Đồ án thiết kế bãi đỗ xe thông minh có đầy đủ file chương trình cho s7200,s7300 và phần giao diện mô phỏng giám sát trên wincc Các bản vẽ bao gồm lưu đồ thuât toán, chương trình, phân công vào ra...Bãi đỗ xe có chức năng đếm xe và chỉ dẫn cho xe vào các khu vực trốngvideo demo mô phỏng tại đây https://www.youtube.com/watch?v=tHsqFtpwwrc
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÃI GIỮ XE TỰ ĐỘNG 1.1 YÊU CẦU THỰC TẾ TẠI ĐÀ NẴNG
Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển, tiến lên thành một nước có nền công nghiệp phát triển cao, công nghệ hiện đại, đời sống vật chất của con người ngày càng nâng cao Và sự tất yếu kéo theo là sự phát triển ngày càng tăng số lượng phương tiện cá nhân, trong đó có cả xe máy và ôtô Trong tương lai không
xa ở Việt Nam ôtô không còn là hàng hóa xa xỉ Trong khi cơ sở hạ tầng lại không đáp ứng kịp với sự phát triển của phương tiện Sự mất cân bằng này tất yếu dẫn đến sự mất mỹ quan đô thị là do thiếu các bãi đỗ xe, nên buộc họ phải đậu xe lấn chiếm lòng lề đường, tình trạng kẹt xe và tai nạn giao thông xảy ra liên tục Có thể nói quỹ đất cho giao thông tĩnh đã quá chật
Hình 1.1 Thực trạng đỗ xe tại Đà Nẵng
Tại Đà Nẵng, hiện nay, giao thông cũng đang gặp phải hàng loạt các vấn đề như đậu đỗ xe tràn lan dưới lòng đường, các điểm gây ách tắc giao thông xuất hiện ngày càng nhiều, thời gian ách tắc lâu, các bãi bến đậu, dừng xe còn ở quy
mô nhỏ, chưa bắt kịp sự phát triển và nhu cầu sử dụng của người dân…Theo thống kê, TP Đà Nẵng hiện có khoảng gần 40.000 ôtô, 600.000 xe máy, chưa kể các loại xe của khách vãng lai Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng của phương tiện trung bình hàng năm tỷ lệ khoảng 15% và cứ 5 năm, lượng ôtô và xe máy ở Đà Nẵng lại tăng lên gấp đôi
Hiện nay nhiều tuyến đường ở trung tâm Đà Nẵng đã xuất hiện tình trạng ùn tắc trong giờ cao điểm do ôtô đậu đỗ hai bên đường quá nhiều Bên cạnh đó, các bến bãi đậu đỗ lại rất hạn chế Hệ thống giao thông công cộng của Đà Nẵng chỉ
Trang 2có duy nhất là xe buýt (ngoài taxi, xe ôm) nhưng hiện nay loại hình giao thông công cộng này vẫn chưa thực sự mang lại nhiều tiện nghi; phương tiện cá nhân vẫn đóng vai trò chính trong việc giải quyết nhu cầu đi lại của người dân
Việc giải bài toán nhu cầu đậu đỗ xe chưa được quan tâm dẫn đến việc đậu đỗ trên lòng đường, vỉa hè; hệ thống đường đô thị đã quá tải nay lại bị chiếm dụng cho đậu đỗ xe càng làm cho việc đi lại giao thương trở thành một trở lực lớn đối với dân cư đô thị
Trước tình hình này, lãnh đạo TP Đà Nẵng đã quyết định chọn 3 vị trí xây dựng thí điểm các bãi đỗ xe ngầm gồm khu vực Công viên 29/3 trên đường Điện Biên Phủ với diện tích 1,3 ha; khu vực nhà hàng đường 2/9 với diện tích 1 ha; khu vực công viên đường Trần Cao Vân - Ông Ích Khiêm - Đống Đa Ngoài ra TP cũng đang nghiên cứu quy hoạch thêm các bãi đỗ xe khác
Hình 1.2 Vị trí xây dựng bãi đỗ xe ngầm tại công viên 29/3
Bãi đỗ xe được xây dựng ngầm dưới lòng đất nên sử dụng công nghệ bãi đỗ
xe tự động là giải pháp tối ưu để quản lý bãi đỗ xe
