Các gen mục tiêu được quan tâm trong nghiên cứu ngô lai hiện nay chủ yếu là các gen kháng sâu hại, kháng bệnh, chông chịu vối điều kiện bất lợị của yếu tô' thòi tiết chịu hạn, chông đổ v
Trang 1Nguyên Hữu Hoàng - Lương Xuân Lầm
Nhã xuất bân Thòi dại
Trang 2KỸ THUẬT TR0N6 NGỜ CAO SÁN
Trang 4NGUYÊN HỬU HOÀNG - LƯƠNG XUÂN LÂM
K Ỹ T H U Ậ T T R Ồ N G
NGÔ CAO SẢN
NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI
Trang 6Ẩ lờ i n ói ctau
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của
xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, khai thác cây trồng vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu nhằm tạo ra lương thực thực phẩm cùng một số nguyên liệu cho công nghiệp Đây là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản.
Trong đó, trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp, cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân cư, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở
đ ể phát triển chăn nuôi và nguồn xuất khẩu có giá trị lớn Cây trồng được phân thành các nhóm: cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm Cây lương thực là nguồn chủ yếu cung cấp tinh bột, chất dinh dưỡng quan trọng trong cuộc sống, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm , đồng thời còn là hàng hoá xuất khẩu có giá trị Ngô củng là một trong những cây lương thực chủ đạo, không chỉ là nguồn thực phẩm bổ dưỡng cho con người, mà còn là thức ăn tốt cho gia súc, gia cầm Không những thế, nó còn là nguồn nguyên liệu quan trọng đ ể sản xuất xăng trên th ế giới Năng suất ngô ở nước ta hiện nay đã được nâng lên rất đáng k ể so với nhiều năm trước đây (chủ yếu nhờ áp dụng giống mới) Tuy nhiên, nó vẫn còn quá thấp so với tiềm năng của giống và điều kiện đất đai.
Nghiên cứu các giải pháp đ ể nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất ngô hiện nay và các cày trồng khác là
Trang 7vấn đề trách nhiệm của tất cả chúng ta Trong đó, đòi hỏi mỗi cán bộ nông nghiệp ở mỗi địa phương cần phải luôn luôn nghĩ và tìm ra câu trả lời làm th ế nào đê nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất ngô nói riêng và phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung Với mục đích trên, chúng tôi trân trọng giới thiệu đến quý độc giả cuốn sách: Kỹ th u ậ t trồ n g ngô cao sản Qua đẫy, bà con nông dân có thể tìm hiểu kỹ hơn về giống ngô cao sản, đặc biệt là các kỹ thuật chăm sóc và sản xuất nhiều giống ngô lai Bà con sẽ có thể biết được đâu là giống ngô phù hợp với điều kiện của khu vực mình, để có sự lựa chọn thích hợp, cùng việc áp dụng một số biện pháp chăm sóc, nuôi trồng cần thiết nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Hy vọng đây có thể là cuốn cẩm nang
về nông nghiệp cần thiết cho bà con nông dân trong quá trình lựa chọn và sản xuất giống ngô phù hợp.
Trong quá trình biên soạn cuôh sách, khó tránh khỏi thiếu sót nhất định, rất mong được bạn đọc đóng góp ý kiến đ ể cuốn sách hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau.
NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI
Trang 86 tỷ người và dự kiến sẽ vượt quá 12 tỷ ngưòi sau 50 năm tối Vì vậy, việc cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho nhân loại luôn là một vấn đề lố n ,trong hiện tại, cũng như trong tương lai.
Việc chuyển các gen có lợi vào cây trồng, hay vật nuôi nhằm tăng năng suất và chất lượng là một thành
Trang 9tựu vĩ đại của kỹ thuật di truyền (genetic engineering) Như chúng ta đã biết, gen là 1 đoạn của phân tử ADN mang thông tin mã hóa cho một sản phẩm xác định (sản phẩm đó có thể là chuỗi polipeptit hay ARN) Nó là đơn
vị cấu trúc và chức năng cơ bản của di truyền, một gen
mã hóa protein có cấu trúc điển hình gồm 3 vùng:
- Vùng điều hoà: Mang tín hiệu khởi động và kiểm soát quá trình phiên mã
- Vùng mã hóa: Bao gồm exon và intron Exon mang thông tin mã hóa các acid amin (a.a), intron không mang thông tin mã hóa a.a Gen có cả exon và intron gọi
là gen phân mảnh; gen chỉ có exon là gen không phân mảnh Gen không phân mảnh có ở nhân sơ; gen phân mảnh có ở nhân thực và vi khuẩn cổ (ít được đề cập đến) Các đoạn exon luôn mở đầu và kết thúc cho 1 gen
- Vùng kết thúc: Mang tín hiệu kết thúc phiên mã.Các gen mục tiêu được chuyển vào cây trồng bằngnhiều kỹ thuật khác nhau, có thể sử dụng các kỹ thuật
di truyền hiện đại như súng bắn gen, sử dụng vi khuẩn chuyển gen, dung hợp Vậy, gen mục tiêu là gì? Có thể khái quát chung, gen mục tiêu là những gen mà người nghiên cứu quan tâm hay gen cần triết tách, cần nhân lên, chuyển vào cây trồng Gen mục tiêu có thể có nguồn gốc tự nhiên, hoặc được tổng hợp nhân tạo Các gen mục tiêu được quan tâm trong nghiên cứu ngô lai hiện nay chủ yếu là các gen kháng sâu hại, kháng bệnh, chông chịu vối điều kiện bất lợị của yếu tô' thòi tiết (chịu hạn, chông đổ) và các gen có khả năng cải thiện chất lượng
h ạt của cây ngô lai Chúng ta biết, một tính trạng mà cây trồng thể hiện, có thể được mã hóa hoặc điều khiển
Trang 10bởi một gen hoặc một nhóm gen Ví dụ như, gen Bt giúp cây ngô có khả năng chống sâu hại Tính trạng chống chịu hạn được quy định bởi nhiều gen như: nhóm 11 QTL quy định tính trạng ra rễ và năng suất; nhóm 7 QLT quy định tính trạng và năng suất; nhóm 17 QLT quy định nồng độ ABA trong lá và năng suất ngô trong điều kiện hạn
- Các vấn đề về cải thiện giống ngô lai theo hướng chống chịu:
Ngô kháng sâu hại
Sâu hại hàng năm làm thiệt hại tới hàng tỷ đô la cho nền nông nghiệp trên toàn th ế giới Việc tìm và chọn, tạo ra các giống ngô có khả năng kháng sâu hại là yêu cầu hết sức quan trọng nhằm giảm thiệt hại về mặt kinh tế và hạn chế việc sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật gây hại cho môi trường Thế hệ đầu tiên của giống ngô Bt có chứa một gen lấy từ Bacillus thuringiensis (Bt) Đây là một loại vi khuẩn sống dưối đất, sản xuất ra một loại protein có thể tiêu diệt côn trùng có hại ở cây ngô Gen từ vi khuẩn Bt làm cho các
mô của ngô Bt giảm được tác động xấu của một số loài côn trùng Ví dụ như, sâu bore (một loài sâu hại thường trốn trong cuống ngô, khiến nông dân khó kiểm soát chúng bằng hoá chất) châu Âu và sâu bore vùng Tây Nam Tuy nhiên, Bt không làm hại đến các loài côn trùng hay nhiều loài khác Việc áp dụng kỹ th u ật này cũng cho phép nông dân hạn chê sử dụng các hình thức diệt côn trùng, từ đó góp phần bảo vệ môi trường
Giống ngô Bt đã hạn chế được những tổn hại do loài sâu bore châu Âu gây ra, bên cạnh đó, còn có sâu ăn rễ
Trang 11và các côn trùng tạo đỉều kiện cho nấm sản xuất độc tô" mycotoxin gây hại đến cây ngô Hiện nay, các giống ngô
Bt mới giúp tăng sản lượng ngô tại Mỹ mỗi năm lên 55 - 60% Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Lợi ích của giống ngô Bt đó là, khi bắp ngô bị gây hại ít hơn, cây ngô Bt cũng bị nhiễm nấm ít hơn, do đó, tỷ lệ của một sô" chất độc mycotoxin cũng thấp hơn
Hiện nay, các nhà nghiên cứu Monsanto đang hướng đến mục tiêu tăng khả năng kháng cự với côn trùng ỏ thê" hệ thứ hai của giông ngô Bt Trong khi chờ đợi để được xác nhận, các giông ngô mới vẫn tiếp tục được cấy ghép thêm gen nhằm tăng sức chông chịu đôi vói nhiều loại côn trùng có hại như loài sâu mùa thu - mối đe dọa đặc biệt ở miền Nam nước Mỹ, có liên quan đến độc tô" aAatoxin
Tại các địa điểm khác thuộc Mỹ và Achentina cũng cho thấy, mức độ ảnh hưởng của các côn trùng có hại khác đôi với cây ngô cũng thấp hơn Kết quả ban đầu này rấ t đáng khích lệ Trong tương lai, các nhà nghiên cứu dự kiến sẽ tìm kiếm những phương pháp làm giảm ảnh hưdng của các tác nhân môi trưòng, thúc đẩy tốc độ phát triển của nấm trên thực vật
Tuy nhiên, ngô Bt nói chung và cây trồng biến đổi gen đang là đề tài còn nhiều tranh cãi về việc sử dụng hay không sử dụng chúng trong sản xuất Bởi, chúng có thể sẽ là nguyên nhân chính dẫn đến sự mất cân bằng trong môi trường và làm thay đổi tự nhiên
Ngô chịu hạn
Theo sô" liệu điều tra, trên thê" giới hàng năm, hạn hán đã gây tổn th ất khoảng 8,8 triệú tấn ngô hạt ỏ vùng
Trang 12nhiệt đới thấp, khoảng 7,7 triệu tấn ỏ vùng cận nhiệt đới và khoảng 3,9 triệu tấn ỏ vùng núi cao Như vậy, th ế giới đã bị tổn th ấ t khoảng 20,4 triệu tấn do ngô gặp hạn, chiếm tới 17% tổng sản lượng.
