Họ dùng phương pháp phân tích cơ bản để xác định loại giao dịch nào nên thực hiện và dùng phương pháp phân tích kỹ thuật để chọn thời điểm m ua bán thích hợp nhất.6.1 CÁC CHỈ BÁO VỀ HOẠT
Trang 1Chương 6 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Từ ngữ phân tích kỹ thuật trong lĩnh vực thị trường chứng khoán có một nghĩa hoàn toàn khác với ngôn ngữ thông dụng Phân tích kỹ thuật là nghiên cứu các hành động (hành vi) của bản thân thị trường, khác với việc phân tích hàng hoá trên thị trường Phân tích kỹ thuật là khoa học ghi chép biểu đồ dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc nhóm cổ phiếu trong quá khứ và từ đó vẽ ra được bức tranh về xu thế trong tương lai
Đổ thị là công cụ của nhà phân tích kỹ thuật Đồ thị có thể biểu thị bất kỳ sự việc gì xẩy ra trên thị trường hoặc các chỉ số tách ra từ các đại lượng đó Đồ thị có thể theo đơn vị tháng, đơn
vị tuần, ngày, giờ Đồ thị có thể biểu thị đại lượng tỷ lệ giữa doanh thu trên giá chứng khoán, đại lượng giá trung bình của các cổ phiếu được mua bán nhiều nhất, Nói cách khác là các chỉ số được tính ra từ các đại lượng thống kê về các giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán Trên đồ thị người ta tìm ra quy luật về các tín hiệu báo trước về sự thay đổi của xu thế giá.Phần tích cơ bản tập trung vào xu hướng kinh tế nói chung, tình hình kinh doanh hiện tại của một ngành công nghiệp hoặc chất lượng cổ phiếu của một công ty cụ thể Ngược lại, phân tích kỹ thuật lại quan tâm đến việc dự báo ngắn hạn về xu hướng thị trường và giá cả chứng khoán hơn là tập trung nghiên cứu một công ty nào đó Đối với một nhà phân tích kỹ thuật, quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa trên hoạt động của thị trường và sự thay đổi xu hướng thị trường
195
Trang 2Các nhà phân tích thị trường chứng khoán sử dụng đồng thời cả hai phương pháp phân tích cơ bản và kỹ thuật để đưa ra quyết định đầu tư Họ dùng phương pháp phân tích cơ bản để xác định loại giao dịch nào nên thực hiện và dùng phương pháp phân tích kỹ thuật để chọn thời điểm m ua bán thích hợp nhất.
6.1 CÁC CHỈ BÁO VỀ HOẠT ĐỘ NG CỦA THỊ TRUỒNG CHÚNG KHOÁN
6.1.1 Các chỉ số giá và bình quân động của giá chứng khoán
G iá cả các loại chứng khoán có xu hướng biến động đồng loạt Bất cứ m ột loại chứng khoán nào đều có khuynh hướng tăng giá khi thị trường lên và giảm giá khi thị trường giảm Tất nhiên, cũng có những nhân tố khác làm cho giá cả chứng khoán biến động ngược chiều với xu hướng của thị trường Các chỉ số và bình quân động có vai trò quan trọng trong phân tích
kỹ thuật vì chúng thể hiện xu hướng biến động của giá cả chứng khoán
6 J 1 1 C hỉ sô' giá chứng khoán
Chỉ số giá chứng khoán là chỉ số phản ánh sự biến đổi của giá chứng khoán tại m ột thời điểm so với thời điểm gốc nào đó
So sánh giá trị chỉ số giữa hai thời điểm khác nhau ta được sự biến động giá giữa hai thời điểm đó
Để có tầm nhìn tổng quan về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường, người ta sử dụng chỉ số giá cổ phiếu là loại thông tin quan trọng nhất của thị trường và thường được dùng trong phân tích và đầu tư chứng khoán
Trang 3Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá cổ phiếu bình quân hiện tại so vói giá cổ phiếu bình quân thời kỳ gốc đã chọn.Tất cả các thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêng mình Chỉ số giá cổ phiếu có thể được tính cho từng cổ phiếu, tất cả cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia, từng ngành, nhóm ngành Ngoài ra, một số chỉ tiêu sau cũng được thống kê, tổng hợp đối với chỉ số giá cổ phiếu và thông báo rộng rãi như : Chỉ số giá cổ phiếu trong ngày, ngày đó so với ngày trước hay so với đầu năm, chỉ số cao nhất hoặc thấp nhất tròng năm, .
6.1.1.1.1 Chỉ s ố giá bình quân giản đơn
Đây là chỉ số bình quân số học giản đơn, không có sự tham gia của quyền số Công thức tính như sau :
± Pit
I =
±± -± P io i=I Trong đó:
I : Chỉ số giá cổ phiếu bình quân
P i t : Giá cổ phiếu i thời kỳ t
Pio : Giá cổ phiếu i thời kỳ gốc
Chỉ số giá bình quân giản đơn có đặc điểm là cổ phiếu có giá trị càng cao thì càng có ảnh hưởng lớn đến sô' bình quân
Sự tăng giá 1% của cổ phiếu có trị giá cao thì ảnh hưởng nhiều
197
Trang 4hơn so với sự thay đổi giá 1% của cổ phiếu có trị giá thấp Mức bình quân không phản ánh giá bình quân vì hộ số chia thay đổi liên tục Chỉ số này chỉ phản ánh đúng khi độ lệch chuẩn nhỏ Các chỉ số Dow Jones; Nikkei 225; Chỉ số tổng hợp MIB (Italy) áp dụng loại chỉ số này.
6.1.1.1.2 C h ỉ s ố giá bình quân gia quyền giá trị
Đặc điểm của loại chỉ số giá này là các công ty lớn có tác động lớn Nếu cùng khối lượng niêm yết, công ty có cổ phiếu thị giá cao hơn sẽ có tác động nhiều hơn Những cổ phiếu giao dịch
ít vẫn có ảnh hưởng, không phản ánh được thực sự thị trường.Chỉ số bình quân gia quyền giá trị là chỉ số giá cổ phiếu bình quân gia quyền với quyền số là số lượng cổ phiếu niêm yết Loại chỉ số này bao gồm chỉ số giá Laspeyres và chi số giá Paascher
+ C h ỉ s ố giá P aascher
Đ ây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất, nhiều nước
áp dụng nhất như các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); s& P500 (Mỹ); FT-SE100 (Anh); TOPIX (Nhật); TSE (Đài Loan);
Trang 5Pit: giá cổ phiếu i thời kỳ báo cáo (t)
Pio: giá cổ phiếu i thời kỳ gốc (o)
qit: Khối lượng cổ phiếu i niêm yết thời kỳ báo cáơ (t)Chỉ số này lấy quyền số là số lượng cổ phiếu niêm yết thời
kỳ báo cáo nên nó là tư liệu và sẽ phản ánh được vai trò của các cổ phiếu niêm yết tại thời kỳ tính toán Tuy nhiên,' chỉ số này có nhược điểm quan trọng nhất là phải thường xuyên cập nhật số liệu về cổ phiếu niêm yết thời kỳ báo cáo
+ Chỉ s ố giá Laspeyres
Đây là chỉ số giá cổ phiếu áp dụng phương pháp bình quângia quyền với quyền số là số lượnỊ> cổ phiếu niêm yết thời kỳgốc Công thức tính như sau:
ị^qio.pit
h = — Ỵ^qio.pio
-i=l
Trong đó:
IL: Chỉ số giá cổ phiếu bình quân Laspeyres
pit: giá cổ phiếu i thời kỳ báo cáo
pio: giá cổ phiếu i thời kỳ gốc
qio: Khối lượng cổ phiếu i niêm yết thời kỳ gốc
Trong đó:
Ip : chỉ số giá cổ phiếu bình quân Paascher
199
Trang 6Chỉ số này lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc nên số liệu này đã có, không phải cập nhật Tuy nhiên nhược điểm của nó là không phản ánh được cơ cấu biến đổi của thị trường Các chỉ số FAZ, DAX của Đức áp dụng loại chỉ số này.