1.2 SƠ LƯỢC VỀ BÃI ĐỖ XE TỰ ĐỘNG
Một bãi đỗ xe tự động chuẩn cần đạt được những yêu cầu về an toàn, giảm tối
đa nhân công, tính tiện lợi cho khách hàng, linh hoạt trong việc thu phí và quản
lý bãi đỗ xe…
Trang 3Hình 1.3 Bãi đỗ xe ngầm Trung tâm hành chính TP Đà Nẵng
An toàn là vấn đề được xem xét đầu tiên khi thiết kễ bãi đỗ xe Những yếu
tố cần thiết để đảm bảo an toàn cho một bãi đỗ xe gồm:
- Hệ thống hướng dẫn giao thông cho tài xế hoặc khách đi bộ bao gồm
hệ thống cách vạch sơn, rào chắn, thông tin về vị trí đỗ xe và đèn hướng dẫn
- Camera giám sát kỹ thuật số bao quát tất cả các phần được quản lý Lưu giữ hình ảnh và tình trạng bãi đỗ xe trong vài tuần
- Nút báo cháy trong trường hợp có hỏa hoạn nhưng hệ thống chữa cháy tự động không hoạt động
- Các thiết bị chữa cháy tự động và các thiết bị thông khí, lọc khí
- Các loa cho việc thông báo
- Hệ thống đèn chiếu, đèn thông báo còi ,được điều khiển từ xa bằng tay hay cảnh báo tự động
- Việc ghi lại và báo cáo tình trạng trộm cắp, barie bị hư, giám sát trạng thái của cửa thoát
Trang 4Hình 1.4 Nút báo cháy và các thiết bị phòng cháy chữa cháy trong bãi đỗ xe
- Chương trình trong tình trạng khẩn cấp ngăn cản các barier ở lối vào,
mở các barier ở lối thoát, cửa và cổng
- Hệ thống nguồn điện và đèn chiếu sáng trong tình trạng mất điện
Sự tiện lợi cho khách hàng, và tính tự động hóa
- Hệ thống Barie và đọc thẻ từ tự động giúp khách đăng ký tháng vào gửi xe không cần thông qua bảo vệ
- Các hệ thống cảm biến chuyển động, cảm biến tiệm cận giúp hướng dẫn khách hàng tìm được vị trí đỗ xe nhanh nhất
- Hệ thống đọc thẻ từ tự động đối với khách hàng đăng ký gửi xe theo tháng, giảm thời gian xe vào ra bãi
- Bảng báo số lượng xe trong bãi, báo bãi xe đã đầy
- Lối vào ra riêng biệt cho xe máy và ôtô
Hệ thống tính tiền
- Linh hoạt giữa các phương thức trả tiền: theo tháng hoặc theo lượt đỗ,số ngày đỗ…
- Nhiều mức phí đồng thời theo thời gian Mỗi loại phí gắn với loại xe
và loại thẻ Mức phí có thể thiết đặt trước khi áp dụng
- Báo cáo doanh thu theo bãi xe giúp nhà đầu tư dễ dàng quản lý
Trang 5 Những ưu điểm của bãi đỗ xe tự động:
- Tiết kiệm chi phí, thời gian
- Giảm số lượng nhân sự, nâng cao hiệu suất công việc
- Kiểm soát vấn đề tài chính
- Điều hành phương tiện lưu thông dễ dàng
- Thuận tiện cho người sử dụng
- Tốc độ bãi đỗ xe thông minh nhanh gấp 2 lần gửi xe thủ công giảm lượng khí thải trong quá trình đỗ xe
- Tính bảo mật của hệ thống bãi đỗ xe rất cao vì tích hợp công nghệ thẻ proximity
- Quản lý hệ thống bãi đỗ xe với các thao tác đơn giản và cực kì tiện ích nhanh chóng
- Tạo dựng sự đẳng cấp cho công trình từ dịch vụ cho đến nét văn minh
Nhược điểm của bãi đỗ xe tự động:
- Vốn đầu tư ban đầu lớn cho các thiết bị công nghệ hiện đại
- Yêu cầu cao về đội ngũ kỹ thuật vận hành bãi đỗ xe
Trang 61.3 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ BÃI ĐỖ XE SẼ THIẾT KẾ
Hình 1.5 Sơ đồ tổng thể bãi đỗ xe
Bãi đỗ xe có 123 chỗ được chia thành 4 khu vực để chỉ dẫn cho xe vào đỗ Ở đầu mỗi khu vực đều có đèn mũi tên chỉ dẫn xe đến chỗ còn trống
