1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giới thiệu nhà thơ chiến sĩ Thủ Khoa Huân.

6 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu nhà thơ chiến sĩ Thủ Khoa Huân
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử và Văn học Việt Nam
Thể loại Bài giới thiệu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 47,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ Khoa Huân 1830 - 1875, tên thật Nguyễn Hữu Huân, là một sĩ phu yêu nước, là một lãnh tụ khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở các tỉnh Miền Đông Nam Kỳ Việt Nam.. Khi Pháp xâm lược ba tin

Trang 1

Giới thiệu nhà thơ chiến sĩ Thủ Khoa Huân

Thủ Khoa Huân (1830 - 1875), tên thật Nguyễn Hữu Huân, là một sĩ phu yêu nước, là một lãnh tụ khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở các tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (Việt Nam).

Thủ Khoa Huân, người làng Mỹ Tịnh An, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định

Tường; nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Thưở nhỏ ông thông minh và học giỏi Năm 1852 (triều Tự Đức), ông dự thi Hương và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ Khoa Huân Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Giáo thụ huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường

Khi Pháp xâm lược ba tinh miền Đông Nam kỳ (trong đó có tỉnh Định

Tường, quê ông), cũng giống như nhiều nhà nho yêu nước ở Nam kỳ, ông đã

từ bỏ dạy học, cầm vũ khí đứng lên chống Pháp năm 1860

Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ Tho Đầu năm 1862, bị Pháp đánh úp, bắt và giải ông về Sài Gòn Lựa lúc đối phương sơ hở, ông trốn thoát được Đầu năm sau, ông cùng Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai

Tháng 6 năm 1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu (Cai Lậy, Định Tường), ông chuyển về vùng Thất Sơn (tức vùng Bảy Núi, An Giang) tiếp tục đấu tranh Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu thư, buộc Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thân phải giao nộp Thủ Khoa Huân cho họ làm tội, viện lẽ ông Huân không tuân theo hòa ước 1862 Án sát Phạm Hoàng Đạo hay tin tâu lên vua Tự Đức, xin đưa ngay Nguyễn Hữu Huân về Huế Thế nhưng do áp lực của người Pháp, tháng 7 năm 1864, Tổng đốc Thân đã phớt lờ lệnh vua, bắt ông giao nộp cho thực dân

Sách Nửa tháng trong miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu có đoạn: “Sau

khi De la Grandière biết tin Thủ Khoa Huân lẫn trốn ở Thất Sơn, viên sĩ quan Pháp này buộc Tổng đốc An Giang phải bắt ông Huân, giao cho họ làm tội Tổng đốc An Giang không thuận Tức thời, Doudart de Lagrée được lệnh đem 500 quân cùng đại bác từ Oudong xuống huy hiếp Thành An

Giang Trước áp lự đó, Tổng đốc An Giang đành nhượng bộ.” (NXB Trẻ,

2006, tr 155).

Trang 2

Vợ Thủ Khoa Huân là Lê Thị Lộc đã làm đơn kiện viên quan đầu tỉnh An Giang về việc đã không tuân theo chiếu chỉ, đồng thời đòi Pháp phải thả ngay chồng mình Ở Sài Gòn, dù Pháp đem mọi thứ ra dụ dỗ nhưng ông vẫn kiên quyết chối từ Cuối cùng, vào ngày 22 tháng 8 năm 1864, ông bị kết án

10 năm tù khổ sai và bị đày đi Cayenne, là một thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ

Về sự việc này, ''Định Tường Thủ Khoa Huân tiểu truyện'' chép:

“Năm Giáp Tý, chính quyền Pháp kết án Nguyễn Hữu Huân mười năm khổ sai, đày ra biển cả ở Nam Mỹ châu, tục gọi Cai Danh (tức Cayenne, thuộc Guyane)

Trong ''Hồ sơ cá nhân Đỗ Hữu Phương'' (Dosier Individuel Do Huu Phương

trong Sẻvices Locaux, ký hiệu SL 312 tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Sài Gòn) cũng cho biết tương tự: “Thủ Khoa Huân, dính líu trong một vụ

phiến loạn, từng bị đày đi Cayenne” (Dẫn lại theo “Người Việt đầu tiên đi

đày ở Guyane''? trong ''Nhà lao An Nam ở Guyane'', NxbTrẻ, 2008, tr 116)

Sau 5 năm tù, ngày 4 tháng 2 năm 1869, Pháp cho lệnh ân xá và đưa ông về quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy bảo "sinh đồ" ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía họ

Nguyễn Hữu Huân lợi dụng điều kiện đi dạy học, liên lạc với các sĩ phu yêu nước và hội kín Hoa kiều ''Trường Phát'', nhờ mua vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa

Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương, nhờ do thám nên Pháp bắt được thuyền chở vũ khí

Trước tình hình bất lợi đó, ông ra lệnh giải tán, bí mật tìm đường về lại Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa lần thứ 3 Lần này dân chúng theo ông rất đông,trong số đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý - Cai Lậy

Đầu năm 1875, thất trận ở Bình Cách, Thủ Khoa cùng tùy tùng là Đốc binh Hương về Chợ Gạo, dự định quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện Nhưng đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc, đã dẫn quân bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15 tháng 05 năm 1875, rồi đem giam ông tại Mỹ Tho

Trang 3

Sau bốn ngày dùng mọi mưu chước chiêu hàng không thành, Pháp kết án tử hình Nguyễn Hữu Huân Trước khi thụ hình, ông nhắn vợ con tế sống mình trong một tuần và xin vải viết bài thơ tuyệt mệnh và hai câu đối để thờ

Ngày 19 tháng 5 năm 1875 (14 tháng 4 âm lịch năm Ất Hợi), Pháp cho tàu chở ông xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An, để hành quyết tại Bến Tranh lúc 12 giờ trưa Năm ấy ông 45 tuổi

***

Không rõ Thủ Khoa Huân có làm nhiều thơ không (1), nhưng chỉ bấy nhiêu bài còn lại sau đây, bài nào cũng bộc lộ được tinh thần bất khuất, kiên cường, dám xả thân vì nước Việt của ông

Cho nên, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là “một hiện tượng đặc sắc của

văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ - chiến sĩ.