6.1.1.1.3 C h ỉ sô'bình quân nhân
Chỉ số bình quân nhân là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Paascher và chỉ sô giá Laspeyres và được xác định theo công thức :
I F = I px l L Trong đó:
IF: chỉ số giá Fisher
Ip: Chỉ số giá Paascher
IL: chỉ số giá bình quân Laspeyres
Chỉ số này có ưu điểm phần nào khắc phục được nhược điểm của chỉ số Paascher và Laspeyres m ắc phải Các chỉ số Value line (M ỹ); FT-30 (Anh) áp dụng loại chỉ số này
M ột số chỉ số giá được xác lập nhằm phản ánh toàn bộ thị trường, đây là các chỉ số giá có cơ sở rộng M ột số chi số giá khác có cơ sở hẹp, chỉ là thước đo cho m ột m ảng thị trường hoặc cho m ột ngành nhất định
Chỉ số bình quân Dow Jones là đại lượng lâu đời và thông dụng nhất dùng để đo lường sự biến động giá cả cổ phiếu và được tính toán dựa trên m ột số loại cổ phiếu tiêu biểu trong các ngành lĩnh vực sau :
Trang 7+ Bình quân ngành công nghiệp (30 loại cổ phiếu)
+ Bình quân ngành vận tải (20 loại cổ phiếu)
+ Bình quân ngành dịch vụ công ích (15 loại cổ phiếu)+ Bình quân tổng hợp (65 loại cổ phiếu thuộc 3 nhóm trên).Cho đến nay chỉ số bình quân ngành công nghiệp (DJIA) vẫn là một chỉ báo được sử dụng rộng rãi nhất Khi nói về xu hướng chung của thị trường, các nhà phân tích và đầu tư thường dùng chỉ số bình quân ngành công nghiệp Chỉ số bình quân Dow Jones có trọng số là giá cả chứng khoán
Chỉ số s& p 500 lấy cơ sở là giá cả của 400 loại cổ phiếu ngành công nghiệp; 20 cổ phiếu ngành vận tải; 40 cổ phiếu ngành tài chính và 40 cổ phiếu ngành dịch vụ công ích Các lĩnh vực đều được dự báo riêng biệt Chỉ số s & p 500 có hai lợi thế so với chỉ số bình quân Dow Jones là hộ thống trọng số
và phạm vi đại diện rộng hơn Mỗi loại cổ phiếu được tính trọng số theo tổng giá trị của cổ phiếu đang lưu hành, làm cho chỉ số s & p 500 có tính chọn lọc hơn chỉ số Dow Jones Phạm
vi đại diện của nó cũng rộng hơn: 500 loại cổ phiếu được chọn đại diện cho 75% - 80% tổng giá trị của các loại cổ phiếu giao dịch tại NYSE
Chỉ số tổng hợp NYSE dựa trên giá cả của tất cả các loại
cổ phiếu thường được niêm yết trên sở giao dịch Giống như chỉ số s & P500 Chỉ số tổng hợp NYSE lấy trọng số là tổng giá trị của toàn bộ cổ phiếu đang lưu hành của mỗi loại cổ phiếu Tương tự chỉ số bình quân Dow Jones và chỉ số s & P500 các loại cổ phiếu thuộc ngành công nghiệp là bộ phận
201
Trang 8quan trọng nhất của chỉ số tổng hợp NYSE Chỉ số này được tính toán và công bố m ỗi ngày.
Chỉ số mức giá trị tổng hợp bao gồm 1700 loại cổ phiếu giao dịch trên NYSE, A M EX và OTC N goài ra, đường giá trị còn cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư như thời điểm và độ an toàn của hàng trăm loại cổ phiếu khác nhau N ó dự kiến loại cổ phiếu có giá cả tương đối tốt nhất hoặc mức tệ nhất trong vòng
12 tháng tiếp theo
Chỉ số W ilshire 5000 là đại lượng đánh giá thị trường tổng quát nhất Nó có trọng số là tổng giá trị của 5000 loại cổ phiếu giao dịch trên NYSE, A M EX và OTC Chỉ số W ilshire 5000 được công bố hàng ngày trên tờ nhật báo phố W all
6.1.1.1.4 Bình quân động của giá chứng khoán
Bình quân động của giá chứng khoán là m ức giá bình quân của chứng khoán trong m ột khoảng thời gian xác đinh Bình quân động được phân loại thành bình quân động giản đơn, bình quân động bình quân gia quyền, bình quân động tuyến tính Các mức bình quân động được tính toán liên tục M ột trong những mức bình quân thông dụng nhất là bình quân động 200 ngày, ghi nhận giá cả hàng ngày của m ột loại cổ phiếu trong vòng 200 ngày liên tục Đường bình quân động là công cụ phổ biến phản ánh xu th ế chung của từng cổ phiếu hoặc thị trường nói chung, Các nhà phân tích kỹ thuật dùng đường bình quân động như m ột chỉ báo xu hướng dài hạn và xem xét các mức giá hiện tại trong m ối tương quan với xu hướng này để nhân ra các dấu hiệu thay đổi
Trang 9Có hai sự so sánh được coi là quan ữọng liên quan đến các đường bình quân động So sánh thứ nhất là giữa các mức giá cụ thể và các đường bình quân động ngắn hạn (MA 50 ngày) Nếu
xu hướng giá chung của một loại cổ phiếu hoặc thị trường đang
đi xuống, đường MA thường sẽ nằm phía trên mức giá hiện tại Nếu giá cổ phiếu đảo chiều và vượt qua đường MA từ bên dưói kèm theo khối lượng giao dịch lớn thì hầu hết các nhà phân tích
kỹ thuật sẽ coi đây là một thay đổi rất tích cực và cho rằng đây
là dấu hiệu Sự đảo chiều của xu hướng gia tăng, đường MA cũng sẽ có xu hướng gia tăng nhưng vẫn nằm dưới mức giá hiện tại Nếu giá hiện tại vượt qua đường MA từ bên trên kèm theo khối lượng giao dịch lớn, đây sẽ được coi là một dạng thức tiêu cực báo hiệu sự đảo chiều của xu hướng tăng giá dài hạn
So sánh thứ hai là giữa đường bình quân động 50 ngày và đường bình quân động 200 ngày (MA 200 ngày) Thông thường khi hai đường MA này cắt nhau sẽ báo hiệu một sự thay đổi của
xu hướng giá chung Nếu đường MA 50 ngày cắt đường MA
200 ngày từ bên dưới với khối lượng giao dịch lớn, đây sẽ là dấu hiệu giá lên (dấu hiệu mua) bởi vì nó báo hiệu sự đảo chiều của
xu hướng từ tiêu cực sang tích cực Ngược lại, khi đường MA
50 ngày cắt đường MA 200 ngày từ bên trên, nó báo hiệu sự thay đổi sang xu hướng tiêu cực và sẽ là dấu hiệu bán
Nhìn chung, đối vói xu hướng giá lên thì đường MA 50 ngày sẽ nằm trên đường MA 200 ngày Cũng cần lưu ý rằng, nếu khoảng cách giữa hai đường MA này trở nên quá lớn thì nhà phân tích kỹ thuật có thể coi đó là dấu hiệu cổ phiếu hiện được mua vào quá nhiều Một xu hướng giá xuống là khi
203
Trang 10đường M A 50 ngày luôn nằm dưới đường M A 200 ngày Nếu khoảng cách giữa hai đường này quá lớn thì đó có thê được coi
là dấu hiệu cổ phiếu được bán ra quá nhiều
6.1.2 Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch
Cùng với việc xem xét về biến động của giá cả chứng khoán, các nhà phân tích kỹ thuật cũng quan tâm đến khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch Khối lượng giao dịch là số lượng cổ phiếu được mua, bán trên thị trường và được xác định theo công thức sau :
K hối lượng giao dịch được xác định chung cho toàn thị trường và người ta cũng xác định riêng cho từng loại cổ phiếu niêm yết Thông thường khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch được sở giao dịch chứng khoán và hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thông báo hàng ngày Các con sỏ' về khối
Trang 11lượng cho thấy tổng số giao dịch đối với mỗi loại chứng khoán
và toàn thị trường Các nhà phân tích thường xem xét một cách cẩn thận những con số này vì lịch sử cho thấy sự thay đổi của khối lượng giao dịch có nhiều khả năng dẫn đến các xu hướng
về giá cả Các nhà phân tích kv thuật cho rằng bình thường khi khối lượng giao dịch tâng lên thì giá cổ phiếu cũng tãng lên Sự việc này không báo hiệu một sự đảo ngược các xu hướng thị trường Tuy nhiên, khi có một sự tăng giá nhỏ kèm thêm sự giảm khối lượng giao dịch thì thường dẫn tới sự đảo ngược xu hướng vầ do đó sẽ dẫn tới sụt giá Nếu khối lượng giao dịch tăng hoặc giảm đột ngột so với mức trung bình, các nhà phân tích sẽ cân nhắc xem thị trường đang thịnh hay suy Nói chung, trong thị trường giá lên quy mô giao dịch thường lớn và ngược lại trong thị trường giá giảm quy mô giao dịch thường nhỏ Lượng giao dịch rất thấp cho thấy sự thiếu vắng người mua trên thị trường, người bán thường nhiều hơn người mua Do vậy, lượng giao dịch khi giá lên thường lớn hơn lượng giao dịch khi giá xuống
6.1.3 Vòng quay vốn và cổ phiếu
Vòng quay vốn và vòng quav cổ phiếu phản ánh nhịp độ hoạt động của thị trường và được xác định theo công thức tổng quát sau :
Tổng giá trị của số cổ phiếu được giao dịchVòng quay vốn = -— — — -^7— — -