Cây ngô có nhu cầu nưốc rấ t lớn Nhu cầu nước của cây ngô được tính toán dựa theo từng loại đất và khả năng giữ nưóc của đất Độ ẩm đất yêu cầu qua các giai đoạn sinh trưỏng, phát triển của ngô là 60 - 85% Cây ngô cần tưới nước khi độ ẩm xuống đến 30% vào thòi kỳ sinh trưởng, 70% vào thời kỳ kết h ạt thì đạt được năng suất cực đại
Theo nhiều kết quả nghiên cứu, vào giai đoạn trước
và sau trổ 2 tuần, lá ngô không được héo Cây ngô mẫn cảm với hạn: Khoảng 4 tuần trong thòi gian ngô trổ cờ, kết hạt, nếu vùng nào có lượng mưa <100mm thì coi là vùng không phù hợp với sản xuất ngô, >200mm được coi
là phù hợp cho hầu hết các giống ngô, từ 100 - 200m được coi là thiếu nưốc đôi vối sản xuất ngô
Đôi với cây ngô, khi gặp hạn, lượng acid ABA quá giới hạn, gây hiện tượng héo lá, đóng khí khổng và đẩy nhanh tốc độ già hóa Nếu hàm lượng ABA được truyền tới h ạt trong quá trình đẩy hạt, sẽ làm h ạt dễ bị lép.Ánh hưỏng của hạn đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây ngô: Hạn dẫn đến tình trạng đóng khí khổng, giảm quang hợp, làm cho tế bào ở đỉnh sinh trưởng không phân hóa, hoặc ảnh hưởng nặng tới quá trình phân hóa ngô và cờ, dẫn tới giảm năng suất Trong quá trình th ụ phấn - kết hạt, nếu thời tiết khô hạn, sẽ làm giảm sự vận chuyển của các chất đồng hóa
về cơ quan sinh trưởng, gây nên tình trạng chậm hoặc
Trang 13không phun râu được Nếu hạn xảy ra ở thòi kỳ trước trổ, tỷ lệ rễ/thân lá tăng lên, khi hạn nặng hơn thì tỷ lệ này giảm và giảm mạnh sự hấp thu dinh dưỡng từ đất Hạn từ 7 ngày trước trổ và 15 ngày sau thụ phấn sẽ làm giảm năng suất gấp 2 - 3 lần so với hạn ở các thòi kỳ sinh trưởng khác Thời kỳ cây ngô mẫn cảm nhất đốỉ với hạn được chỉ ra là từ 2 - 22 ngày sau khi phun râu, đỉnh cao là 7 ngày sau phun râu Khi đó, sô" lượng hạt giảm tới 45% so với khi tưói đầy đủ Một sô" người còn theo dõi được thiệt hại tới 90% năng suất và sô" ngô giảm tói 77% khi ngô gặp hạn vào thời kỳ từ chuẩn bị trổ cờ đến bắt đầu đẫy hạt.
Cơ sở di truyền của tính chịu hạn ở cây ngô và một sô" tính trạng gián tiếp được sử dụng trong nghiên cứu giông ngô chịu hạn: Có nhiều tính trạng gián tiếp nên
sử dụng trong quá trình chọn lọc ngô chịu hạn Trong
đó, một sô" tính trạng được coi là có tương quan chặt chẽ
về mặt di truyền cao là sô" ngô/cây, sô" hạt/bắp, khoảng cách chênh lệch giữa tung phấn và phun râu, sô" hạt/cây, cùng một sô" chỉ tiêu có độ tương quan vừa phải như độ bó tán lá, sô" nhánh cò, chiều cao cây, tỷ lệ cây con bị chết, tốc độ già của lá và độ héo của lá
Theo các nhà di truyền, tính chông chịu hạn được quy định bởi nhiều gen và họ đã tìm ra được một lượng lớn các locut gen (QTL) Ví dụ: 11QTL quy định tính trạng rễ và năng suất ngô trong điều kiện hạn thông qua thí nghiệm tổ hợp lai Lo964 X Lol016F3
Trong chọn giông ngô chịu hạn, các nhà khoa học đã coi các yếu tô' cấu thành năng suất là tính trạng trực tiếp, còn các tính trạng đóng góp vào việc cải thiện năng
Trang 14suất như diện tích lá, sô" lá, tốc độ dài lá được gọi là tính trạng gián tiếp Tính trạng gián tiếp có thể cải thiện độ chính xác của việc xác định vật liệu cho môi trường cần chọn; thể hiện được mức độ không thuận lợi
mà cây trồng đang gặp phải Tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng và ảnh hưỏng của nó, mức độ chống chịu hạn khác nhau, mà tiến hành nghiên cứu các tính trạng khác nhau như giai đoạn cây con trước trổ; m ật độ gieo trồng; tốc độ tăng trưởng của bộ rễ (tổng lượng chất khô, chiều dài và rộng của bộ rễ); tốc độ dài của lá; khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu Giai đoạn trổ cờ - kết hạt, các chỉ tiêu được nghiên cứu như: sự trùng khốp giữa tung phấn và phun râu; sô" ngô/cây; tuổi thọ của lá; mức độ héo của lá; diện tích lá tại đốt mang ngô; tỷ lệ hạt/bắp Ngoài ra, một sô" chỉ tiêu khác cũng được dùng
để đánh giá tính chịu hạn đó là nhiệt độ bề m ặt lá giảm khi hạn, tính kháng lại sự đóng khí khổng, hay hàm lượng ABA trong lá khi gặp hạn
Hiện nay, các nhà khoa học đã chọn tạo được một sô" giông ngô chịu hạn cho năng suất tương đôi cao như C919, DK414, DK171, C919 Tuy nhiên, năng suất của chúng vẫn chưa thực sự cao và ổn định, chưa tìm ra cụ thể gen chịu hạn của cây ngô
Ngô chống đổ
Cây ngô là cây có tính thích nghi cao, thưòng được trồng ở nhiều vùng, nhiều vụ trong năm, nên vấn đề đổ gẫy là khó tránh khỏi Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự đổ gẫy Những nguyên nhân chủ yếu
là do: mưa lớn và gió mạnh ồ giai đoạn vươn lóng, kỹ
th u ật canh tác, chăm sóc không hợp lý làm đứt rễ, cày
Trang 15bừa nông, đất chua, mặn làm bộ rễ kém phát triển, mật
độ trồng quá cao, cỏ dại phát triển mạnh, dẫn đến cây thiếu dinh dưõng, dễ gẫy đổ, bón thừa đạm, thiếu kali, sâu bệnh
- Theo các nhà nghiên cứu, hiện tượng đổ ở cây ngô gồm 3 loại:
+ Đổ cơ học: Là tác động của gió lên thân, lá của cây Đây là loại đổ phổ biến và được các nhà chọn giông quan tâm
+ Đổ sinh lý: Do áp lực của tế bào yếu, cấu trúc của thân, rễ kém phát triển
+ Đổ di truyền: Là đổ do bất cứ tác động nào cũng gây nên đổ
Với những phản ứng như chịu hạn, chua, mặn, chống rét, chống nóng cây trồng có thòi gian để có thể thích nghi Ngược lại, chống đổ thì chúng không có thời gian để kịp hình thành tính thích nghi Tính bển vững
của cây là đặc tính cố hữu, nó chịu được điều kiện môi
trường không thuận lợi do 2 cơ chế: Một là, do cây kìm hãm hay ngừng sinh trưởng khi có yếu tố bất lợi tác động một cách thụ động Hai là, tính bền vững được đảm bảo do cây có bộ máy hoá sinh chủ động, điều hoà trong điều kiện bất thuận
+ Mục tiêu trong việc chọn giông ngô chông đổ:
+ Khả năng chống chịu: Là mục tiêu quan trọng hơn