Khi xe vào bãi đỗ, xe sẽ dừng lại trước barie:
- Tại đây khách gửi xe sẽ quẹt thẻ lên máy đọc thẻ đối với khách hàng đăng ký tháng và đã được cấp thẻ từ trước Sau khi quẹt thẻ xong, Camera sẽ chụp biển số xe và lưu lại thông số tương ứng với thẻ đó, barie sẽ tự động mở ra để xe vào Bảng hiện thị số xe trong bãi tăng lên 1
- Đối với khách vãng lai, nhân viên điều hành sẽ lấy một thẻ có sẵn và quẹt vào máy đọc thẻ Camera sẽ chụp biển số xe và lưu lại thông tin
Trang 7tương ứng với thẻ đó Sau đó, nhân viên sẽ đưa thẻ cho khách hàng
và bấm nút để mở barie Bảng hiện thị số xe trong bãi tăng lên 1
Sau khi nhận thẻ, xe sẽ đi vào qua CB1 đặt ở sau barie Khi CB1 tác động lần thứ 2 tức là bánh sau của xe đã đi qua thì barie tự động đóng lại chờ lượt khách tiếp theo
Bãi đỗ xe có 4 khu vực: Khu vực I có 30 chỗ gồm 2 dãy A và B, Khu vực
II có 30 chỗ gồm 2 dãy C và D, khu vực III có 30 chỗ gồm 2 dãy E và F, khu vực IV có 33 chỗ gồm 2 dãy G và H
Ở lối vào và ra mỗi khu vực đều có cảm biến nhận biết xe vào ra Các cảm biến này giúp xác định số xe có trong mỗi khu vực Dựa vào số xe hiện có trong mỗi khu vực mà các đèn chỉ dẫn đặt ở đầu mỗi khu vực chỉ hướng cho xe đến vị trí đỗ còn trống một cách nhanh nhất
Khi bãi đỗ xe đã có 123 xe đỗ, Bảng hiện thị số xe trong bãi sẽ báo đầy và đèn stop ở lối vào sáng lên, không tiếp nhận thêm xe vào bãi
Khi xe ra, xe sẽ dừng lại trước barie ở lối ra:
- Khách hàng đăng ký theo tháng sẽ quẹt thẻ vào máy đọc thẻ Camera
ở lối ra sẽ chụp lại biển số xe Máy tính sẽ so sánh hình ảnh biển số mới chụp được và biển số đã được lưu trữ lúc xe vào Nếu khớp, máy tính sẽ xuất tín hiệu cho PLC mở barie ra Nếu không khớp, máy tính
sẽ cảnh báo cho nhân viên điều hành
- Khách vãng lai sẽ trả lại thẻ cho nhân viên điều hành và trả tiền cho nhân viên Nhân viên điều hành sẽ quẹt thẻ vào máy đọc thẻ Camera
ở lối ra sẽ chụp lại biển số xe Máy tính sẽ so sánh hình ảnh biển số mới chụp được và biển số đã được lưu trữ lúc xe vào Nếu khớp, nhân viên điều hành có thể bấm nút mở barie để xe ra Nếu không khớp, máy tính sẽ cảnh báo cho nhân viên điều hành
- Khi cảm biến CB2 tác động lần 2 tức là bánh sau của xe đi qua cảm biến, Barie sẽ tự động đóng lại chờ khách tiếp theo đi ra
Khi có hỏa hoạn: cảm biến hỏa hoạn sẽ tác động, PLC điều khiển mở van nước cho hệ thống chữa cháy tự động, Bật còi báo động, Cả barie lối vào
và lối ra đều mở, Đèn stop sáng lên không cho xe vào
Trang 8CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ PLC S7-200 CỦA SIEMENS
vu kiểm tra trước khi dịch sang mã máy
Đèn Ix.x - màu xanh: Chỉ định trạng thái On/Off của đầu vào số
Đèn Qx.x - màu xanh: Chỉ định trạng thái On/Off của đầu ra số
Port truyền thông nối tiếp: RS 485 protocol, 9 chân sử dụng cho vào phối ghép với PC, TG, TD200, TD200C, OP, mạng biến tần, mạng công nghiệp
Tốc độ truyền - nhận dữ liệu theo kiểu PPI ở tốc độ chuẩn là 9600 baud
Tốc độ truyền - nhận dữ liệu theo kiểu Freeport là 300 ÷38400 baud