Tông giá trị thị trường của cô phiếuTổng giá trị thị trường là tổng số vốn cổ phần tính theo giá trị thị trường của các công ty có cổ phiếu được mua bán trên thị trường và được xác định như sau :
205
Trang 12V = ỵ s i P i
i=l
Trong đó:
V: tổng giá trị thị trường
S: số lượng cổ phiếu đang lưu hành
P: giá thị trường của m ột cổ phiếu
6.2 C Á C L Ý T H U Y Ế T c ơ B Ả N T R O N G P H Â N TÍCH
K Ỷ T H U Ậ T
M ột trong những công cụ dành cho các nhà phân tích kỹ thuật là các lý thuyết rất đa dạng có liên quan tới các hoạt động thị trường Những lý thuyết này đưa ra những mô hình thị trường nhất định trong lịch sử khi xuất hiện những dạng đúng như vậy thì có thể là dấu hiệu dẫn tới tăng giá hoặc sụt giá trong m ôi trường đầu tư
Khi có dấu hiệu tăng giá xuất hiện, các nhà phân tích sẽ đưa
ra các khuyến nghị m ua vào Trong trường hợp có các dấu hiệu giảm giá, các nhà phân tích sẽ khuyên khách hàng bán phần chứng khoán họ đang sở hữu hoặc bán khống các chứng khoán
Trang 13Lý thuyết Dow thường dùng để xác định thời điểm kết thúc một xu hướng của thị trường Theo lý thuyết này, có 3 xu hướng biến động giá cổ phiếu : Xu hướng dài hạn của giá các
cổ phiếu được coi là xu hướng biến động cấp một Xu hướng này biểu thị sự đi lên, đi xuống kéo dài trong một hoặc vài năm
và kết quả là có sự tăng hoặc giảm giá 20% Trên đường diễn biến xu hướng biến động cấp một xuất hiện các giai đoạn bị ngắt quãng bởi xu hướng biến động cấp hai đi ngược với xu hướng biến động cấp một nó là các phản ứng hoặc các điều chỉnh khi xu hướng biến động cấp một tăng hoặc giảm quá mức trong một giai đoạn nào đó Xu hướng biến động cấp hai lại bao gồm các xu hướng biến động cấp ba, thường là các biến động ngày này qua ngày khác, là xu hướng biến động không
có vai trò quan trọng đối với thị trường
- Xu hướng biến động cấp một Đó là xu hướng chung về
sự đi lên hoặc đi xuống kéo dài trong một hoặc thậm chí vài ba năm Mỗi đợt tăng giá mới lại đạt mức cao hơn đợt giá tăng lần trước và cứ mỗi đợt phản ứng giá (xu hướng giảm giá) vẫn ở mức cao hơn đợt phản ứng giá lần trước, nhưng xu hướng biến động cấp một vẫn là xu hướng tăng giá Xu hướng cấp một này được gọi là thị trường con bò tót Ngược lại, mỗi đợt mới giá giảm lại đạt mức thấp hơn đợt giá giảm lần trước và mỗi đợt tăng giá tiếp theo không đủ sức đưa mức giá trở về mức tăng giá đợt trước thì xu hướng biến động cấp một là xu hướng giảm giá Xu hướng cấp một này được gọi là thị trường con gấu
6.2.1 Lý thuyết Dow
207
Trang 14- Xu hướng biến động cấp hai Đó là các phản ứng làm ngắt quãng quá trình tăng hoặc giảm của xu hướng biên động cấp một Thường thì xu hướng biến động này kéo dài từ ba tuần đến vài tháng Chúng thường đảo chiều giá trị khoảng 1/3 đên 2/3 đối với các đợt tăng (giảm ) lần trước trong quá trinh diễn biến của xu hướng biến động cấp một.
Như vậy, chúng ta có thể nhận biết xu hướng biến động cấp hai, đó là bất cứ sự diễn biến giá cả đi ngược lại với xu hướng biến động cấp m ột và kéo dài trong khoảng 3 tuần và đưa đến giảm giá trên 1/3 của đợt giảm giá lần trước trong xu hướng biến động cấp m ột được coi là xu hướng biến động cấp hai
- Xu hướng biến động cấp ba Đó là các biến động nhỏ khoảng vài giờ, đến vài ngày Thường thì trong các đợt trung gian, trong xu hướng biến động cấp hai hoặc giữa hai xu hướng biến động cấp hai có khoảng 3 đợt biến động nhỏ Xu hướng biến động cấp ba chỉ là m ột trong ba xu hướng biến động và chúng dễ bị thao túng
+ Thị trường con bò tót: Xu hướng biến động cấp m ột tâng giá được chia thành ba giai đoạn Giai đoạn m ột là giai đoạn tích tụ, trong thời gian này người đầu tư có tầm nhìn sẽ cảm nhận được rằng thị trường tuy đang bị đè nén và bi quan nhưng
sẽ đảo chiều và họ sẵn sàng m ua tất cả các cổ phiếu được chào bán bởi các nhà đầu tư đang có tâm lý bi quan Họ sẽ tăng giá đạt m ua từ từ m ột khi khối lượng cổ phiếu chào bán giảm Các báo cáo tài chính vẫn phản ánh tình hình tồi tệ của thị trường trong giai đoạn này Hoạt động thị trường ở mức trung bình nhưng bắt đầu có các đợt tăng giá nhỏ
Trang 15Giai đoạn hai là giai đoạn tăng giá mạnh và hoạt động thị trường cũng tăng lên do có các thông tin tốt lành về tình hình kinh doanh và do có xu hướng tăng thu nhập trên một cổ phiếu của công ty, gây nên sự chú ý của công chúng Chính trong giai đoạn này các nhà phân tích kỹ thuật thu được lợi nhuận cao nhất.Giai đoạn ba là giai đoạn khi thị trường cháy bỏng và công chúng lao vào sàn giao dịch Tất cả các tin tức tài chính đều tốt đẹp, giá tăng đột biến và các tin tức giá cả chứng khoán được đưa lên trang đầu của báo chí Đến giai đoạn này người ta cho rằng thị trường đã tăng trong hai năm và đã đến lúc phải đặt câu hỏi: có nên bán cổ phiếu đi không? Ớ giai đoạn sôi động này khối lượng cổ phiếu giao dịch vẫn tăng, giá các cổ phiếu ít giá trị trước đây tăng đột ngột, nhưng giá các cổ phiếu có độ tín nhiệm cao lại không tăng nữa.
+ Thị trường con gấu: Xu hướng cấp một giảm giá này
được chia thành ba giai đoạn Giai đoạn một gọi là giai đoạn phân phối (nó bắt đầu từ giai đoạn ba của thị trường con bò tót trước đó) Ở giai đoạn này người đầu tư có tầm nhìn cảm nhận được rằng lợi nhuận đã đạt mức đặc biệt cao và bắt đầu bán cổ phiếu mình nắm giữ, khối lượng giao dịch vẫn cao nhưng có xu hướng giảm trong đợt tăng giá, công chúng vẫn sôi động nhưng
đã bắt đầu có dấu hiệu chập chờn vì hy vọng về lợi nhuận bắt đầu tắt dần Giai đoạn hai là giai đoạn hoảng loạn Số người mua giảm đi đáng kể, còn những người bán thì mất bình tĩnh
Xu hướng giảm giá gia tăng đột ngột, trong khi khối lượng giao dịch tăng không bình thường
209
Trang 16Sau khi hoảng loạn là m ột giai đoạn tương đối lâu của xu hướng cấp hai hồi phục hoặc củng cô và sau đó là đến giai đoạn
ba Giai đoạn ba đặc trưng bởi việc bán bắt buộc của những người nắm giữ cổ phiếu trong giai đoạn hoảng loạn hoặc đã
m ua trong giai đoạn hoảng loạn vì giá cổ phiếu lúc đó có vẻ là
rẻ so với m ấy tháng trước đó Các tin tức về tình hình kinh doanh bắt đầu xấu đi Ở giai đoạn ba này việc giảm giá cổ phiếu không đột ngột như ở giai đoạn hoảng loạn, nhưng vì còn
có những người phải bán bắt buộc vì họ cần tiền cho các nhu cầu khác Các cổ phiếu có độ tín nhiệm cao giảm giá từ tốn hơn
và trong giai đoạn cuối này thị trường con gấu tập trung sự chú
ý vào các cổ phiếu này Thị trường con gấu kết thúc khi mọi khả năng về các tin tức xấu đã được đón nhận hết và thị trường kết thúc khi các tin tức xấu chấm dứt
Cần lưu ý rằng thị trường con bò tót lần sau không giống hoàn toàn thị trường con bò tót lần trước và cũng vậy đối với các thị trường con gấu vì chúng có thể không qua tất cả các giai đoạn nêu trên Thị trường con gấu ngắn ngủi có thể không có giai đoạn hoảng loạn Giai đoạn thứ ba củ a thị trường con bò tót, giai đoạn đầu cơ sôi động có thể kéo dài hơn m ột năm hoặc chỉ sảy ra trong m ột hai tháng Giai đoạn hoảng loạn cũng có thể chỉ xẩy ra trong m ột hai tuần
Như vậy, theo lý thuyết Dow, xu hướng biến động chính của thị trường tăng giá là hàng loạt các đỉnh điểm và điểm đáy cao hơn Trong thị trường giá giảm , xu hướng biến động chính
là những điểm đỉnh và điểm đáy thấp hơn Những biến đông hàng ngày được coi là không đáng kể
Trang 17Lý thuyết Dow cũng cảnh báo phải thận trọng khi nhận định về đảo chiều của thị trường, không nên chạy trước thời gian Điều này không có nghĩa là nhà giao dịch phải chờ đợi thêm ưong khi đã có tín hiệu đảo chiều mà chỉ cảnh báo rằng nhà giao dịch sẽ có lợi khi chờ đến lúc thực sự chắc chắn về tín hiệu đảo chiều và họ phải trả giá đắt khi hành động (mua hoặc bán) quá sớm Thị trường con bò tót không thể tăng vô thời hạn cũng như thị trường con gấu bao giờ cũng sẽ đạt đáy.
