuôsc đều Khi được điều trị nội khoa phù hợp và đầy đủ, stent phủ thuốc tương đối an toàn cho người bệnh
Câu hỏi 46: Tôi đã được đặt stent động mạch vành? Tôi có phải uống thuốc tiếp tục không?
Stent mạch vành là một bước tiến lớn của ngành tim mạch nói chung và tim mạch can thiệp nói riêng Stent mạch vành hạn chế sự tái hẹp lòng mạch, cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh, giảm tỉ lệ nhập viện vì bệnh mạch vành
Tuy nhiên, stent không thể thay thế hoàn toàn việc uống thuốc Ngược lại, sau khi đặt stent mạch vành, nhất là stent phủ thuốc, bạn càng cần phải tuân thủ chế độ uống thuốc đều đặn và nghiêm ngặt Các thuốc thiết yếu đối với bệnh nhân đã đặt stent là thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel), thuốc hạ mỡ máu, thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển Ngừng thuốc đột ngột có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí là tử vong Bạn cần đến khám bác sỹ định kỳ để được kê đơn thuốc phù hợp cũng như theo dõi và điều trị các tác dụng không mong muốn của thuốc
Câu hỏi 47: Tôi bị bệnh động mạch vành, đã được đặt stent động mạch vành được 1 tháng, sức khỏe thấy ổn định? Tôi có đi du lịch được không?
Nói chung, đi du lịch ít gây ảnh hưởng đến bệnh tim của bạn, nhất là khi bạn đã đặt stent được 1 tháng và tình trạng sức khỏe hồi phục tốt Một nghiên cứu của các nhà khoa học đại học Yale (Hoa Kỳ) cho thấy tỉ lệ biến cố tim mạch trên chuyến bay chỉ là một phần triệu Tuy nhiên, một số đối tượng cần tránh đi máy bay, dù có thể chỉ là tạm thời, do không khí loãng ở trên cao sẽ làm giảm lượng oxy trong máu Nếu bạn có bất cứ dấu hiệu tức ngực, khó thở, đánh trống ngực, rối loạn nhịp nào – dù là khi nghỉ ngơi hay lúc gắng sức – thì bạn cũng không nên đi du lịch, đặc biệt là di chuyển bằng máy bay
Bạn cần nhớ mang đầy đủ thuốc uống hàng này theo chuyến đi Ngừng thuốc đột ngột có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và đe dọa tính mạng Trong chuyến đi, bạn nên tránh những hoạt động thể lực nặng có thể làm ảnh hưởng đến tình trạng bệnh tim của mình
Nên thông báo cho bác sỹ về chuyến đi của bạn để có được tư vấn tốt nhất
Câu hỏi 48: Xin cho biết đặt stent động mạch vành là gì? Làm như thế nào?
Stent động mạch vành là những khung lưới kim loại nhỏ được đưa vào trong lòng mạch vành, nhằm mục đích mở rộng lòng mạch bị hẹp và giữ nó không hẹp lại