b Công tắc chọn chế độ
Công tắc chọn chế độ RUN: Cho phép PLC thực hiện chương trình, khi chương trình gặp lỗi hoặc gặp lệnh STOP thì PLC sẽ tự động chuyển sang chế độ STOP mặc dù công tắc vẫn ở chế độ RUN (nên quan sát đèn trạng thái)
Công tắc chọn chế độ STOP: Khi chuyển sang chế độ STOP, dừng cưỡng bức chương trình đang chạy, các tín hiệu ra lúc này đều về Off
Công tắc chọn chế độ TERM: Cho phép người vận hành chọn một trong hai chế độ RUN/STOP từ xa, ở chế độ này được dùng để Download chương trình người dùng
Trang 9Sử dụng tụ vạn năng và pin Khi năng lượng của tụ bị cạn kiệt PLC sẽ tự động chuyển sang sử dụng năng lượng từ pin
2.1.2 Giao tiếp với thiết bị ngoại vi
a Thiết bị lập trình loại PGxx được trang bị sẵn phần mềm lập trình, chỉ lập trình được với ngôn ngữ STL
b.Máy tính PC: Hệ điều hành Win 95/98/ME/2000/NT4x…Trên đó cài phần mêm Step7 Micro/Win 32 và Stp7 Micro/Dos
c Giao tiếp với mạng công nghiệp
Nếu là mạng PPI thì chỉ cần đầu nối và nối trực tiếp vào Port truyền thông của CPU
Nếu là mạng Profibus – DP phải có thêm modul EM277
Nếu là mạng AS-I phải có thêm modul CP 243-2
Ngoài ra còn có thêm TD200 (Text Display) dùng để hiển thị và thông báo bằng text, có thể điều chỉnh trực tiếp giá trị của biến trong chương trình người dùng, đóng vai trò như một panel vận hành
Hình 2.1: Sơ đồ mạch giao tiếp giữa CPU 221 loại AC/DC/RLY và cơ cấu chấp
hành
Trang 10Hình 2.2: Sơ đồ mạch giao tiếp giữa CPU 224 AC/DC/RLY với sensor và cơ cấu
Vùng nhớ chương trình: Là miền bộ nhớ được dùng để lưu giữ các lệnh, chương trình Vùng này thuộc kiểu non-valatile đọc ghi được
Trang 11 Vùng nhớ tham số: Là miền lưu giữ các tham số như từ khóa, địa chỉ trạm… cũng giống như vùng chương trình, vùng này thuộc kiểu (non-valatile) đọc/ghi được
Vùng dữ liệu: Được sử dụng để cắt các dữ liệu của chương trình bao gồm kết quả các phép tính, hằng số được định nghĩa trong chương trình, bộ đệm truyền thông…
Vùng đối tượng: Timer, bộ đếm, bộ đếm tốc độ cao và các cổng vào/ra tương
tự được đặt trong vùng nhớ cuối cùng
Hai vùng nhớ cuối cùng có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện một chương trình Do vậy sẽ được trình bày chi tiết ở mục tiếp theo
Hình 2.4: Bộ nhớ trong và ngoài của S7-200
2.2.2 Vùng nhớ dữ liệu, đối tượng và cách truy nhập
Vùng nhớ dữ liệu là vùng nhớ động, nó có thể truy cập theo từng bit, byte,
từ đơn (word), từ kép (double word) và cũng có thể truy nhập được với
độ cao, bộ đệm vào/ra tương tự và các thanh ghi AC (Accumulator)
Vùng nhớ dữ liệu và đối tượng được chia ra nhiều miền nhớ nhỏvới những ứng dụng khác nhau Chúng được ký hiệu bằng chữ cái đầu của tên tiếng Anh
Trang 122.3 NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH S7-200
Lập trình cho S7-200 và các PLC khác của hãng Siemens dựa trên 3 phương pháp
cơ bản:
Phương pháp hình thang (Ladder logic _ LAD)
Phương pháp khối hàm (Function Block Diagram_ FBD)
Phương pháp liệt kê câu lệnh (Statement List _ STL)