Các động lực để mua, triển vọng để bán cổ phiếu mới mua
để thu lợi nhuận sẽ giảm đi khi thị trường con bò tót để tồn tại trong vài tháng so với tình hình khi xu hướng cấp một lần đầu tiên mới nhận biết Những tiền đề này, lý thuyết Dow cho rằng: Cần phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng thay đổi chiều đặt lệnh.Việc đảo chiều của xu hướng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào ngay sau khi xu hướng trên để được xác nhận Vì vậy, các nhà phân tích kỹ thuật phải theo sát thị trường trong mọi lúc khi họ vẫn còn trong cuộc chơi
6.2.2 Lý thuyết lượng chưa được bù đắp
Bán khống được hiểu là việc bán các chứng khoán mà người bán không sở hữu chúng Để có thể giao hàng, người bán khống phải vay số chứng khoán này và tất nhiên họ có nghĩa
vụ phải hoàn trả lại các chứng khoán đã vay Người bán khống
đã dự đoán trước được sự giảm giá trên thị trường Họ sẽ thu được lợi nhuận bằng cách trả các chứng khoán đã bán khống tại giá thấp hơn trong tương lai Lượng chưa được bù đắp đề cập tới tổng khối lượng cổ phiếu hiện đã được bán khống trên thị trường mà vẫn chưa bù lại
211
Trang 18Đối với nhiều người, sự tăng lên của lượng chưa được bù đắp từ tháng này sang tháng khác sẽ là dấu hiệu của giảm giá Tuy nhiên, những người theo lý thuyết lượng chưa được bù đắp thường cho rằng việc tăng lên của lượng chưa được bù đắp sẽ kéo theo sự tãng giá Theo lý thuyết này, những người bán khống sau đó sẽ buộc phải m ua lại những chứng khoán mà mình đã bán khống và khi những người bán khống m ua lại các' chứng khoán thì giá thị trường sẽ tăng lên N hững người bán khống khác, lo sợ giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai liền vội vàng m ua cổ phiếu để bù đắp cho phần đã đi vay, tạo nên sức
ép bổ sung đối với loại cổ phiếu này (thường được gọi là sự chèn ép ngắn) Bởi vậy, một lượng chưa được bù đắp cao thường được các nhà phân tích kỹ thuật xác nhận là m ột dấu hiệu của sự tăng giá và m ột lượng chưa được bù đắp thấp báo hiệu thị trường giảm giá
6.2.3 L ý th u y ế t lô lẻ
Lý thuyết về lô lẻ tập trung phản ánh các hoạt động giao dịch giữa những nhà đầu tư nhỏ N hững nhà đầu tư này thường được gọi là “N hững người giao dịch lô lẻ” vì họ thường mua bán những lô lẻ (ít hơn 100 cổ phiếu)
Theo lý thuyết này các nhà đầu tư nhỏ thường lựa chọn thời điểm m ua và bán không đúng lúc Họ sẽ m ua lúc giá thị trường cao nhất và bán khi giá thị trường thấp nhất Do vậy, các nhà phân tích kỹ thuật sẽ chỉ dẫn cho các khách hàng của họ mua vào khi các lệnh bán lô lẻ tăng so với các lệnh m ua lô lẻ và bán
ra khi các lệnh m ua lô lẻ tăng lên so với các lệnh bán lô lẻ
Trang 196.2.4 Lý thuyết về tăng - giảm
Các nhà phân tích thường xem xét đến tình trạng của thị trường thông qua số loại chứng khoán tăng hoặc giảm giá được giao dịch trong mỗi ngày hay trong một thời gian nhất định khác Lý thuyết về tăng - giảm cho rằng số loại chứng khoán tăng giá và số loại chứng khoán giảm giá là dự báo chính xác nhất về sức mạnh tương quan của thị trường Nếu số chứng khoán giảm giá nhiều hơn số chứng khoán lên giá thị trường được coi là đi xuống Khi thị trường đi lên, số chứng khoán tăng giá nhiều hơn số chứng khoán giảm giá Biểu diễn các số liệu lên đồ thị, các nhà phân tích kỹ thuật sẽ có được đường chứng khoán tăng - giảm, thể hiện xu hướng chung của thị trường qua các thời kỳ
6.2.5 Lý thuyết chỉ sô tin cậy
Chỉ số tin cậy là tỷ lệ so sánh về lợi suất giữa các trái phiếu thứ hạng cao và các trái phiếu thứ hạng thấp Nếu chỉ số tin cậy tăng, các nhà đầu tư sẵn sàng chấp thuận rủi ro và đầu tư vào những trái phiếu có thứ hạng mức tín nhiệm thấp hơn nhưng có lợi suất cao hơn Giá cả trái phiếu thứ hạng thấp sẽ tăng lên khi
có nhiều người đầu tư Kết quả là lợi suất của trái phiếu này sẽ giảm Điều này làm thu hẹp sự chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu có thứ hạng cao và trái phiếu có thứ hạng thấp
6.2.6 Lý thuyết d anh mục đầu tư hiện đại (M PT)
Các nhà quản lý đầu tư theo lý thuvết này thường quan tâm đên mối quan hộ giữa các loại đầu tư trong cùng một danh mục hơn là tập trung vào việc định giá một loại chứng khoán cụ thể
213
Trang 20nào Lý thuyết danh m ục đầu tư hiện đại cùng với những phân tích thống kê đã tạo ra nghi ngờ về khả năng dự báo xu hướng biến động giá cả của các nhà phân tích cơ bản và kỹ thuật Những người theo lý thuyết danh m ục đầu tư hiện đại cho rằng thị trường chứng khoán là m ột thị trường hiệu quả, có nghĩa là giá cả chứng khoán phản ứng tức thì với hầu hết những thông tin về đầu tư nên không nhà phân tích nào được coi là sáng suốt trên khía cạnh tổng thể của thị trường Trọng tâm chính của nhà quản lý danh m ục đầu tư là lựa chọn m ột tập hợp các khoản m ục đầu tư có thể đưa lại cho nhà đầu tư thu nhập mong đợi cao nhất theo từng mức rủi ro nhất định.