cả, các giông có khả năng chống chịu và thích ứng với từng điều kiện sinh thái khác nhau, thậm chí cả về mặt
di truyền và sinh lý Và những giông có khả năng chông chịu tốt là giống thích nghi nhanh với điều kiện môi trường luôn biến đổi, thấp cây, lá to, ngắn, thân cứng,
Trang 16khốỉ lượng th ân thấp, có sức sinh sản cao, kháng sâu bệnh, sống lâu, tỷ lệ chết thấp, khả năng duy trì được
nòi giống cao
+ Khả năng phục hồi của cây sau khi đổ: Cây trồng
có khả năng phục hồi sau khi bị đổ, gẫy, nhất là ỏ giai đoạn cây con Vấn đề này có thể giải thích trên quan điểm sinh lý học Tính dẻo và sự phục hồi còn có thể giải thích bằng khái niệm tái sinh của tế bào Sự tái sinh được chia làm 2 loại: tái sinh sinh lý và tái sinh bệnh lý Ngoài ra, cây trồng còn có thể tự vận động, định hướng như tính hướng quang
- Cơ sở di truyền của tính chông đô ỏ cây trồng:
Tính chông đổ của cây trồng là do nhiều loại gen quy định với nhiều yếu tô' tác động khác nhau như: tương tác gen với môi trường, tương quan giữa các dòng bô' mẹ
và tổ hợp lai Trong chọn giông, việc lựa chọn vật liệu ban đầu, trong điều kiện bất thuận phi sinh học đã tạo được các giông ngô có năng suất cao, thích hợp cho cả môi trường thuận lợi và b ất thuận Nếu chọn lọc trong điều kiện thuận lợi, thì các biến động di truyền đôi với điều kiện b ất thuận rấ t dễ bị mất
+ Phương pháp chọn lọc dòng chông đổ dựa vào chỉ sô' chọn lọc: Chỉ sô' chọn lọc (I) là phương tiện nâng cao khả năng chọn lọc những kiểu gen ưu tú của ngưòi chọn giông, dựa trên cơ sở nhiều tính trạng
Công thức: 1= b l p l + +bipi+bnpn
Trong đó, pi là đích, bi là cường độ tính trạng thứ i cần chọn
Các phương pháp chọn lọc chủ yếu bao gồm: Chọn lọc quần thể, chu kỳ thuận nghịch và chọn lọc gia đình
tự phôi
Trang 17+ Phương pháp đánh giá khả năng kết hợp tính chống đổ:
Khái niệm: Là một thuộc tính được chế định di truyền, truyền lại cho th ế hệ sau qua tự phôi và qua lai
Có 2 giá trị là khả năng kết hợp chung và khả năng kết hợp riêng, quan hệ giữa 2 giá trị này được thông qua tác động trội và ức chế
Có 2 hệ thống lai thử để đánh giá khả năng kết hợp
là lai đỉnh và lai diallel
+ Phương pháp xác định khả năng kết hợp tính chông đổ:
+ Phương pháp lai đỉnh để đánh giá khả năng kết hợp chung: Là cho phép loại bỏ được ngay các dòng có khôi lượng quá lốn
+ Phương pháp lai luân phiên để đánh giá khả năng kết hợp riêng Có 4 kiểu lai diallel:
+ Kiểu 1: Sô" tổ hợp lai N = n2, theo hướng lai thuận, lai nghịch và tự phôi
+ Kiểu 2: Sô" tổ hợp lai N =, lai theo chiều thuận và
- Nghiên cứu tính chông đổ ở cây ngô:
Vật liệu ngô có tính chông đổ: Là các giông có thân cứng làm vật liệu di truyền để cải tạo tính chông đổ như dòng B14, B37, B72 và ngô răng ngựa
Trang 18+ Một sô' đặc tính được sử dụng trong nghiên cứu chọn v ật liệu chống đổ:
• Lực bẻ gẫy: Là chỉ sô' lực bẻ gẫy/khôì lượng cây và ngô
• Chông chịu lực nhổ: Là đánh giá toàn bộ hệ thông
rễ khi kéo cây lên khỏi m ặt đất
• Sức chông chịu với lực uô'n cong: Là chỉ sô' của lực
bẻ gẫy/chiều cao cây và các chỉ sô' về tỷ lệ giữa các tính trạng, các chỉ sô' khác như nghiên cứu bó mạch, bề rộng của bó mạch, hàm lượng silic, tro, và hàm lượng celllulose
+ Tình hình nghiên cứu chông đổ ở ngô:
• Hiện nay, có một sô' dòng như DF1, cmL 161, cmL
165 tham gia vào các tổ hợp lai khả năng chông đổ tốt
Có thể sử dụng những nguồn gen chông đổ làm cây truyền gen, qua lai như DF1, DF10, 8 - 13 Nên trồng dày ở m ật độ cao từ 8 - 10 vạn cây/ha để làm cơ sở chọn lọc dòng chông đổ và nguồn chịu đổ trong chọn tạo giông ngô lai
Hiện nay, các công trình nghiên cứu sâu về tính chông đổ còn rấ t hạn chế Tuy nhiên, với phương pháp trực quan, các nhà chọn giông đã chọn lọc được những kết quả về tính chông đổ được khá cao và các giông được đưa vào sản xuất đều cho năng suất cao, chông đổ tô't, tính thích ứng rộng
2 Những đặc tính thích hợp với cây ngô và một s ố điều cần lưu ý
Thân cây ngô trông tương tự như thân cây của các loài tre, các khớp nôi (các mấu, hay mắt) có thể cách nhau khoảng 20 - 30cm Ngô có hình thái phát triển rấ t
Trang 19khác biệt: các lá hình mũi mác rộng bản, dài 50 - lOOcm
và rộng 5 - lOcm; thân cây thẳng, thông thường cao 2 - 3m, với nhiều mấu, các lá tỏa ra từ mỗi mấu cùng bẹ nhẵn dưói các lá này và ôm sát thân cây là các ngô Khi còn non, chúng dài ra khoảng 3cm mỗi ngày Từ các đốt
ở phía dưới sinh ra một sô" rễ
Những bắp ngô (bẹ ngô) là các cụm hoa cái hình bông, được bao bọc trong một sô" lớp lá, và được các lá này bao chặt vào thân đến mức chúng không lộ ra, cho đến khi xuất hiện các râu ngô màu hung vàng từ vòng
lá vào cuốỉ của bắp ngô Râu ngô là các núm nhụy thuôn dài, trông giông như một búi tóc, ban đầu màu xanh lục
và sau đó chuyển dần sang màu hung đỏ, hay hung vàng Khi được gieo trồng để làm cỏ ủ chua cho gia súc, thì người ta gieo hạt dầy đặc hơn, và thu hoạch khi cây ngô bắt đầu xuất hiện các ngô non Do vậy, tỷ lệ ngô là thấp Một vài giông ngô cũng được tạo ra với tỷ lệ ngô non cao hơn, nhằm mục đích tạo nguồn cung cấp các loại ngô bao tử, được sử dụng trong ẩm thực của một sô" quốc gia tại châu Á
Ngô là loại thực vật cần thời gian ban đêm dài, và ra hoa, khi nhiệt độ tăng trưởng nhất định > 10 °c (50°F), trong môi trường mà nó thích nghi Biên độ ảnh hưỏng của thời gian ban đêm dài đôi vói sô" ngày cần phải có để ngô ra hoa được quy định theo di truyền và được điều chỉnh bỏi hệ thông sắc tô" thực vật Tính chu kỳ theo ánh sáng có thể bị sai lệch ở các giông cây trồng trong khu vực nhiệt đới, nơi mà thời gian ban ngày kéo dài làm cho cây sẽ phát triển cao và chúng không đủ thời gian để ra hoa, tạo hạt trước khi bị chết vì sương giá
Trang 20Tuy nhiên, đặc tính này là hữu ích khi sử dụng ngô làm nguồn cung cấp nhiên liệu sinh học.