Những lệnh này phải phối hợp được trạng thái các tiếp điểm để quyết định về giá trị trạng thái đầu ra hoặc giá trị logic cho phép hoặc không cho phép thực chức năng của một (hay nhiều) cuộn dây hoặc hộp Trong lập trình lôgic thường hay sử dụng hai ngôn ngữ LAD và STL vì nó gần gũi hơn đối với chuyên ngành điện
Cuộn dây (coil):
Hộp (box): Mô tảcác hàmkhác nhau, nó làmviệc khi có tín hiệu đưa đến hộp Có các nhóm hộp sau: hộp các bộ định thời, hộp các bộ đếm, hộp di chuyển dữ liệu, hộp các hàm toán học, hộp trong truyền thông mạng
Mạng LAD: Là mạch nối các phần tử thành một mạng hoàn thiện, các phần
tử như cuộn dây hoặc các hộp phải được mắc đúng chiều Nguồn điện có hai đường chính, một đường bên trái thể hiện dây nóng, một đường bên phải là dây trung tính (neutral) nhưng không được thể hiện trên giao diện lập trình Một mạch làm việc được khi các phần tử được mắc đúng chiều và kín mạch
2.3.2 Định nghĩa về STL
Là phương pháp thể hiện chương trình dưới dạng tập hợp các câu lệnh Để tạo ra một chương trình bằng STL, người lập trình cần phải hiểu rõ phương thức sử dụng
9 bit trong ngăn xếp (stack) logic của S7-200
Ngăn xếp là một khối 9 bit chồng lên nhau từ S0÷S8, nhưng tất cả các thuật toán liên quan đến ngăn xếp đều làm việc với bit đầu tiên và bit thứ hai (S0 và S1) của ngăn xếp Giá trị logic mới có thể được gởi hoặc nối thêm vào ngăn xếp Hai bit S0 và S1 phối hợp với nhau thì ngăn xếp được kéo lên một bit
Ngăn xếp của S7 200 (logic stack)
Trang 132.3.3 Vòng quét (thực hiện chương trình) và cấu trúc của một
chương trình:
PLC thực hiện chương trình theo vòng lặp Mỗi vòng lặp được gọi là vòng quét (scan)
Các giai đoạn của vòng quét:
Reading the inputs (đọc tín hiệu đầu vào)
Executing the program (thực hiện chương trình)
Processing any communication requets (xử lí các yêu cầu về liên lạc)
Executing the CPU self-test diagnostics (CPU tự kiểm tra, chuẩn đoán)
Writing to the outputs (xuất tín hiệu ở đầu ra)
Khi gặp lệnh vào/ra tức thời ngay lập tức hệ thống dừng tất cả mọi công việc khác, ngay cả chương trình xử lý ngắt để thực hiện chương trình này trực tiếp với cổng vào/ra
Nếu sử dụng các chế độ ngắt, chương trình con tương ứng với từng tín hiệu ngắt được soạn thảo và cài đặt như một bộ phận của chương trình Chương trình xử lý ngắt chỉ được thực hiện trong vòng quét khi xuất hiện tín hiệu báo ngắt và có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào trong vòng quét
2.3.4 Tập lệnh S7-200
Tập lệnh của S7-200 được chia làm 3 nhóm:
a) Các lệnh mà khi thực hiện thì làm việc độc lập không phụ thuộc vào giá trị logic của bit đầu tiên trong ngăn xếp (gọi là nhóm lệnh không điều kiện) b) Các lệnh chỉ thực hiện khi bit đầu tiên trong ngăn xếp có giá trị bằng 1 c) Các nhãn lệnh đánh dấu vị trí trong tập lệnh
2.3.5 Cú pháp và cách ứng dụng SIMATIC struction S7-200
a) SIMATIC Bit Logic Instructions
Trang 14STL LAD Mô tả Toán hạng
Kiểu
dữ liệu
NOT Đảo giá trị logic của bit đầu tiên
EU
Bit đầu tiên trong ngăn xếp có giá trịbằng 1 (trong khoảng thời gian đúng bằng 1 chu kỳvòng quét) khi phát hiện sườn lên của tín hiệu đầu vào
