Nghiên cứu khoa học là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới.: Khám phá những thuộc tính bản chất của SVHT. Phát hiện chung quy luật vận động của V Vận dụng quy luật để sáng tạo giai pháp tác động vào SV. Khái niệm: Là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. Phân loại NCKH: Nghiên cứu cơ bản: Là nghiên cứu nhằm phát hiện bản chất và quy luật của SVHT trong tự nhiên, xã hội, con người. Thường thực hiện dựa trên cơ sở cũng những nghiên cứu thuẩn túy lý thuyết, hoặc dự trên cơ sở quan sát hoặc thí nghiệm, đo đạc những biểu hiện, ảnh hưởng và tác động của một quy luật chưa biết nào đó. Sản phẩm của NC cơ bản có thể là các hiện, phát kiến, công thức, phát minh. Nghiên cứu cơ bản bao gồm:
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(dành cho lớp CH3)
1 Nghiên cứu khoa học là gì? Phân loại nghiên cứu khoa học?
Nghiên cứu khoa học là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới.:
- Khám phá những thuộc tính bản chất của SV-HT
- Phát hiện chung quy luật vận động của V
- Vận dụng quy luật để sáng tạo giai pháp tác động vào SV
Khái niệm: Là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên
những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải
có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
Phân loại NCKH:
- Nghiên cứu cơ bản: Là nghiên cứu nhằm phát hiện bản chất và quy luật của SV-HT trong tự nhiên, xã hội, con người Thường thực hiện dựa trên cơ sở cũng những nghiên cứu thuẩn túy lý thuyết, hoặc dự trên cơ sở quan sát hoặc thí nghiệm, đo đạc những biểu hiện, ảnh hưởng và tác động của một quy luật chưa biết nào đó Sản phẩm của NC cơ bản có thể là các hiện, phát kiến, công thức, phát minh
Nghiên cứu cơ bản bao gồm:
+ NCCB thuần túy: nghiên cứu mới chỉ nhằm mục đích tìm ra bản chất và quy luật của các hiện tượng , tự nhiên, xã hội để nâng cao nhận thức, chưa có sự vận dụng vào hoạt động cụ thể
+ NCCB định hướng: là nghiên cứu đã có trước mục đích ứng dụng
+ NC nền tảng: dựa trên quan sát, thu thập số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu
và khám phá quy luật của tự nhiên
+ NC chuyên đề: Nghiên cứu có hệ thống một hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, nghiên cứu loại này không chỉ dẫn đến những cơ sở lý thuyết quan trọng mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa lớn lao trong hoạt động kinh tế
- Nghiên cứu ứng dụng: Là việc vận dụng các quy luật từ trong NCCB để đưa ra nguyên lý về các giải pháp
- Triển khai: là vận dụng các quy luật và các nguyên lý để đưa ra hình mẫu với những tham số mang tính khả thi về kỹ thuật Kết quả của triển khai thì chưa triển khai đươc, chỉ là những hình mẫu, vật mẫu có tính khả thi
+ Triển khai trong phòng: là loại hình triển khai nhằm khẳng định kết quả sao cho ra được sản phẩm, chưa quan tâm đến quy mô áp dụng
Trang 2+ Triển khai bán đại trà: Là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thiết về hình mẫu trên một quy mô nhất định
2 Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu? Lấy ví dụ minh họa.
- Đối tượng nghiên cứu là SV hoặc HT được lựa chọn để xem xét trong nhiệm vụ nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu được giới hạn trong một phạm vi nghiên cứu nhất định: phạm vi xét về mặt quy mô của đối tượng, phạm vi không gian thuộc tiến trình của SV-HT, phạm vi thời gian của tiến trình SV-HT
- Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu NC chính la hướng, đích mà NC nhằm vào (để giải quyết v/đề NC - thu được kết quả NC_mục đích NC)