Trên đỉnh của thân cây là cụm hoa đuôi sóc hình chùy, chứa các hoa đực, được gọi cò ngô Mỗi râu ngô đều có thể được thụ phấn để tạo ra một h ạt ngô trên ngô Các bắp ngô non có thể dùng làm rau ản với toàn
bộ lõi và râu, nhưng khi ngô đã già (thường là vài tháng sau khi trổ hoa) thì lõi ngô trỏ nên cứng và râu thì khô
đi, nên không ăn được Vào cuối mỗi vụ mùa, các h ạt ngô cũng khô và cứng, rấ t khó ăn, nếu không được làm mềm bằng cách luộc Các kỹ thuật hiện đại trong trồng trọt tại các nước phát triển, thông thường dựa trên việc gieo h ạt dày hơn
H ạt ngô là các dạng quả thóc vói vỏ quả hợp nhất với lớp áo hạt, là kiểu quả thông thường ở họ hòa thảo (poaceae) Nó gần giống như một loại quả phức về cấu trúc, ngoại trừ một điều là các quả riêng biệt (hạt ngô), không bao giờ hợp nhất thành một khối duy nhất Các hạt ngô có kích thước cỡ h ạt đậu Hà Lan, và bám chặt thành nhiều hàng tương đốỉ đều, xung quanh một lõi trắng để tạo ra bắp ngô Mỗi bắp ngô dài khoảng 10 - 25cm, chứa khoảng 200 - 400 hạt Hạt ngô có màu như ánh đen, xám xanh, đỏ, trắng và vàng Khi được nghiền thành bột, ngô tạo ra nhiều bột và ít cám hơn so vói lúa
mỳ Tuy nhiên, nó không có gluten như ỏ lúa mỳ và như thế, sẽ làm cho thức ăn ở dạng nướng có độ trương nỏ nhỏ hơn
3 Các giống tổng hợp tại sao lại có thể trồng liên tục?
Diện tích gieo trồng ngô lai trên nước ta chiếm khoảng trên 80% tổng diện tích Chỉ còn một vài nơi,
Trang 21chủ yếu là vùng núi vẫn còn áp dụng phương pháp sản xuất giống tại gia đình, hoặc thông qua cải tạo giông tổng hợp Giống ngô lai về cơ bản là giống đã được tiến hành lai đơn Lai đơn là phương pháp cho hai cây ngô tự thụ phấn hợp thành Nhưng, không phải cứ lấy hai cây ngô bất kỳ cho thụ phấn mà thành ngô lai Chỉ có những cây tốt mới được chọn, và còn phải trải qua trình
tự chọn lọc, kiểm tra nhất định mối được đưa vào sản xuất Giống ngô lai chỉ thể hiện được ưu th ế lai trong đời đầu tiên, biểu hiện ở năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Hạt giông được sinh ra từ giông lai đời đầu tiên gọi là giống lai đòi 2, sau này còn gọi là giống hậu lai
Giống hậu lai khi được đưa vào sản xuất, thể hiện rõ
sự không hoàn chỉnh, trong di truyền xảy ra hiện tượng phân ly, làm giảm năng suất rõ rệt Năng suất giảm nhiều, hay ít còn tùy thuộc vào các loại ngô lai không giống nhau Trong đó, biên độ giảm sản lượng của giống ngô lai đơn là cao nhất, sản lượng đòi 2 chỉ bằng 57,9% sản lượng đời đầu Tiếp đó, ngô lai kép và lai tự nhiên, sản lượng đời 2 chỉ đạt 86 - 86,8% Ngô lai đời 2 có biên
độ giảm nhỏ nhất, thì sản lượng đòi 2 cũng chỉ bằng 89% sản lượng đời đầu Điều đó cho thấy, ưu th ế của giông lai là rấ t lớn, nhưng đến đòi 2 lại hoàn toàn mất
ưu thế, sản lượng giảm đi rõ rệt Có một sô" người thiếu kiến thức chọn giống, mua giống ở các công ty giống cây trồng về, thấy giống sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, vậy là để lại h ạt giông sang vụ sau sử dụng, gây ra thiệt hại về kinh tế Lại có những người không đủ giông lai cho gieo trồng, liền dùng thêm giống hậu lai, đặc biệt là
Trang 22giống lai đơn, làm cho sản lượng giảm đi gần một nửa, gây tổn th ấ t nặng nề về kinh tế.