6.2.7 L ý th u y ế t bước đi n g ẫ u n h iên
M ột số nhà phân tích tin rằng xu hướng biến động giá cả chứng khoán trong quá khứ không thể sử dụng để dự đoán những xu hướng biến động trong tương lai Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho rằng khuynh hướng biến động của giá chứng khoán là không thể dự báo trước được, cũng giống như những bước đi của m ột người say rượu Lô gích này dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thị trường cổ phiếu là thị trường hiệu quả hoàn hảo, giá cả cổ phiếu phản ánh đầy đủ và công bằng m ọi nhân tố được biết đến làm cho việc dự đoán thị trường bằng các phân tích xu hướng giá cả trong quá khứ hoặc bảng cân đối tài sản là không thể thực hiện được Do đó, phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên cũng là m ột phương pháp tốt
để lựa chọn cổ phiếu nên đầu tư Tuy nhiên vì các nhà phân tích
kỹ thuật thường dự báo giá cả chứng khoán tương lai trên cơ sở phân tích quá khứ nên giá trị của lý thuyết bước đi ngẫu nhiên còn là sự tranh cãi
Trang 216.3 CÁC BIỂU ĐỒ VÀ MÔ HÌNH BIÊN ĐỘNG GIÁ CHÚNG KHOÁN
Mặc dù thị trường thay đổi hàng ngày nhưng giá cả cổ phiếu thường biến động theo một xu hướng nhất đinh Tăng khi thị trường giá lên hoặc giảm khi thị trường giá xuống Các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các kỹ thuật đổ thị để phân tích và tìm ra
mô hình xác định xu hướng cơ bản của thị trường, từ đó đưa ra quyết định mua hoặc bán chứng khoán thích hợp Họ lập đồ thị thể hiện xu hướng đi lên hoặc đi xuống của từng loại cổ phiếu.Đường xu hướng được hình thành bằng cách nối các mức giá cao nhất hoặc thấp nhất của chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định Góc nghiêng của đường nối này sẽ phản ánh xu hướng giá lên hoặc xuống
Đơỉĩ vị tính: nghìn đồng
215
Trang 22Khi giá chứng khoán vượt ra ngoài đường xu hướng, các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng m ột xu hướng mới có thể sẽ xuất hiện.
Nhìn chung có các mô hình biến động chính trong xu hướng biến động giá chứng khoán sau:
6.3.1 Mô hình chuyển động đảo chiều
Trạng thái đảo chiều báo hiệu đường xu hướng đi lên hoặc
đi xuống đang tạm dừng và giá cổ phiếu sẽ biến động theo chiều ngược lại Giữa hai xu hướng biến động này thường có
m ột khoảng thời gian thị trường ở trạng thái củng cố, ổn định
M ột trong những nhiệm vụ khó khăn của các nhà phân tích là nhận ra cấu trúc đảo chiều đích thực Cái khó ở đây là do xu hướng là sự tổng hợp của nhiều sự tăng giảm giá, hơn nữa sự tăng giảm giá đó xảy ra với những tỷ lệ khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau Do vậy, biểu đồ biến động giá cổ phiếu thực tế phức tạp hơn nhiều so với biểu đồ biến động tương đối
Do hình dáng hơi cong lên nên m ột trong những cấu trúc đảo chiều đơn giản nhất được gọi là dạng lòng chảo ngửa (đảo chiều của xu hướng đi xuống) hoặc dạng lòng chảo úp (đảo chiều của xu hướng đi lên) M ột cấu trúc đảo chiều thông dụng khác, nhưng khá phức tạp là cấu trúc đầu và hai vai, do có hình giống cơ thể con người
+ Định dạng đỉnh đầu và vai
Đỉnh đầu và vai được mô tả trong hình 1 gồm các giai đoan’
Trang 23- Giai đoạn tăng giá manh mẽ, khối lượng giao dịch lớn, tiếp đó là giai đoạn phản ứng ngắn ngủi (giảm giá) vói khối lượng giao dịch thấp hơn Cả giai đoạn này gọi là vai trái Đỉnh của vai trái là điểm A (hình 1)
B (Đỉnh)
- Vai phải với đỉnh tại điểm c xuất hiện, nhưng khối lượng giao dịch đã giảm đáng kể Đỉnh c thấp hơn đỉnh B của đầu
- Giá giảm ở giai đoạn ba sẽ cắt đường vai (đường thẳng đi qua hai đáy của hai vai) và tiếp tục giảm ở mức khoảng 3% so với đường vai Đây là giai đoạn xác nhận hoặc đảo chiều
217
Trang 24Mỗi đỉnh A, B, c , D đều là đặc trưng quan trọng của định hình đỉnh đầu và vai Thiếu bất kỳ m ột trong các nhân tố trên đều không thể gọi là đỉnh đầu và vai Đặc điểm của đỉnh đầu
và vai là khối lượng giao dịch của giai đoạn sau phải thấp hem giai đoạn trước
+ Đ ịnh dạng đáy đầu và vai
Đ ối xứng với định dạng đỉnh đầu và vai là định dạng đáy đầu và vai
M ột giai đoạn giảm giá, vói khối lượng giao dịch tăng lên, sau
đó là giá khôi phục lại trong thời gian ngắn ngủi với khối lượng giao dịch thấp hơn trước cả giai đoạn này được gọi là vai trái
- M ột giai đoạh giảm giá đạt đáy thấp hơn đáy vai ư ái khối lượng giao dịch tăng lên nhưng vẫn thấp hơn ở vai trái tiếp đó giá hồi phục đạt mức cao hơn đáy vai trái, với khối lượng giao dịch tăng lên đáng kể Cả giai đoạn này được gọi là đầu
Trang 25- Giai đoạn ba, giảm giá với khối lượng giao dịch thấp hơn, nhưng giá không thấp hơn đáy của đầu, tiếp đó giá khôi phục lại Cả giai đoạn này được gọi là vai phải Giai đoạn này giá tiếp tục tăng với khối lượng giao dịch đáng kể, đi qua đường vai và đạt giá trị bằng 3% giá tại đường vai và khối lượng giao dịch tăng đột ngột Đấy là điểm xác nhận hoặc đảo chiều.
Sự khác nhau giữa đỉnh đầu và vai và đáy đầu và vai là ở mức độ khối lượng giao dịch Các hoạt động giao dịch ở đáy đầu và vai có xu hướng tăng lên tính từ giai đoạn đầu Phải có
sự giao cắt giữa giá và đường vai có thể có giai đoạn xác nhận Cần chú ý rằng có thể tin vào dấu hiệu đảo chiều đối với đỉnh đầu và vai, nhưng phải thận trọng với trường hợp đáy đầu và vai trừ khi xác nhận khối lượng lớn giao dịch sau khi cắt đường vai Vì vậy, phải chờ đợi mới có thể kết luận dứt khoát về đảo chiều Một điểm nữa là đáy đầu và vai thường được hình thành trong thời gian dài và diễn biến giá bằng phẳng hơn
Sau khi quan sát đỉnh cao đầu và hai vai, các nhà phân tích
kỹ thuật có thể chỉ dẫn cho khách hàng của mình hoặc bán các
cổ phiếu mình đang nắm giữ để tránh những thua lỗ lớn hoặc kiếm lợi bằng cách bán khống các cổ phiếu
6.3.2 Mồ hình chuyển động tới mức chống đỡ và ủng hộ
Trong một thời gian, thị trường (hoặc một loại cổ phiếu) có khuynh hướng giao dịch trong phạm vi giá nào đó Một số trường hợp, có sự tăng đến một mức giá nhất định khi sức ép bán chứng khoán được đáp ứng Mức giá này được xem là khu vực của sự chống đỡ Giá quá cao sẽ dẫn đến việc dừng mua, các nhà phân tích sẽ miêu tả thị trường là bị “mua quá nhiều”
219
Trang 26Trong m ột số trường hợp khác, có sự giảm giá cổ phiếu đến một mức nhất định làm cho các nhà đầu tư bắt đầu mua cổ phiếu tại mức giá rẻ hấp dẫn này Sức m ua đã làm sự giảm giá dừng lại Trường hợp này được gọi là khu vực được ủng hộ Giá trở nên hết sức cám dỗ và vì thế là việc bán ra dừng lại và việc mua bắt đầu Các nhà phân tích m iêu tả trường hợp này là thị trường bị “ bán quá nhiều”
Biểu đồ dưới đây biểu diễn các vùng ủng hộ và chống đỡ
Mức A và B chỉ ra vùng chống đỡ, ở mức nàv áp lực của bán có xu hướng hạn chế sức tăng của thị trường (hoặc của chứng khoán) Trong m ột số trường hợp các nhà đầu tư cảm thấy rằng, việc m ua các cổ phiếu đã đẩy gịá lên quá cao và sẽ xem là mức giá bị m ua quá nhiều
Trang 27Mức c chỉ ra một vùng ủng hộ, ở mức này áp lực mua có khuynh hướng hạn chế sự giảm giá của thị trường (hoặc của chứng khoán) Trong một số trường hợp, các nhà đầu tư cho rằng việc bán vừa qua đã làm giảm giá thấp xuống một mức rất hấp dẫn và xem rằng mức giá đang ở thòi điểm bán quá nhiều.Trong biểu đồ trên chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones đạt mức chống đỡ vào khoảng 1580 (mức A) Sau khi ra khỏi vùng chống đỡ, thị trường tăng lên đến một mức chống đỡ khác tại khoảng 1860 (mức B) nơi việc bán đã làm cho thị trường giảm xuống mức ủng hộ vào khoảng 1740 (mửc C).