<= 128 tiếp điểm)
bit: I, Q, M, V,
SM,
T, C, S, L Bool
Trang 15b) SIMATIC Timer Instructions
>= giá trị đặt trước trong thanh ghi PT thì bit trạng thái Txxx của
bộ Timer là ON Giá trị đếm tức thời trong thanh ghi CT =0 và bit trạng thái về off khi tín hiệu ở đầu vào là off Ngược lại với bộTON, thanh ghi CV và bit trạng thái vẫn giữ nguyên trừ khi
có lệnh Reset bộTONR Ngoài ra
có thể sử dụng lệnh Reset đểxoá thanh ghi tức thời cũng như bit trạng thái của bộ TON Ta có thể
sử dụng toán hạng Word (INT) tương ứng với lệnh INT hay toán hạng bit tương ứng với bit trạng thái
Txxx:
Constant word
power flow
bool
PT: IW,
QW,
MW, SMW,
VW, LW,
SW, AIW, T,
C, AC, Constant,
Trang 16EN) Có thể xoá CT và Txxx bằng lệnh Reset
c) SIMATIC Counter Instructions (Count Up, Count Up Down, Count Down)
Kiểu
dữ liệu
Bộ đếm ngừng đếmkhi giá trị đếm đạt giá trị cực đại
Khai báo bộ đếm tiến/lùi;
đếm tiến theo sườn lên của tín hiệu đầu vào CU, đếmlùi theo sườn lên của tín hiệu đầu vào CD Khi giá trị đếm tức thời C-Word lớn hơn hoặc bằng giá trị đặt trước
PV, htì bit trạng thái Cxxx
có giá trị bằng 1 Bộ đếm được Reset khi R có giá trị logic bằng 1 Bộ đếm dừng đếm tiến khi giá trị đếm đạt giá trị cực đại 32767 Bộ đếm ngừng đếm lùi khi giá trị đếm đạt giá trịcực đại -
32768 CTUD reset khi đầu vào R có giá trị logic bằng 1
Cxxx:
Constant word
EU, ED, R : power flow Bool
PT: IW, QW,
MW, SMW,
VW, LW, SW, AIW, T, C,
AC, Constant,
∗VD, ∗AC,
∗LD
INT
Trang 17lên của tín hiệu đầu vào CD
Khi có sườn lên tại LD, giá trị
đặt trước PV được load vào thanh tức thời C-Word Mỗi khi có sườn lên tại CD, giá trị
trong C-Word giảm đi 1 đơn
vị, cho đến khi C-Word = 0 thì
bít trạng thái Cbit= 1
d) SIMATIC thời gian thực READ_RTC
Lệnh READ_RTC là lệnh đọc nội dung của đồng hồ thời gian thực vào bộ đếm 8 byte
Cấu trúc lệnh như sau:
Những giá trị đọc được với đồng hồ thời gian thực là các giá trị về ngày, tháng, năm và các giá trị về giờ phút, giây Các giá trị này có độ dài một byte và phải được mã hóa theo kiểu số nhị thập phân BCD Chúng nằm trong bộ đếm gồm 8 byte liền nhau từ VB0 đến VB7 theo thứ tự như sau:
Trang 18CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH LOGIC
ĐIỀU KHIỂN BÃI ĐỖ XE TỰ ĐỘNG DÙNG PLC S7-200
3.1 GIỚI THIỆU THIẾT BỊ VÀ CÁC ĐẦU VÀO RA
3.1.1 Barrier tự động
Hình 3.1 Barrier tự động
Barrier là cơ cấu chấp hành đặt ở lối vào và ra bãi đỗ xe, ngăn không cho
xe vào ra một cách tự do Mỗi barrier gồm có một động cơ có thể đảo chiều và 2 công tắc hành trình Tổng cộng mỗi barrie sẽ có 2 đầu vào và 2 đầu ra Đầu vào
1 tác động, động cơ sẽ quay thuận mở barrier Đầu vào 2 tác động, động cơ sẽ quay ngược đóng barrier Hai đầu vào này không được phép tác động cùng một lúc Khi barrier ở vị trí hạ xuống nằm ngang, công tắc hành trình hạ tác động đầu ra 1 Khi barrier ở vị trí nâng lên thẳng đứng, công tắc hành trình nâng tác động đầu ra 2
và lưu lại thông số tương ứng với thẻ đó vào hệ thống máy tính, đồng thời hệ thống quản lý sẽ xuất tín hiệu ở một đầu ra cho PLC báo cho phép xe vào