Giông tổng hợp là loại giông sau khi được chọn
từ nhiều loại giống tốt khác nhau, trải qua nhiều lần kết hợp đều đặn, lại được cải tiến và lựa chọn kỹ càng, loại giống này có thể dùng liên tiếp nhiều đời
Qua giới thiệu có thể nhận thấy, những loại giống tổng hợp có các đặc điểm như: Một là, được lựa chọn
và lai tạo từ nhiều loại giống ưu tú khác nhau Hai là, trong quá trình lai tạo, cho dù có sử dụng các phương pháp khác nhau, nhưng đều cần đảm bảo thực hiện trong điều kiện cách ly và cho thụ phấn tự do, làm cho giống lai duy trì được ưu th ế và sự cân bằng của giống qua nhiều đòi
So sánh với lai đơn, lai tổng hợp có cơ sở di truyền khá ổn định, có khả năng thích ứng cao Đặc biệt tại vùng núi, một sô" giống lai tổng hợp ưu tú thể hiện được khả năng chống hạn tốt, sống tốt trong những điều kiện khó khăn, vượt hẳn giống lai đơn Từ đặc điểm này, chúng ta có thể hiểu tại sao giống lai tổng hợp lại có thể
sử dụng liên tiếp trong nhiều đời
Giống tổng hợp trong quá trình gieo trồng liên tiếp trong nhiều đòi, có thể duy trì được đặc tính ưu việt Nhưng, trong quá trình sản xuất, mỗi người lại
có những cách làm không giống nhau Ví dụ, một loại giống tổng hợp lại trồng cạnh một giống ngô lai khác, thì phấn hoa của chúng sẽ thụ phấn qua lại tự nhiên Nếu như màu sắc h ạt của hai loại là như nhau, thì sẽ không xuất hiện dấu hiệu gì tại đòi lai đó Nhưng nếu như h ạ t của giống tổng hợp là màu trắng, hạt của giống
Trang 23khác là màu vàng, thì trên ngô của giống ngô tổng hợp
sẽ xuất hiện những hạt màu vàng Đó nhất định là do cây đã thụ phấn của giống có hạt màu vàng Do đó, trong quá trình mở rộng giống tổng hợp và muốn giữ lại giống cho vụ sau, phải lựa chọn ruộng trồng đảm bảo cự
ly thích hợp, để đảm bảo duy trì được đặc tính của giống Những cây trồng làm giống cần chú ý trước khi trổ cờ, cần nhổ bỏ những cây yếu, cây mắc sâu bệnh, để đảm bảo chất lượng hạt giống
4 Xác định tính thuẩn chủng của các giống lai
Diện tích trồng ngô lai tại nước ta đạt trên 16 triệu
ha Theo tính toán, mỗi 667m2 cần 2,5kg hạt giống, mỗi năm sẽ cần 600.000 tấn ngô giống Nếu mỗi 667m2 ruộng ngô giông, cho sản lượng 200kg, thì mỗi năm, cả nưốc sẽ cần ít nhất 20ha diện tích trồng ngô giống Sản xuất một lượng giông lốn như vậy, không chỉ tồn tại hàng loạt các vấn đề về kỹ thuật, mà còn kéo theo hàng loạt các vấn đề như tiêu thụ, tiền vốn, bảo quản Trong những năm gần đây, chúng ta vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa chất lượng và sô" lượng ngô giông Về chất lượng giôhg, nếu tỷ lệ nảy mầm thấp, thì
nh ất định phải tăng thêm lượng hạt gieo trồng, làm tăng giá thành sản xuất, hoặc ảnh hưởng đến sản lượng sau này
Nếu như giống bị lai tạp, không hợp tiêu chuẩn, thì khó có thể phát huy tiềm năng của giông lai Giôhg bị lai tạp, thông thường sẽ làm giảm 10 - 20% năng suất, điều này càng thể hiện rõ ở những cây thụ phấn tự do Nhò giống lai tạp giảm đi, làm cho thời gian sử dụng
Trang 24của cầc giống ưu tú được rú t ngắn lại, ngược lại, sẽ làm tăng gánh nặng cho các đơn vị sản xuất, sả n xuất ngô
giống một cách có kế hoạch là vấn đề quan trọng để đảm
bảo sản xuất Ổn định Tình hình sản xuất ngô giống trong những năm gần đây luôn trong tình trạng năm thừa, năm thiếu, ảnh hưỏng rấ t lớn đến sản xuất và kinh doanh Trong những nàm thừa giông, thì tích trữ, bảo quản giống cũng gặp phải khó khăn về tiền vốn và nhà kho bảo quản Còn trong những năm thiếu giống, thì giá cả lại rấ t cao và làm cho một sô" lượng giống kém chất lượng len lỏi vào thị trường, gây ra thiệt hại nặng
nề cho người sản xuất Do vậy, sản xuất giống ngô lai là một khâu rấ t quan trọng trong quá trình sản xuất ngô nói chung
Các giôhg ngô lai
- Lai đơn:
Là giống lai được chọn cho thụ phấn tự nhiên, giữa hai giống ngô ưu tú đã được lựa chọn Trước khi ra hoa, cần nhổ bỏ hết cờ trên cây mẹ Như vậy, để đảm bảo tấ t
cả những h ạt được thụ phấn đều là từ phấn hoa của cây bô" H ạt giông thu được từ cây mẹ chính là giông lai dùng để đưa vào sản xuất Trong sản xuất giông, người
ta thường lấy tên gọi là giông lai đơn sô" cụ thể, hay cũng có thể lấy tên đơn vị, hay tỉnh, thành phô" nơi giông được sản xuất ra Tuy nhiên, không phải tấ t cả các giông lai đơn đều có thể phân biệt được qua tên gọi,
m ặt chữ
Hình thái gen di truyền của quần thể giông lai đơn đời
1 rất ổn định và thông nhất Khi sinh trưỏng và phát triển, cây có biểụ hiện rất đồng đều, chiều cao cây, chiều cao đóng
Trang 25ngô, cũng như mức độ to nhỏ của ngô là như nhau Một giông ngô lai đơn tốt, thì ưu thế lai có biểu hiện vượt trội hơn hẳn các giông lai khác Một sô" loại ngô cao sản điển hình đều nhờ qua phương pháp lai đơn Nhưng thông thường, lai đơn lại có yêu cầu khá cao về điều kiện phân bón và nước tưới, tại những vùng núi khô hạn, thì giống ngô này khó phát huy được hết ưu thế của mình.
- Laỉ 3:
Là giống lai được kết hợp từ một giống lai đơn, và một giông lai tự nhiên Khi sản xuất giống lấy cây lai đơn là cây mẹ, cây lai tự nhiên làm cây bố Vì khi dùng cây lai đơn làm cây mẹ, sẽ cho sô" lượng hạt giông nhiều, giúp giảm giá thành sản xuất Mức độ ổn định và đồng đều của giông lai 3 không bằng giông lai đơn, nhưng một giông lai 3 ưu tú có khả năng thích ứng tô"t hơn giống lai đơn, đồng thời cũng cho sản lượng cao hơn Do trình độ sản xuất ngô giông của nưốc ta trong những năm gần đây không ngừng được nâng cao, nhưng người sản xuất chủ yếu lại lựa chọn giông lai đơn, nên diện tích trồng giông lai 3 không nhiều
Trang 26Bên trên đã giới thiệu 3 loại hình lai giốhg cơ bản, chúng ta vẫn thưòng hay gọi là phương pháp tự phôi
và chọn lọc gia hệ Trong những năm gần đây, nhằm nâng cao sản lượng, người ta đã áp dụng một phương pháp mói, gọi là giống lai đơn chị em Trình tự sản xuất giốhg ngô này cũng giống như lai 3, tức lạ dùng hai cây
có quan hệ họ hàng gần với nhau, Hai cây này có nguồn gen cơ sở giống nhau, và sự khác biệt giữa chúng là rất
ít Do vậy, đòi lai sau sẽ có nhưng ưu th ế nh ất định Khi sản xuất giống, trước tiên cho hai cây chị em lai với nhau, tạo thành cây mẹ, sau đó cho lai vối một cây lai
tự nhiên làm cây bố Do cây mẹ được lai từ hai cây chị
em nên cây lai có được ưu th ế lai nh ất định, giúp tăng sản lượng và giữ được đặc tính của giống lai ban đầu Thực tế đã chứng minh, một giống lai chị em tốt, có thể làm tăng hơn 20% năng suất Điều này, không chỉ làm giảm giá thành sản xuất, mà còn giúp giải quyết vấn đề
giống năng suất thấp tại một số vùng bấy lâu nay Các
tỉnh phía Nam trước đây, do nguyên nhân khí hậu, nên sản lượng ngô rấ t thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Đương nhiên, phương pháp này khi sản xuất giống, trình tự tiến hành nhiều hơn lai đơn 1 bước, nhưng hiệu quả mà nó đem lại là rấ t lón
Sản xuất giống lai
Kết hợp các loại giống để tạo ra giống lai, cần thực hiện trong những điều kiện nh ất đỉnh Đầu tiên, phải xây dựng một kê hoạch sản xuất, căn cứ vào loại hình giống cần sản xuất và sản lượng giống đặt ra mà xác định sô' lượng, diện tích và phương thức cách ly của vùng trồng ngô giống Ngô là loài thụ phấn chéo, thụ
Trang 27phấn chủ yếu nhò vào gió, ong, hay một sô" côn trùng khác cũng có thể giúp thụ phấn cho ngô Do vậy, ruộng trồng phải nằm trong khu cách ly, đảm bảo trong chu vi 500m không trồng một loại ngô nào khác, để tránh cây giôĩig không thụ phấn của loài khác Đây là phương thức chủ yếu thường dùng khi sản xuất ngô giông, gọi là phương thức cách ly không gian Còn có phương pháp khác là cách ly thời gian, làm cho thời gian trổ cò của các giống khác xung quanh chênh lệch so vối giống trong khu cách ly Ngoài ra, còn có phương pháp cách ly bằng việc che chắn tự nhiên Trong hoàn cảnh bình thường, sản xuất một loại giống cần một khu cách ly, nhưng cũng có một vài loại giống có cây bô" giông nhau, cây mẹ khác nhau, lại được sản xuất trong cùng một khu cách ly, đây gọi là phốĩ hợp lai một bô" nhiều mẹ Xét một cách tổng thể, khi sản xuất một loại giông lai, không phải chỉ được thực hiện trọn vẹn trong một khu cách ly.