Sự phá vỡ xuất hiện khi giá của cổ phiếu tăng lên trên mức chống đỡ hoặc giảm xuống dưới mức ủng hộ Khi trường hợp này xảy ra, các nhà phân tích tin rằng giá cổ phiếu sẽ tiếp tục chiều hướng của mình
Sự phá vỡ trên vùng chống đỡ được xem là một dấu hiệu của tăng giá Để có thể thu được lợi nhuận từ trường hợp này, các nhà đầu tư có thể tham gia lệnh dừng để mua ở một giá hơi cao hơn mức chống đỡ một chút Khi giá cổ phiếu tăng lên trên vùng chống đỡ, lệnh mua này sẽ được thực hiện Các nhà đầu
tư sẽ thu được lợi nhuận khi cổ phiếu tiếp tục tăng giá Một sự lựa chọn khác cho các nhà đầu tư là mua các quyền lựa chọn mua đối với cổ phiếu một khi sự phá vỡ xảy ra
Sự phá vỡ dưới mức ủng hộ là một dấu hiệu giảm giá Các nhà đầu tư muốn bán khống tại giá dưới mức ủng hộ một chút Điều này có thể thực hiện được bằng cách tham gia các lệnh dừng để bán với mức giá ở dưới mức ủng hộ Một phương pháp khác là mua các quyền lựa chọn bán đối với các cổ phiếu này
221
Trang 286.3.3 Mô hình chuyển động tới mức hỗ trợ và kháng cự
6.3.3.1 Khái niệm hỗ trợ và kháng cự
Hỗ trợ và kháng cự là m ột tiếp cận khác về hành V I cua thị trường Nó cho phép đưa ra quy tắc lựa chọn cổ phiếu đê mua hoậc bán, trong việc đánh giá diễn biến giá cả cùa cổ phiêu và xác định vùng có vấn đề M ột số nhà phân tích đã xây dựng cho m ình m ột hệ thống riêng chỉ dựa vào khái niệm hỗ trợ và kháng cự m à không cần chú ý đến các định dạng giá cả và khổì lượng nêu trên
Hỗ trợ được hiểu như: M ột đám đông hỗ trợ cổ phiếu A tại giá 50, tức là sẵn sàng m ua tất cả các cổ phiếu A với giá thấp hơn 5 điểm so với 50 Hỗ trợ là việc m ua m ột khối lượng cổ phiếu đủ lớn để ngăn chặn xu hướng giảm giá trong m ột giai đoạn nào đó (hình 1.1) Kháng cự được hiểu là ngược lại với hỗ
Trang 29ượ: bán cổ phiếu với khối lượng đủ lớn để đáp ứng tất cả các khoản đặt mua và do đó ngăn chặn không cho giá tăng lên Như vậy, hỗ trợ và kháng cự gần như được hiểu là cầu và cung tương ứng.
Mức hỗ trợ là mức giá tại đó có đủ một khối lượng cầu mua
cổ phiếu để ngăn chặn xu hướng giảm giá hoặc có thể tăng giá Mức kháng cự là mức tại đó có đủ chứng khoán cung ra để ngăn chặn xu hướng tăng giá Do vậy, vùng hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu và vùng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung
Cơ sở của dự đoán từ lý thuyết hỗ ượ và kháng cự là khối lượng giao dịch của một loại cổ phiếu có xu hướng trao tay nhau Vì bất kỳ mức giá nào mà tại đó có khối lượng lớn giao dịch xảy ra thường là điểm đo chiều của xu hướng (cấp một, cấp hai, cấp ba) vì vậy đảo chiều tại các mức giá đó luôn luôn
có thể xảy ra Tuy vậy, cũng cần phải chũ ý rằng các mức giá này thường xuyên thay đổi vai trò từ hỗ trợ sang kháng cự và ngược lại Một đỉnh, khi giá cổ phiếu đã vượt qua có thể trở thành vùng đáy của xu hướng đi xuống ở giai đoạn sau này và một đáy cũ, một khi giá đã tụt qua nó, có thể trở thành vùng của giai đoạn tăng giá sau này
63.3.2 Giải thích
Giả sử giá tăng, đạt 55, 58, 60 Chủ sở hữu cổ phiếu cho rằng họ đã nhận định đúng, vì vậy vẫn chờ đợi Nhưng sau đó giai đoạn giá tăng chấm dứt và giá bắt đầu tụt xuống 57, 55,
52, 50 Chủ sở hữu sẽ lo lắng nhưng họ vẫn tin sẽ có cơ hội thu lãi Tại 50 giá bắt đầu chững lại một thời gian, sau đó giá giảm
223
Trang 30đột ngột Người ta vẫn hy vọng việc giảm đột ngột này chỉ là
sự điều chỉnh, nhưng hy vọng sẽ tiêu tan khi xu hướng biến động đi xuống vẫn tiếp tục Các chủ sở hữu cổ phiếu bắt đầu lo thực sự, khi giá tụt đến 45 thì không còn hy vọng thu lợi nhuận
Họ vẫn cho rằng phải kiên nhẫn chờ để giá quay trở lại 50 và tại đó họ sẽ rút lui khỏi thị trường
Ta xét trường hợp xu hướng đi lên: giá cổ phiếu đạt 12, sau
đó tăng 24 và do đó người sở hữu cổ phiếu bán ra để thu lợi nhuận Cổ phiếu phản ứng tụt xuống 21 và người đầu tư thấy
m ình đã gặp may Nhưng sau đó giá lại vượt lên 30 Người chủ
sở hữu trước đây cảm thấy bị hớ, do đó họ lại m uốn m ua lại cổ phiếu, nhưng họ sẽ không m ua với giá cao hơn 24 Đó là diễn biến chung của tâm lý thị trường
N hư vậy chúng ta có thể rút ra nguyên lý cơ bản mức hỗ trợ và kháng cự: sự cân bằng cung và cầu trên thị trường là vấn
đề tế nhị Chỉ cần có m ột mức cung dư thừa nhỏ là có thể kiềm
ch ế sự tăng giá và chỉ cần m ột mức cầu dư thừa là có thể kìm hãm sự giảm giá Tất cả các nhà giao dịch đều theo dõi sát sao thị trường và có thể nhận ra ngay m ột sự thay đổi của tình hình
và họ sẵn sàng tham gia vào thị trường khi sự thay đổi xu hướng xuất hiện Vì vậy chỉ cần thêm m ột ít các lệnh m ua hoặc lệnh bán cổ phiếu là có thể kéo theo sự chuyển giao hàng nghìn
cổ phiếu
Các nhà giao dịch và các nhà đầu tư khi họ tạo nén mức hỗ trợ hoặc kháng cự đều là những người có kinh nghiệm trong việc tham gia vào hoạt động thị trường V í dụ trên đã nêu ra những người m ua tại giá 50 chắc chắn là thông m inh hơn
Trang 31những ngưòi mua tại đỉnh (70) hoặc tại các điểm trong giai đoạn giảm giá xuống 50 Như vậy có thể nói rằng họ đánh giá tình hình sau này một cách thận trọng và khôn ngoan hơn những người bảo thủ quyết định ra khỏi cuộc chơi bằng cách bán ra khi thị trường đang hồi phục Tức là khi thị trường chuyển sang xu hướng giảm và họ đã mua cổ phiếu với giá cao thì nay họ chờ đợi cơ hội để bán ra với giá thấp hơn là mức kháng cự Những người thông minh sẵn sàng chịu hy sinh vài điểm để tránh rơi vào tình thế thua lỗ quá lớn.