Bài thơ chữ Hán dưới đây, ông làm trước khi bị chém, nay được tạc nơi bia

mộ ông

Sau đây là bản dịch của Phan Bội Châu:

Ruổi dong vó ngựa trả thù chung

Binh bại cho nên mạng phải cùng

Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,

Hơn thua xá kể với anh hùng

Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ

Quyết thác không hàng, rạng núi sông

Tho thuỷ ngày rày pha máu đỏ,

Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong

(Quân Hồ lỗ ý nói quân mọi rợ, ám chỉ giặc ngoại xâm Tho thủy: Sông Mỹ

Tho Đảo Rồng: là nơi Thủ Khoa Huân bị chết chém)

Và:

Hai bên thiên hạ thấy hay không ?

Một gánh cương thường, há phải gông

Oằn oại hai vai quân tử trúc,

Long lay một cổ trượng phu tòng

Sống về đất Bắc, danh còn rạng

Thác ở thành Nam, tiếng bỏ không

Thắng bại, doanh thâu trời khiến chịu

Trang 4

Phản thần,“đéo ỏa” đứa cười ông!

(Đéo ỏa: tiếng chửi ở miền Nam, sách ''Nguyễn Hữu Huân'' của NXB Trẻ

ghi: ''đéo mẹ'')

Bài thơ ông làm nghe tin vợ dám đi kiện quan đầu tỉnh An Giang, và

đòi Pháp thả chồng:

Xem qua thư gửi rất kinh hoàng

Nhi nữ chà chà cũng lớn gan

Đơn bẩm cuối lòn loài bạch quỷ,

Sân quỳ vất vả phận hồng nhan

Bán mình đâu nệ phiền lòng sắt,

Chuộc tội thà xin trọn nghĩa vàng

Tiết khí dưới trần coi ít mặt,

Cang thường càng chuộng gánh giang san

Ông làm trước khi bị đày ra đảo Cayenne ở Nam Mỹ:

Muôn việc cho hay số bởi trời

Chiếc thân chìm nổi biết bao nơi

Mấy hồi tên đạn ra tay thử,

Ngàn dặm non sông dạo gót chơi

Chén rượu Tân đình nào luận tiệc

Vần thơ cố quốc chẳng ra lời

Cương thường bởi biết mang nên nặng,

Hễ đứng làm trai trả nợ đời

Nhân nhà Tổng đốc Phương có tiệc, ông làm bài này để đọc cho mọi người nghe:

Nghĩ thẹn râu mày với nước non

Nhìn nay tùng, cúc bạn xưa còn

Miếu đường cách trở niềm tôi chúa,

Gia thất riêng buồn nỗi vợ con

Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ,

Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon

Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi,

Cuốn đất kìa ai, dám hỏi đon!

Trang 5

Qua hình ảnh “cây bắp”, để tỏ bày tấm lòng cùng khát vọng của ông:

Luống chịu ba trăng trấn cõi bờ,

Hiềm vì thương chút chúng dân thơ

Nương oai tích lịch ôm con đỏ,

Vâng lịnh nam phong phất ngọn cờ

Miễn đặng an nhà cùng lợi nước

Chỉ nài dãi gió với dầm mưa

Biển hồ dầu lặng, tằm kình bặt

Giải giáp một phen chúng thảy nhờ

(Oai tích lịch: oai sấm sét)

Hai câu đối do Nguyễn Hữu Huân làm trước khi bị thụ hình, hiện được treo trang trọng tại bàn thờ của ông

Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị,

Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân

Tạm dịch:

Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng

Tuy công chưa thành, cũng đành một thác báo ơn vua

(Có dị bản: Duy công bất tựu diệt quyên bất tử báo quân ân, nghĩa là: Dầu

công không đạt được, cũng liều một chết báo ơn vua.).

Hiện nay, mộ và đền Thủ Khoa Huân được xây dựng ngay tại quê nhà của ông Ban đầu mộ được đấp bằng đất Đầu thế kỷ 20, cháu ngoại của ông là Trần Văn Thông xây lại bằng đá xanh Trong đền thờ có nhiều hoành phi và câu đối ca ngợi khí tiết của ông Và nơi Thủ Khoa Huân bị chém là chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường xưa Nơi đấy, cũng có bia tưởng niệm

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

Chú thích:

(1) Thơ Nguyễn Hữu Huân không có tựa đề, đa phần các sách dựa vào nội dung để đặt tên cho bài Và trong thơ của ông, ở một vài câu chữ cũng không tránh khỏi dị bản Người soạn dựa vào các nguồn sau, so sánh rồi chọn ra những câu chữ tạm cho là phù hợp hơn cả: Sách ''Hợp Tuyển Thơ

Văn VN'' 1858-1920 (Huỳnh Lý chủ biên, NXB Văn Học, 1984); Sách ''Thủ

Trang 6

Khoa Nguyễn Hữu Huân'' (không ghi tên người soạn, NXB Trẻ, tháng 10

năm 2007) và thơ Nguyễn Hữu Huân ở website ''Thi Viện''.

Ngày đăng: 29/07/2013, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w