Sau khi đã lựa chọn được khu cách ly, cần gieo giông theo những quy tắc và thời gian nhất định Cách làm thông thường là, cây bô" mẹ được trồng xen kẽ nhau, tỷ
lệ của cây bô" mẹ thê" nào, lại tùy thuộc vào đặc tính của từng loài Khi sản xuất giông ngô lai đơn, thường trồng hai hàng cây mẹ, một hàng cây bô" để đảm bảo đủ sô" lượng phấn hoa thụ phấn cho cây mẹ Nếu sô" lượng phấn hoa nhiều, thòi gian phát tán dài, thì có thể tăng
tỷ lệ cây mẹ, có thể là 5:1 hoặc 4:1, thậm chí có thể đến 6:1, hoặc 8:1 Mục đích là để nâng cao sô" lượng hạt giông, bởi vì, giông lai thu hoạch được chính là từ ngô của cây mẹ Tỷ lệ các hàng nhất định phải tuân theo
Trang 28tình hình thực tế và kết quả thử nghiệm để tiến hành Nếu như cây mẹ có thân cao, cây bô" thân thấp, thì tỷ lệ cây mẹ không được chiếm quá nhiều Thòi gian gieo trồng cây bô" mẹ cũng là một trong những điều kiện quan trọng quyết định sự thành bại của giông lai Quan trọng nhất là, làm cho thòi kỳ ra hoa của cây bô" mẹ trùng nhau Nếu hai cây có thời gian sinh trưởng giông nhau, hoặc chênh lệch nhau 2 - 3 ngày, thì chúng ta vẫn
có thể gieo trồng cùng một thời điểm, tránh tình trạng cây bô" mẹ có thời gian sinh trưởng chênh lệch quá nhiều, như vậy sẽ gây khó khăn cho sản xuất Đặc biệt, những vùng không có điều kiện về nước tưới, hoặc do tình trạng đất trồng không tô"t mà ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm
Khi sản xuất, cần tuân th ủ điều kiện như sau: c ầ n loại bỏ những cây lai tạp và kịp thòi nhổ bỏ hết cò trên cây mẹ Căn cứ vào đặc trưng, đặc tính của thời kỳ nảy mầm và thời kỳ trước khi trổ, cờ thụ phấn của hai giông lai tự nhiên (giông lai đơn), để tiến hành nhổ bỏ những cây lai tạp ít nhất hai lần trưóc khi cây thụ phấn, nhằm đảm bảo chất lượng giông Thông thường, trước khi cây
mẹ trổ cờ, cần nhổ bỏ hết cờ ngay khi chúng lộ ra khoảng 1/2, phải nhổ hết và đem đi xử lý ở ngoài vùng cách ly, trán h tình trạng phấn hoa bị phân tán Do thời gian sinh trưởng nhanh, chậm của từng cây khác nhau, thòi gian trổ cò của cây mẹ cũng có sự chênh lệch Do vậy, ngày nào chúng ta cũng cần kiểm tra, nhổ bỏ cò một lần, nhất định không để phấn hoa của cây mẹ phân tán trong ruộng Trong những năm gần đây, đã có một vài đơn vị tiến hành thử nghiệm khi cây mẹ trổ cờ khỏi
Trang 29đầu ngô, thì nhổ bỏ một lần, như vậy, vừa tiết kiệm thời gian, vừa đạt được hiệu quả triệt để Kết quả thử nghiệm cho thấy, cách làm không hề ảnh hưởng đến năng suất giống Như vậy, đảm bảo toàn bộ hạt giống trên cây mẹ trong khu cách ly đều được thụ phấn từ cây bô', và trở thành giông lai.
X ử lý hạt giống
- Phơi nắng hoặc sấy khô:
Sau khi thu hoạch, cần nhặt bỏ những hạt lẫn, sau
đó đem phơi khô, làm cho lượng nước trong hạt giảm đến mức an toàn dưới 14% Hoặc, cũng có thể dùng các thiết bị kỹ thuật để sấy khô, nhiệt độ sấy dao động từ 38 - 40°, nhiệt độ phải cung cấp đều, sấy ngô trưốc, sau đó mói sấy hạt Trong điều kiện thích hợp, lượng nước có thể giảm xuống dưới 12%, thuận lợi cho cất trữ và vận chuyển, đồng thời, đảm bảo được tỷ lệ nảy mầm
+ Lựa chọn h ạt giống:
H ạt giông sau khi được làm khô, cần tiến hành lựa chọn để loại bỏ những hạt lai tạp, hạt lép, hạt nhỏ Nên dùng sàng để chọn lọc, ban đầu dùng sang dài, sau đó đến sàng thưa, cuối cùng là sang dầy, để lựa chọn các
h ạt có kích thưốc to, nhỏ như nhau Đặc biệt là, khi sử dụng một sô' máy móc tiên tiến để gieo hạt, thì kích thước hạt phải tương ứng vối kích thước của lỗ gieo hạt trong máy
+ Xử lý h ạt giông sau khi phơi:
H ạt giông sau khi được lựa chọn, cần được xử lý thích hợp Đưa vào hạt giông một sô' thành phần như chất diệt côn trùng, chất diệt nấm mô'c, và một
Trang 30lượng nhỏ phân hóa học, tác dụng nhằm chông lại các loại côn trùng có hại trong đất Hạt giống sau khi được
xử lý, làm h ạt nảy mầm đều, cây con khỏe, thông thường còn có thể làm tăng 5 - 10% năng xuất, đồng thòi, có thể tiết kiệm được 1/3 số lượng giống gieo Việc
xử lý hạt giống đã nhận được rất nhiều sự khen ngợi của bà con nông dân H ạt giống đã qua xử lý thường có màu sắc, thường là màu hồng, màu xanh lục hoặc màu xanh lam Trong vùng sản xuất h ạt giông, màu sắc của hạt được xử lý để làm cây bô" mẹ cũng có sự khác nhau, dễ dàng phân biệt Thuốc dùng để xử lý hạt giống
là có hại, nên khi gieo trồng, cần có các biện pháp bảo vệ tránh bị trúng độc H ạt không gieo hết, nhất định không được dùng làm thức ăn cho lợn, gà H ạt giống đã qua xử lý thì không nên tích trữ, mà chỉ nên xử lý theo sô" lượng bán ra, khi đã mua h ạt giông này thì nên sử dụng hết ngay trong vụ đó Tỷ lệ các thành phần trong chất xử lý hạt có thể tăng giảm theo yêu cầu của người dùng Ví dụ như, khi gieo trồng vụ xuân tại vùng núi khô hạn, thì có thể tăng thêm chất tích nưóc để giúp cho
h ạt giông nảy mầm bình thường, hay tại những vùng ngô mắc bệnh đen bắp, thì có thể thêm chất phòng chông căn bệnh này
- Đóng gói:
Hạt giống là một loại thương phẩm nông nghiệp đặc
biệt, dựa theo nhu cầu của thị trưòng mà có những cách đóng gói khác nhau Hiện nay, chủ yếu vẫn là đóng gói bằng túi đay, hoặc túi cói, đồng thòi, cũng b ắt đầu đóng gói bằng thùng giấy hoặc túi giấy dai Nhằm tạo thuận lợi cho người sử dụng, kích thước đóng gói to nhỏ cũng khác nhau Trên bao bì đóng gói, cần có nhãn mác của
Trang 31đơn vị sản xuất giông, kèm theo giấy chứng nhận hợp tiêu chuẩn chất lượng để người mua tham khảo, đồng thời cũng có lợi trong việc phòng tránh các loại giống giả mạo xâm nhập vào thị trường.