6.3.3.3 Đánh giá cường độ của hỗ trợ và kháng cự
Nguyên lý đầu tiên là kháng cự trong giai đoạn tăng giá phải được đáp ứng tại mọi mức giá bởi số lượng cổ phiếu tổn đọng lần trước đó - Số cổ phiếu mua trước đó tại mức giá này
và người sở hữu chúng muốn bán hết ra để tránh bị lỗ Vì vậy, khối lượng cổ phiếu là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá sức mạnh của vùng kháng cự Tại một đáy mà chỉ có bốn, năm trăm cổ phiếu trao tay không thể làm mức kháng cự đối với đợt tăng giá sau này, nhưng nếu tại đáy mà có không khí bán cổ phiếu mức hàng nghìn sẽ tạo ra mức cung tiềm năng sau này, sau khi giá giảm dưới đáy trước và sau đó giá lại tăng để hòng vượt qua đáy trước đây
Tiêu chuẩn thứ hai là mức độ giảm giá sau đó, tức là giá phải tăng trong một khoảng bao nhiêu để đạt mức đáy cũ, là mức ta dự kiến đánh giá kháng cự Nếu khoảng cách càng lớn thì khả năng mức kháng cự càng nhiều Ví dụ cổ phiếu bán ra trong giai đoạn giảm giá từ 30 xuống 20, sau đó ngập ngừng tại 20 trong vài ngày, tăng lên 24 và sau đó giảm xuống 19
225
Trang 32Người đầu tư đã mua cổ phiếu giá 20 sẽ không lo lắng về tình hình này Nếu giá bắt đầu tãng từ 19 thì sẽ có m ột ít số người quan tâm đến việc bán ra tại 20 Nếu giá trị xuống 18 sau đó tăng trở lại thì có nhiều người hơn m uốn bán ra cổ phiếu tại giá
20 Còn nếu là tăng từ giá 17 thì 20 sẽ là mức kháng cự
Như vậy, không thể tìm được nhiều cổ phiếu bán ra (cung) tại đáy ở trong khoảng 20 đến 35 M ật khác, cần chú ý đến mức
độ giảm giá Nếu giá từ 20 đến 24 giảm xuống 12 thì không những các nhà đầu tư đã m ua vào với giá 20 sắn sàng bán ra với mức giá đó mà các nhà đầu tư đã m ua với giá 12 cũng sẵn sàng bán ra với giá 20 Nhưng nhà đầu tư nếu m ua cổ phiếu tại giá 18 thì không sẵn sàng bán ra với giá 20
Tiêu chuẩn thứ ba đánh giá cường độ của kháng cự tại một
đ á y trư ớ c đ â y là k h o ả n g th ờ i g ia n lâ u h a y n g ắ n tín h từ lúc xuất
hiện đáy này trở đi và bản chất của diễn biến thị trường sau đó.Nếu vùng kháng cự đã bị tấn công một lần và sau đó giá lại giảm thì cường độ kháng cự sau nàv sẽ vếu đi Vì một sỏ cổ phiếu tồn đọng trước đã bán ra, do đó đợt tấn côn 2 thứ hai sẽ
có ít cổ phiêu trong tay có thể tung ra để kháng cự lại xu hướng tăng giá
Như vậy, có ba tiêu chuẩn về cường độ kháng cự: khối lượng, khoảng cách và thời gian Tuv vậv, sự suy đoán của bản thân người đầu tư là nhân tô đặc biệt quan trọng
6 3 3 4 Đ á n h giá m ứ c g iá cụ t h ể
Trong thực té m ua bán chứng khoán, việc xác định chính
Trang 33xác vùng hỗ trợ và kháng cự không phải dễ dàng Vấn đề xét loại đồ thị có ích trong việc xác định mức hỗ trợ hoặc kháng
cự Đối với các diễn biến cấp ba thì đồ thị theo ngày là nguồn thông tin duy nhất và đồ thị theo ngày kéo dài trong một năm
sẽ có ích cho việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự của xu hướng cấp hai Tuy vậy, đồ thị theo ngày không cho một bức tranh toàn cảnh về triển vọng dài hạn để xác định mức hỗ trợ
và kháng cự của xu hướng cấp một và hai Đồ thị theo tuần, gồm mức giá và khối lượng giao dịch, kéo dài trong cả một thời
kỳ của thị trường con bò tót và thị trường con gấu là hữu ích đối với việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự
Nếu nói về xu hướng chung thì chúng là một cách biểu diễn lý tưởng của tất cả diễn biến thực tế cụ thể Nếu nó là xu hướng đi lên thì nó bao gồm các đợt lên xuống mà mỗi đợt mức lên lại cao hơn mức đi xuống trước đó Ví dụ, tăng đến 10, giảm xuống 6, tăng lên 15, giảm xuống 10, tăng lên 20 Vì vậy, việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự phải qua kinh nghiệm phân tích các biểu đồ cụ thể
Ó.3.3.5 Sự diên biến của một xu hướng
Giả sử cổ phiếu đang ở xu hướng thị trường con bò tót, tăng
từ 12 lên 24 và tại đó khối lượng bán ra khá lớn kết quả là xuất hiện phản ứng: có sự điều chỉnh xu hướng biến động cấp hai từ
24 xuống 18 hoặc một dãy các giao động nhỏ hình thành nên trạng thái điều chỉnh, từ 24 xuống 21 Tiếp theo sự điều chỉnh
là một giai đoạn tăng giá xuất hiện, đạt tới 30 trước khi vấp phải khối lượng cung cổ phiếu tập trung Vậy xuất hiện một
227
Trang 34đợt phản ứng mới hoặc là điều chỉnh cấp ba hoặc cấp hai Nếu vậy thì sau đó mức hỗ trợ tất nhiên là tại 24, là mức của đỉnh lần đầu Như vậy, trước đó đỉnh này làm chức năng kháng cự
và nay làm chức năng hỗ trợ
Giả sử có xu hướng biến động cấp m ột giảm giá Ví dụ đỉnh của xu hướng cấp m ột gim từ 70 xuống 50 Tại 50 xuất hiện không khí bán tạm thòi cổ phiếu Tại 50 có khối lượng lớn
cổ phiếu được giao dịch, tiếp đó giá tăng đến 60 Tại 60 nhu cầu m ua cổ phiếu chấm dứt, giá giảm và khối lượng giao dịch tăng tại 42 M ột làn sóng m ua xuất hiện và sự hồi phục đợt hai xuất hiện, giá đạt mức 50 Mức giá làm chức năng hỗ trợ ở giai đoạn một của xu hướng cấp m ột giảm giá bây giờ chuyển sang làm vai trò kháng cự ở giai đoạn hồi phục thứ hai
Trang 35Chương 7 QUYẾT ĐỊNH VÀ CHIÊN LƯỢC c ơ BẢN
TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
7.1 QUYẾT ĐỊNH PHÂN B ổ V ốN
7.1.1 Khái niệm
Với số vốn nhất định, việc lựa chọn phân bổ số vốn đó vào các tài sản tài chính như thế nào để đạt mục tiêu đầu tư là một quyết định khó khăn và phức tạp của nhà đầu tư Quyết định phân bổ vốn là quyết định của nhà đầu tư trong việc phân chia
số vốn của mình vào các nhóm tài sản khác nhau nhằm đạt được mục tiêu đầu tư
Nhóm tài sản được hiểu là một tập hợp các tài sản có các đặc tính tương đồng về thu nhập, rủi ro và các đặc tính khác của chứng khoán Ví dụ: trái phiếu có thể chia thành các nhóm: trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty
Quyếĩ định phân bổ vốn không phải là một quyết định độc lập mà nó gắn liền với quá trình quản lý danh mục đầu tư Bước đầu tiên của quá trình quản lý danh mục đầu tư là xây dựng bản chính sách khung (Policy Statement) - bản này được dựa trên mục tiêu, chiến lược và khả năng của nhà đầu tư và là tài liệu chi phối chủ yếu đến quyết định phân bổ vốn của nhà đầu tư
7.1.2 Vai trò của quyết định phân bổ vốn.
Trước khi thực hiện đầu tư, nhà đầu tư sẽ xây dựng bản
229
Trang 36chính sách khung cho riêng m ình để xác định chiến lược đầu
tư tổng thể M ặc dù bản chính sách khung không chỉ rõ sẽ đầu
tư vào những chứng khoán cụ thể nào nhưng nó đưa ra định hướng cơ bản về các nhóm tài sản sẽ đầu tư và tỷ trọng tương đối vốn được phân bổ cho các nhóm tài sản đó
N hà đầu tư xây dựng được m ột chính sách khung tốt là một chính sách khung xác định được cấu trúc cơ bản của danh mục đầu tư phù hợp với điều kiện của cá nhân nhà đầu tư, họ sẽ thực hiện được quyết định phân bổ tài sản hợp lý và đạt được mục tiêu đầu tư
Trên cơ sở chính sách khung đã có, nhà đầu tư đưa ra quyết định phân bổ vốn để hình thành nên danh m ục đầu tư phù hợp, quyết định phân bổ vốn sẽ quyết định đến thu nhập và rủi ro của cả danh m ục đầu tư Do đó là quyết định đầu tiên và đóng vai trò then chốt đối với hiệu quả của cả quá trình đầu tư