Ví dụ: Vở
3 Những vấn đề cần quan tâm khi lựa chọn đề tài khoa học?
Khi lựa chọn đề tài NCKH cần quan tâm những vấn đề sau:
- Y nghĩa thực tiễn của đề tài
- Y nghĩa KH
- Tính cấp thiết
- Đủ điều kiện đảm bảo cho đề tài
- Tính phù hợp
Bên cạnh đáp ứng các yêu cầu trên, việc lựa chọn đề tài còn cần phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Thứ nhất là tiêu chí thích đáng: Đây là tiêu chí trung tâm của đề tài nghiên cứu, nó nhằm đánh giá tính chất khoa học và logic của đề tài (thường được thể hiện qua phần lý
do chọn đề tài)
- Thứ hai là tiêu chí “có thể đo lường được”: Do lĩnh vực xã hội bao gồm rất nhiều khái niệm trừu tượng không thể quan sát trực tiếp được nên để có thể áp dụng thực tế vào các khái niệm ấy, cần phải cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng, nghĩa là phải biến các khái niệm trừu tượng thành những công thức, những vấn đề có thể đo đếm được Muốn vậy, phải biết kết hợp tốt phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính trong nghiên cứu khoa học xã hội
- Thứ ba là tiêu chí đạo đức: Nghiên cứu khoa học là một chu trình vòng tròn, bắt đầu từ đặt câu hỏi, phát biểu giả thuyết, tiến hành thực nghiệm, và công bố kết quả Trong mỗi bước của chu trình nghiên cứu khoa học, khía cạnh đạo đức luôn hiện diện Những chuẩn mực đạo đức khoa học là nguyên tố quan trọng cho sự tồn tại của khoa học và văn hóa khoa học Bởi sứ mệnh của khoa học là phục vụ nhân loại và phục vụ đời sống con người nên các công trình khoa học là nhằm phục vụ cho con người, giúp nhân loại tiến bộ
- Thứ tư là tiêu chí khả thi: được đánh giá ở mức độ có thể thực hiện được hay không thực hiện được của đề tài Tính khả thi bao gồm các khía cạnh sau:
+ Quy mô đề tài ra sao?
+ Quỹ thời gian có phù hợp không?
+ Kinh phí cho phép thực hiện đề tài không?
Trang 3+ Địa bàn khảo sát đề tài có dễ tiếp cận không?
+ Phương tiện có dễ kiểm chứng không?
4 Trình tự logic xây dựng đề tài? Lấy ví dụ minh họa.
Nghiên cứu khoa học, bất kể trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hoặc khoa học công nghệ đều tuân theo một trật tự logic xác định, bao gồm các bước sau đây:
1 Phát hiện vấn đề (Problem), để lựa chọn chủ đề (topic) nghiên cứu
2 Xác định mục tiêu (objective) nghiên cứu
3 Nhận dạng câu hỏi (question) nghiên cứu
4 Đưa luận điểm, tức giả thuyết (hypothesis) nghiên cứu
5 Lựa chọn các phương pháp (methods) chứng minh giả thuyết
6 Tìm kiếm các luận cứ (evidence) để chứng minh luận điểm
1 Phát hiện vấn đề (Problem) nghiên cứu
Phát hiện vấn đề nghiên cứu để xác định chủ đề nghiên cứu Trên cơ sở đó đặt tên đề tài
Vấn đề nghiên cứu được phát hiện nhờ các sự kiện thông thường, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn giữa lý thuyết vốn tồn tại và thực tế Loại sự kiện như thế được gọi là sự kiện khoa học
2 Xác định nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên cứu) thực hiện Nhiệm vụ nghiên cứu có thể xuất hiện trước hoặc sau vấn đề nghiên cứu
Việc lựa chọn đề tài có thể dựa trên những căn cứ được xem xét theo các cấp độ sau: 1) Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?
2) Đề tài có mang một ý nghĩa thực tiễn nào không?
3) Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không?
4) Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không?
5) Và đề tài có phù hợp sở thích không?
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong nghiên cứu Mục tiêu trả lời câu hỏi “Nghiên cứu cái gì?”