- Giám định mức độ thuần của giống lai:
Các nhân tô" ảnh hưởng đến độ thuần của giống ngô lai là rất nhiều, nên ngay từ ban đầu, cần làm tốt công tác bảo đảm độ thuần của cây lai tự nhiên Độ thuần của chúng phải đạt 100%, qua một lần gieo trồng trở thành giống lai tự nhiên Khi gieo trồng, có thể áp dụng phương pháp che chắn, hoặc lai chị em (cho thụ phấn chéo), hoặc cũng có thể trồng trong khu cách ly với điều kiện cách ly nghiêm ngặt Đồng thòi, cần nhổ bỏ hết những cây lai tạp và cây kém chất lượng trước khi cây thụ phấn Hạt giống sinh ra do thụ phấn tự do trong khu cách ly trở thành giống lai tự nhiên Quá trình từ lúc kết hợp các giốhg lai tự nhiên là rất quan trọng, và
là điều kiện tiên quyết đốĩ vối việc đảm bảo độ thuần của giông Một khi, giông đã bị lẫn, thì việc giữ độ thuần là rất khó khăn Cách tốt nhất, các đơn vị sản xuất giông phải đảm bảo được độ thuần của giống ngay
từ khâu sản xuất, như vậy mới có thể giữ được đặc tính của giông Nếu phải lựa chọn giông thuần trong những giông đã bị lẫn, thì cách làm thông thường là lựa chọn những ngô điển hình, dựa vào đậc tính của giống ngay khi giống mối nảy mầm, hay mối thành cây con để sàng lọc, loại bỏ Tiếp tục cho lai trong điều kiện che chắn vói những cây điển hình, sau khi thu hoạch, lại tiến hành sàng lọc Quy trình cứ tiếp tục thực hiện như vậy trong một vài đòi tiếp theo, thì chúng ta có thể lựa chọn được giống thuần để đưa vào sản xuấti'
Trang 32Bước thứ 2, để kiểm tra, giám định độ thuần của giông, cần tiến hành ngay tại ruộng giống Đầu tiên, cần kiểm tra khu cách ly xem điều kiện cách ly đã đảm bảo hay chưa, bao gồm cách ly không gian, thời gian và các phương thức cách ly khác Nếu điều kiện cách ly không an toàn, thì h ạt giống khi thu hoạch rấ t khó giữ được độ thuần Tiếp đó, kiểm tra tỷ lệ giống lẫn trong ruộng trồng Nếu tỷ lệ giống lẫn trong ruộng vượt quá tiêu chuẩn cho phép, thì cần nhổ bỏ trước khi cây thụ phấn, nếu không, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ thuần của giông, đặc biệt là cây tạp trong những cây bô' thì mức độ ảnh hưởng còn nghiêm trọng hơn.
Bưóc 3, kiểm tra tỷ lệ những cây mẹ không được nhổ
bỏ hết cờ, việc này phải tiến hành 2 - 3 lần trong thời gian cây ra hoa Bỏi, nếu cây mẹ không kịp thời nhổ bỏ hết cờ, sẽ làm cho phấn hoa phát tán trong ruộng trồng, ảnh hưởng đến chất lượng giông Cuốỉ cùng, kiểm tra tỷ
lệ đóng ngô chuẩn của cây bô' mẹ, tỷ lệ này không được thấp dưới 97 - 98%, nếu không thì hạt thu hoạch được không thể dùng làm ngô giống, mà chỉ có thể dùng làm ngô thương phẩm
H ạt giông sau khi được đưa ra thị trường, kết quả kiểm ngiệm độ thuần của giông thê' nào thì người tiêu dùng chỉ biết được thông qua sự giới thiệu của người bán, còn kết quả chính xác, thì chỉ có thể căn cứ vào tình hình sản xuất thực tế Giông có độ thuần cao, đặc biệt là giông lai đơn, thì cây sinh trưỏng đồng đều, mức
độ to, nhỏ của ngô bằng nhau và cho năng suất cao Nếu thấy một tỷ lệ nh ất định những cây cho ngô nhỏ, rấ t có thể trong quá trình gieo trồng, đã không nhổ bỏ hết cờ
Trang 33trên cây mẹ, làm cho hạt giống tiếp nhận phấn hoa từ chính cây đó Những cây như vậy được gọi là cây tự thụ phấn, chứ không phải là giông lai, điều này tấ t yếu sẽ ảnh hưởng rấ t lớn đến năng suất Nếu ruộng trồng sinh trưởng không đồng đều, thì rất có thể tồn tại vấn đề liên quan, dẫn đến độ thuần của giống hoặc do vùng cách ly không an toàn gây ra.
Giám định độ thuần của giống còn có một vài phương pháp thực hiện trong nhà Ví dụ như, sau khi hạt nảy mầm, quan sát, phân biệt màu sắc, tốc độ sinh trưởng của mầm Còn có phương pháp sinh vật học, ví dụ, phương pháp dùng các chất kích thích hữu cơ, đây cũng là một phương pháp rất hiệu quả Nhưng, những phương pháp này lại yêu cầu thiết bị và kỹ thuật hiện đại
Trang 34+ P l l có tiềm năng cho năng suất cao, năng suất trung bình 50 - 55 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt tối 70 - 75 tạ/ha Ngô dài 15 - 16cm, mỗi bắp ngô có 14 -
16 hàng hạt, khối lượng 1.000 h ạt là 300 - 320g H ạt sâu cây, dạng bán răng ngựa, màu vàng
+ Cứng cây, chống đổ tốt, chịu hạn, chịu rét, chịu đất - ướt khá Nhưng nó dễ bị bệnh đốm lá lớn và khô vằn
- Hướng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật:
Khả năng thích ứng rộng, dễ tính hơn các giống lai khác, có thể trồng ỏ mọi vùng, trên các chân đất tốt thuộc phù sa sông, đất đồi dốic, đất ưốt có lên luống
Trang 35Giông P l l gieo trồng được ở tấ t cả các vụ trong năm.Khoảng cách trồng ở phía Bắc là 70 X 30 - 33cm.
Giống ngô P60
- Nguồn gốc:
P60 là giông lai kép Giông ngô lai P60 đã được thí nghiệm và sản xuất thử tại vùng duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long
- Những đặc tính chủ yếu:
+ Giông ngô P60 thuộc nhóm chín trung bình 90-100 ngày, có thể trồng hên tiếp 2 vụ trong mùa mạ (ở Đồng Nai), hoặc đông xuân và hè thu (ở An Giang, Đồng Tháp).+ Cây cao 220cm, chiều cao đóng bắp 100 - llOcm, cây đồng đều, lá xanh đậm, gọn Bắp to, dài, cùi nhỏ, vỏ bao kín; có 14 - 18 hàng hạt, tỷ lệ hạt/bắp 70 - 80% Hạt cứng, màu vàng cam, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
+ Tiềm năng năng suất cao Vói điều kiện các tỉnh phía Nam, năng' suất trung bình đạt 6 - 7 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt trên 8 tấn/ha
+ Rễ chân kiềng, phát triển mạnh, chống đổ ngã, chịu hạn và úng tốt, ít nhiễm bệnh
- Hưống sử dụng và yêu cầu kỹ thuật:
Kết quả thử nghiệm ở các tỉnh phía Nam cho thấy, P60 thích nghi rộng, phù hợp với nhiều loại đất
Nên gieo trồng ỏ những vùng có điều kiện thâm canh, đất đai tương đốì màu mỡ Khoảng cách gieo ở phía Nam là 70x25cm, m ật độ khoảng 55.000 cây/ha, ỏ phía Bắc là 70x30 - 33cm
Giống ngô Ưnỉseed 38
- Nguồn gốc:
Uniseed 38 là giông lai ba, hiện đang được trồng trên diện tích lớn ở Bà Rịa - Vũng Tàu ở phía Bắc đã
Trang 36khảo nghiệm và trồng thử từ vụ xuân năm 1994, là loại giống có triển vọng.