7.1.3 Các nhản tô ảnh hưởng đến quyết định phàn bổ vốn.
Q uyết định phân bổ vốn chịu tác động của nhiều nhân tố Bao gồm các nhân tố chính sau:
+ Các nhân tố tk u ộ c vê cá nhân nhà đầu tư:
Các nhân tố thuộc về cá nhân nhà đầu tư ảnh hường lớn đến quyêt định phân bổ vốn vì mỗi nhà đầu tư cá nhân khác nhau có mục tiêu và khả nãng khác nhau khi thực hiện đầu tư Tuỳ vào từng đối tượng nhà đầu tư, mục tiêu, khả năng tài chính và những hạn chê bản thân, quyết định phân bổ vốn của họ là hoàn toàn khác nhau Thông thường các nhân tố thuộc về cá nhân nhà đầu
tư có tác động mạnh đên quyết định phân bổ vốn bao gồm:
Trang 37- Tình trạng bảo hiểm: Bảo hiểm là một bộ phận cấu thành
trong kế hoạch tài chính của một cá nhân Bảo hiểm sẽ bảo vệ nhà đầu tư khi có các cú sốc về tài chính hay có rủi ro xảy ra trước khi đạt được mục tiêu đầu tư Vì vậy, việc lựa chọn mua các hợp đồng bảo hiểm được coi là bước đầu tiên trong kế hoạch tài chính của một cá nhân Một cá nhân có tình trạng bảo hiểm tốt do họ sở hữu các hợp đồng bảo hiểm sẽ là người ưa thích phân bổ vốn của mình vào các tài sản có rủi ro cao nhưng lại làm nguồn vốn của nhà đầu tư bị chia sẻ một phần không nhỏ cho các hợp đổng bảo hiểm
- Khả nâng dự trữ tiền mặt: Trong cuộc sống hàng ngày có
nhiều tình huống bất ngờ có thể xảy ra ngoài dự kiến như mất việc làm, ốm đau, thậm chí là một cơ hội đầu tư tốt đột ngột xuất hiện nhu cầu tiền mặt do đó luôn tồn tại Nhà đầu tư coi
dự trữ tiền mặt là “cái đệm” an toàn giúp họ thoả mãn các nhu cầu chi tiêu mà không làm phá vỡ các kế hoạch tài chính khi phát sinh các khoản chi đột xuất Vì vậy, trong kế hoạch đầu tư của mình, nhà đầu tư cần phải duy trì mức dự trữ tiền mặt đủ
để kế hoạch tài chính không bị phá vỡ Các nhà chuyên môn đã chỉ ra rằng, dự trữ tiền mặt của mỗi cá nhân phải duy trì tương đương với chi phí cuộc sống cho khoảng 6 tháng Tuy nhiên,
để duy trì lượng dự trữ này không nhất thiết nhà đầu tư phải nắm giữ tiền mặt mà họ có thể đầu tư vào các tài sản tài chính
có tính thanh khoản cao, khi cần sẽ có thể chuyển sang tiền mặt với chi phí thấp nhất và thời gian nhanh nhất Dự trữ tiền mặt tốt giúp nhà đầu tư yên tâm xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn và ra quyết định phân bổ vốn đúng đắn, phù hợp với nhu cầu cá nhân
231
Trang 38- Chu kỳ sống: Trong điều kiện bảo hiểm và dự trữ tiền mặi
được duy trì đảm bảo cho cuộc sống bình thường, các cá nhân sẽ lên k ế hoạch đầu tư cho số tiền tiết kiệm nhằm thu được lợi ích cao nhất Tuy nhiên trong chu kỳ sống của con người, mỗi lứa tuổi có khả năng chịu đựng rủi ro khác nhau, những người trẻ tuổi thường ưa thích mạo hiểm còn những người cao tuổi thường ưa thích các chứng khoán có mức độ an toàn cao Bẽn cạnh đó hành
vi của từng lứa tuổi chịu tác động nhiều của yếu tố tâm lý từ đó tác động mạnh đến mục tiêu đầu tư cách thức ra quyết định phân
bổ vốn Vì vậy, chiến lược đầu tư nói chung và quyết định phân
bổ vốn sẽ thay đổi theo chu kỳ sống của cá nhân
Thông thường chu kỳ sống của con người có thể chia làm
4 giai đoạn:
Giai đoạn tích luỹ (accum m ulation phase): đây là giai
đoạn được tính từ khi bắt đầu đi làm cho đến giữa tuổi làm việc Giai đoạn này cá nhân có nhu cầu tích luỹ cao Thông thường họ có các khoản nợ do m ua nhà, xe cộ do đó trong đầu tư họ sẵn sàng đầu tư vào các chứng khoán có rủi ro cao với hy vọng sẽ thu lợi nhuận cao
Giai đoạn củng cô (consolidation phase): đâv là giai đoạn
cuối của giai đoạn 1 cho đến hết tuổi làm việc Lúc này nhà đầu tư đã có tích luỹ và trả hầu hết các khoản nợ lớn, họ đầu tư
để tích luỹ cho tương lai Vì vậy, giai đoạn nàv nhà đầu tư có
xu hướng muốn bảo toàn sô vốn của m ình, không đầu tư vào tài sản quá rủi ro
Giai đoạn chi tiêu (spending phase): là giai đoạn được tính
Trang 39từ khi nghỉ hưu Giai đoạn này cuộc sống của họ đã được đảm bảo bằng các khoản thu nhập trong các giai đoạn trước và lương hưu Vì vậy giai đoạn này nhà đầu tư có xu hướng đầu
tư chủ yếu vào các tài sản rủi ro thấp hơn các tài sản được đầu
tư trong giai đoạn củng cố
Giai đoạn thu hồi ịgifting phase): Giai đoạn này có thể xảy
ra đồng thời với giai đoạn chi tiêu Giai đoạn này nhà đầu tư đã
có đủ thu nhập để trang trải các khoản chi tiêu và dự trữ cho các nhu cầu đột xuất Vì vậy giai đoạn này cũng giống như giai đoạn chi tiêu, nhà đầu tư chủ yếu đầu tư vào tài sản ít rủi ro
+ Các yếu tố cản trở đầu tư:
Trong đầu tư rất nhiều yếu tố có thể cản trở việc ra quyết định phân bổ vốn của nhà đầu tư Các yếu tố đó thường bao gồm:
- Nhu cầu thanh khoản: Khả năng thanh khoản của chứng
khoán là khả năng chuyển chứng khoán ra thành tiền mặt Khả năng thanh khoản của chứng khoán là một trong những yếu tố nhà đầu tư rất quan tâm xem xét khi xây dựng một danh mục đầu tư và quyết định phân bổ vốn bởi vì chi tiêu đột xuất có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, họ cần dành một tỷ lộ nhất định để đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản cao nhằm đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu đột xuất đó Hơn thế, nhìn chung các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao thường có chất lượng tốt
và góp phần làm giảm rủi ro của danh mục đầu tư Nhu cầu về tính thanh khoản càng lớn thì vốn sẽ được phân bổ một tỷ trọng càng cao cho các tài sản có tính thanh khoản cao
233
Trang 40- Giới hạn về thời gian: N hà đầu tư phải cân nhắc mục tiêu
đầu tư dài hạn với nhu cầu ngắn hạn Nhu cầu thanh khoản, khả năng quản lý rủi ro của danh m ục đầu tư và giới hạn về thời gian của nhà đầu tư có m ối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhà đầu
tư có thể đầu tư dài hạn là nhà đầu tư có nhu cầu về tính lỏng thấp và có khả năng chịu đựng được rủi ro lớn hơn vì họ không
có nhu cầu sử dụng số vốn đó trong m ột thời gian dài, đồng thời họ kỳ vọng rằng sự biến động giá, thua lỗ trong thời gian ngắn sẽ được bù đắp bởi thu nhập nhà đầu tư nhận được sau thời gian dài đầu tư Ngược lại nhà đầu tư ưa thích đầu tư ngắn hạn nếu họ có nhu cầu thanh khoản lớn và khả năng chịu đựng rủi ro thấp vì trong ngắn hạn có thể thua lỗ lốm do sự biến động của thị trường Thông thường những người có tuổi đời trẻ thường dành tỷ trọng vốn đầu tư vào các tài sản dài hạn hơn là những người già Tuỳ vào nhu cầu tính lỏng và khả năng chấp nhận rủi ro nhà đầu tư sẽ lựa chọn thời gian đầu tư phù hợp
- T h u ế thu nhập: T huế thu nhập từ đầu tư chứng khoán cao
hay thấp quyết định phần thu nhập từ đầu tư chứng khoán mà nhà đầu tư phải trích nộp cho N hà nước là lớn hay nhỏ Bởi vậy, thuế thu nhập từ đầu tư chứng khoán là m ột trong những vếu tố tác động trực tiếp đến thu nhập ròng của nhà đầu tư
Thông thường, để quyết định đầu tư bao nhiêu vốn và phân
bổ vốn như thế nào vào danh m ục đầu, nhà đầu tư phải đánhgiá các yếu tố:
+ Tỷ suất thuê cận biên: là tỷ lệ thuê phải nộp thêm cho nhà nước từ 1 đồng thu nhập tăng thêm