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu luôn được giới hạn trong một khuôn khổ nhất định:
1) Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Trang 42) Phạm vi về không gian của sự vật cần quan tâm trong nghiên cứu, cụ thể ở đây là
giới hạn phạm vi mẫu khảo sát
3) Phạm vi thời gian của tiến trình của sự vật, phạm vi nội dung nghiên cứu
5 Mẫu khảo sát trong quá trình nghiên cứu
Mẫu khảo sát có thể được chọn trong: một không gian, một khu vực hành chính, một quá trình, một hoạt động, một cộng đồng
6 Đặt tên đề tài
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài Tên một đề tài khoa học khác với tên của tác phẩm văn học hoặc những bài luận chiến Tên một tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến có thể mang những ý ẩn dụ sâu xa Còn tên của một đề tài khoa học thì chỉ được mang một nghĩa, không được phép hiểu hai hoặc nhiều nghĩa Để làm được điều này, người nghiên cứu cần lưu ý một vài nhược điểm cần tránh khi đặt tên đề tài:
Thứ nhất, tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin.
Ví dụ:
Về ; Thử bàn về ; Góp bàn về
Thứ hai, cũng cần hạn chế lạm dụng dụng những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên đề tài.
Cụm từ chỉ mục đích là những cụm từ mở đầu bởi những từ để, nhằm, góp phần, v.v Nói
lạm dụng, nghĩa là sử dụng một cách thiếu cân nhắc, sử dụng tuỳ tiện trong những trường
hợp không chỉ rõ được nội dung thực tế cần làm, mà chỉ đưa những cụm từ chỉ mục đích để che lấp những nội dung mà bản thân tác giả cũng chưa có được một sự hình dung rõ rệt Ví dụ:
( ) nhằm nâng cao chất lượng ,
( ) để phát triển năng lực cạnh tranh.
( ) góp phần vào ,
Sẽ là không đạt yêu cầu khi đặt tên đề tài bao gồm hàng loạt loại cụm từ vừa nêu trên
đây, ví dụ: "Thử bàn về một sô biện pháp bước đầu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần tạo ra năng lực cạnh tranh trên thị trường"
Thứ ba, cũng sẽ là không đạt yêu cầu khi đặt những tên đề tài có dạng như: “Lạm phát
– Hiện trạng, Nguyên nhân, Giải pháp” Đương nhiên, khi nghiên cứu đề tài “Lạm phát”, tác giả nào chẳng phải tìm hiểu hiện trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp chống
lạm phát Tuy nhiên loại tên đề tài này còn có một lỗi hết sức nghiêm trọng, nếu ta diễn giải tên đề tài này là đề tài nghiên cứu về 3 nội dung: “Hiện trạng lạm phát”, “Nguyên nhân lạm phát” và “Giải pháp lạm phát”
5 Lựa chọn sự kiện khoa học? Lấy ví dụ minh họa.
- Sự kiện nghiên cứu là điểm xuất phát của NCKH, lựa chọn sự kiện là cơ sở tìm kiếm chủ đề của một nghiên cứu
- 1 sự kiện là 1 sự vật hoặc 1 hiện tượng chứa đựng nhưng vấn đề cần phải đòi hỏi sự giải thích
Trang 5- Giair quyết các mẫu thuẫn bằng luận điểm và luận cứ.
- Tiêu chí lựa chọn sự kiện nghiên cứu:
+ Thực sự có ý nghĩa KH
+ Thực sự có ý nghĩa thực tiễn
+ Thực sự cấp thiết
+ Hội đủ nguồn lực
+ Bản thân có hứng thú khoa học
6 Xác định phạm vi nghiên cứu? Lấy ví dụ minh họa.
Phạm vi nghiên cứu luôn được giới hạn trong một khuôn khổ nhất định:
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu
- Phạm vi về không gian của sự vật cần quan tâm trong nghiên cứu, cụ thể ở đây là giới hạn phạm vi mẫu khảo sát
- Phạm vi thời gian của tiến trình của sự vật, phạm vi nội dung nghiên cứu
7