- Những đặc tính chủ yếu:
+ Giống Uniseed 38 thuộc nhóm chín trung bình, ở phía Bắc, vụ xuân từ 115 - 125 ngày, vụ hè th u từ 95 -
100 ngày, vụ đông từ 110 - 120 ngày
+ Cây cao 190 - 205cm, chiều cao đóng bắp 90 - 95cm Bắp dài trung bình 15 - 17cm, đường kính bắp 4,2
- 5cm, có 12 - 14 hàng hạt/bắp, 30 - 35 hạt/hàng, khối lượng 1.000 h ạt là 270 - 290g, h ạt bán răng ngựa, màu vàng tươi, da cam
+ Năng suất trung bình từ 50 - 55 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 7 0 -7 5 tạ/ha
+ Uniseed 38 chốhg đổ khá, ít nhiễm các loại sâu bệnh, nhất là bệnh khô vằn
- Hưóng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật:
Giống Uniseed 38 yêu cầu thâm canh, do đó, nên trồng ỏ những vùng có điều kiện đất tốt, số giờ nắng cao, chủ động tưới tiêu Ớ phía Bắc, nên trồng trong vụ xuân, vụ hè thu và đông sớm (gieo trước thòi gian 10/9)
Giông ngô G5449 (gọi tắt là G49)
16 - 18cm, 12 - 14 hàng hạt/bắp, 28 - 37 hạt/hàng Khối
Trang 37lượng 1.000 hạt khoảng 275 - 285g Hạt bán răng ngựa, màu vàng Năng suất bình quân 60 - 65 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 70 - 80 tạ/ha.
+ Cứng cây, chông đổ tốt, chống hạn khá tốt, lá bì, che kín ngô
- Hướng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật:
+ Yêu cầu thâm canh cao, nên gieo trồng ở những vùng đất tốt, có điều kiện thâm canh
+ Ớ phía Nam, có thể gieo trồng 3 vụ, chủ yếu vụ 2 thu đông và đông xuân, hoặc những chân đất cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng Vùng hay bị hạn cần giôĩig ngắn ngày hơn DK - 888, hay LVN10
+ Khoảng cách trồng ở phía Nam là 70x25 - 28cm
Giôhg ngô lai ngắn ngày LVN24
Nhờ những đặc tính ưu việt, giờ đây, ngô lai đã chiếm khoảng 60 - 70% diện tích trồng ngô của cả nước Tuy nhiên, do điều kiện khác nhau giữa các vùng, nên nhu cầu về giống ngô lai cũng rất đa dạng, bao gồm cả dài ngày, trung ngày và ngắn ngày Trong khi bộ giống dài ngày (như LVN - 10, DK - 888) và trung ngày (như LVN - 4, P l l , BĨ9681, P60 ) là khá phong phú, đã đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất về sô" lượng và chất lượng, thì bộ giống ngắn ngày còn nghèo nàn về chủng loại (chỉ có LVN - 20, LVN - 5 và một sô" ít giông khác) Việc mỏ rộng diện tích ngô đông trong sản xuất gặp nhiều khó khăn ỏ những vùng trồng lúa mùa chính
vụ, đặc biệt là ở các tỉnh vùng châu thổ sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình
và Thái Bình Ngoài ra, việc đưa những giông ngô lai ngắn ngày vào gieo trồng còn là nhu cầu cho tăng vụ
Trang 38ngô thứ hai ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Trong thòi gian qua, Viện nghiên cứu ngô đã rấ t chú trọng chọn tạo các giống ngô ngắn ngày trong chương trình ngô lai của Viện, mà LVN24 là một trong các kết quả đạt được
LVN24 được lai tạo giữa một dòng lai An Độ với một giống lai đơn, lá đứng
- Kết quả cho thấy:
+ Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục chính: LVN - 24 là giống lai ngắn ngày, có thời gian sinh trưỏng ở vụ xuân là 113 ngày, dài hơn LVN - 20 là
33 ngày, ở vụ thu thay đổi từ 96 - 102 ngày LVN - 24 có thời gian tung phấn và phun râu đồng thời ở cả điều kiện vụ xuân và vụ thu
+ Đặc điểm hình thái giống lai LVN24: Là một giống
lai cao cây (195 - 198cm), có bộ lá đứng, có trạng thái cây và bắp trung bình LVN24 có độ kín, lá bi rấ t tốt
m àu h ạ t vàng Năng suất LVN24 qua các vụ gieo trồng
cụ thể như sau:
Vụ thu 1997: 72,29 tạ/ha, vụ xuân năm 1998: 79,94 tạ/ha, vụ th u 1998: 65,06 tạ/ha
Trang 39Từ vụ xuân năm 1998, giông ngô lai LVN24 đã được đưa vào trồng khảo nghiệm trong mạng lưới khảo nghiệm giông quốc gia Kết quả cho thấy: Năng suất LVN24 ở Từ Liêm (Hà Nội) đạt 58,1 tạ/ha, Mai Nham (Vinh Phúc) là 65,2 tạ/ha, Việt Trì (Phú Thọ) là 42,4 tạ/ha, thành phô' Thái Nguyên 42,2 tạ/ha, đều cao hơn giống LVN20 và BĨ9681 Từ vụ đông năm 1998 cho đến nay, LVN24 đã được sản xuất rộng tại Phú Thọ, Hà Tây, Thái Nguyên trên diện tích hàng ngàn hecta, đạt năng suất từ 5,4 - 9,6 tấn/ha.
- Kết luận và đề nghị:
LVN24 là giống lai ngắn ngày, cây cao, có bộ lá
đứng, có khả năng chống chịu khá đốì với một số sâu
bệnh chính, đặc biệt là khô vằn, có dạng bắp dài, to, hạt bán răng ngựa, màu vàng Qua các thí nghiệm so sánh cho thấy, LVN24 tỏ ra có năng suất cao hơn hẳn giống LVN20 và các giống khác có cùng thời gian sinh trưởng
T7 - Giống ngô lai chịu hạn
Nam Trung bộ là một trong 8 vùng trồng ngô lớn của cả nước, diện tích trồng ngô toàn vùng trên 42 ngàn
ha, năng suất bình quân đạt 42 tạ/ha Để nâng cao vị
th ế cây ngô, cần phải có giống ngô lai phù hợp với điều kiện và khí hậu của vùng này
Kết quả nghiên cứu, khảo nghiệm và sản xuất thử giống ngô T7 đã được công nhận là giống Quốc gia năm
2006 Là giống có nhiều triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh vùng Nam Trung bộ Diện tích gieo trồng hàng năm trên 1.500 ha, năng suất từ 60 - 70 tạ/ha, nếu thâm canh đạt 80 tạ/ha Là giống ngô chín trung ngày,
vụ đông xuân 110 - 115 ngày Cây sinh trưỏng mạnh,
Trang 40bắp to, dài, kín bao ngô, chống đổ tốt, chịu hạn khá, ít nhiễm sâu bệnh, thích ứng rộng, giá h ạt giống rẻ.
Nhìn chung, tạ i các tỉnh Nam Trung bộ, giống ngô lai T7 thích ứng rộng và có thể chịu được hạn như giống C919
Chúng ta còn dự định sẽ chủ động sản xuất hạt
giống vối số lượng lớn bằng cách hợp tác với một đơn vị
sản xuất giông trong vùng, để cung ứng đủ giống cho bà con nông dân gieo trồng vổi chất lượng h ạt giống tốt, giá
h ạt giống hợp lý, đảm bảo thấp hơn từ 25 - 30% so với giá các giông ngô lai nhập nội khác cùng nhóm thời gian sinh trưởng
Tuy nhiên, trong điều kiện thâm canh giống ngô lai T7, cần lưu ý các điểm chính như sau: Thời vụ gieo trỉa tại Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, vụ đông xuân gieo từ 25/12 - 25/1, đảm bảo cho ngô trổ cò và tung phấn từ 20/3 - 5/4; vụ hè thu nên cho ngô trổ cờ, tung phấn từ ngày 5/8 - 20/8 Lượng giống gieo 0,8 - lkg/500m2; khoảng cách gieo: 70cm X 20cm/cây Lượng phân bón cần 500kg hữu cơ + 16kg urê + 30kg lân Văn Điển + 5kg kaliclorua/500m2 Vụ đông xuân tưới vào các thời kỳ ngô có 10 lá, trổ cờ, chín sữa, chín sáp; vụ hè thu tưới vào các thời kỳ 5 lá, 10 lá, ngô loa kèn, trổ cờ, chín sữa, chín sáp
Với những ưu điểm chịu hạn vượt trội, giông ngô T7 ngày càng được người dân khu vực Nam Trung bộ ứng dụng vào sản xuất
Giông ngô lai D K 999
- Đặc điểm:
+ Thời gian sinh trưởng từ 90 - 95 ngày