1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Mơ mộng để sáng tạo

3 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 3,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đội ngũ những người thầy đầu tiên cĩ cơng xây dựng ngành Ngữ Văn, tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từng cĩ thời kỳ được gọi là Văn Khoa - Tổng hợp, giáo sư Đỗ Đức Hiểu thuộc thế

Trang 1

KỈ NIỆM 20 NĂM CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH VỀ ĐHQGHN (1993 - 2013)

Giáo sư, Nhà giáo ưu tú Đỗ Đức

Hiểu, sinh ngày 16/9/1924 tại Xã

Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội, mất

ngày 27 tháng 3 năm 2003 Trong đội

ngũ những người thầy đầu tiên cĩ cơng

xây dựng ngành Ngữ Văn, tại Trường Đại

học Tổng hợp Hà Nội (từng cĩ thời kỳ

được gọi là Văn Khoa - Tổng hợp), giáo

sư Đỗ Đức Hiểu thuộc thế hệ thứ hai, sau

các học giả hàng đầu của ngành Ngữ

văn, gồm Đặng Thai Mai, Hồi Thanh,

Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Tường,

Hồng Xuân Nhị Nhắc đến thế hệ các

nhà giáo, nhà nghiên cứu, trong lĩnh vực

giảng dạy, nghiên cứu khoa học xã hội

nĩi chung và Ngữ văn nĩi riêng lúc bấy

giờ, tại cái nơi Văn khoa - Tổng hợp, hẳn

sẽ cịn lâu lắm, chúng ta mới cĩ đủ “giấy

bút” để nĩi được hết cơng lao của họ Giáo sư Đỗ Đức Hiểu

thuộc số những tên tuổi danh giá nhất

Tơi biết Giáo sư Đỗ Đức Hiểu cĩ phần hơi muộn, phải đến đầu

những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng cĩ may mắn được gần

gũi, học, làm việc, chia sẻ tâm sự và nhờ thế mà hiểu được ít

nhiều về ơng Quả thật khơng khĩ cĩ thể hình dung lại ơng

ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ, và cả phút cuối cùng phải vĩnh viễn

xa ơng Ở khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp, Hà Nội, ơng

là người “đầy cá tính” Gần như tất cả các thế hệ đồng nghiệp

và học trị của ơng đều dễ dàng hình dung ra một Đỗ Đức Hiểu

thế này: gầy gị, xanh xao, đơi khi cĩ cảm giác “thiếu sức sống”,

ngồi gần nĩi chuyện với ai thì chỉ thì thầm nhẹ nhàng, nhưng

khi giảng bài thì giọng ơng âm vang như sĩng biển ngày lộng

giĩ (ngồi ở phía cuối lớp vẫn cĩ thể nghe được hết từng âm

thanh rành rọt) Sức làm việc của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu thật sự

phi thường Thật khĩ ai cĩ thể hình dung nổi, một người bị cắt

tới hai phần ba dạ dày ngay từ tuổi thanh niên, hình hài chẳng

khác nào một cây sậy, vậy mà vẫn đạp xe đều đặn, dù mưa hay

nắng khơng hề sai giờ, từ 26 phố Hàng Bài vào ký túc xá Mễ

Trì, nơi đĩng đơ của hai khoa Văn, Sử những năm 70, khi cịn

là Phĩ Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn Đêm về, ơng lại “cịng lưng”

xuống những trang sách (do mắt kém), để cho ra đời hàng ngàn trang viết mơ mộng

và sáng tạo Những năm cuối đời do bệnh tật, giữa những cơn đau, tơi biết, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu vẫn đọc, làm việc, mặc dù, dường như đã đến lúc sức khoẻ khơng cho phép ơng cịn đủ minh mẫn để viết ra những ý tưởng sáng tạo của mình

Đúng ra, nếu khơng cĩ sự biến thiên của cuộc đời, cứ theo vào sự lựa chọn ban đầu,

lẽ ra Đỗ Đức Hiểu phải trở thành một luật sư, hay nếu khác hơn một chút, ơng đã là một cơng chức hành nghề luật Đỗ tú tài năm

1943, ơng vào học ban luật, cùng thế hệ với nhà văn Nguyễn Đình Thi, lúc đĩ học triết Khá lâu sau này, cả hai, cuối cùng lựa chọn con đường văn chương, một bên, Đỗ Đức Hiểu, chọn giảng dạy và nghiên cứu; và bên kia, Nguyễn Đình Thi, chọn sáng tác Cả hai đều giống nhau là khơng đi đến tận cùng sự lựa chọn ban đầu của mình Kháng chiến bùng nổ, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, hai ơng rời Trường Pháp lên chiến khu Với Nguyễn Đình Thi, hình như một chút “máu nghề nghiệp” ban đầu vẫn cịn theo đuổi ơng cho đến tận những ngày đầu tham gia kháng chiến chống Pháp Ơng viết khá nhiều cơng trình nghiên cứu triết học

in trên một số báo, tạp chí lúc bấy giờ; cịn Đỗ Đức Hiểu, hình như, sự lựa chọn ban đầu muốn trở thành luật sư, hay chí ít cũng

là một cơng chức dính líu với luật, thế nhưng cuối cùng, ơng khơng để lại bất cứ dấu vết nào Ơng giống nhà hài kịch Pháp thế kỷ XVII, Molière, người mà ơng dành rất nhiều tâm huyết trong bộ giáo trình Lịch sử văn học Pháp, cũng từ bỏ lựa chọn ban đầu là nghề trạng sư, để dấn thân vào con đường nghệ thuật sân khấu Với Đỗ Đức Hiểu, một chút dấu vết nghề nghiệp ban đầu cĩ chăng chỉ cịn được bộc lộ phần nào qua cách ơng trình bày hay diễn thuyết một vấn đề gì mà ơng cho là tâm đắc; hay khi phải bộc lộ chính kiến, hoặc nữa phản bác một vấn đề

gì mà ơng khơng bằng lịng Lúc đĩ, những lý lẽ của ơng thật

vơ cùng sắc bén Cĩ lẽ, tất cả cịn lại chỉ là như thế Cịn thì, văn chương dường như đã là một sự “lựa chọn định mệnh” với ơng

Mơ mộng để sáng tạo

GS.NGƯT Đỗ Đức Hiểu

TRẦN HINH

85

Số 272 + 273 - 2013

Trang 2

Chính xác, từ ngay sau năm 1945, nghĩa

là ngay sau khi rời giảng đường Luật, 19

Lê Thánh Tơng, cho đến tận những ngày

cuối đời, ơng chỉ “đau đáu” duy nhất với

một con đường định sẵn - văn chương -

khi là một nhà giáo gõ đầu trẻ ở Trường

Phổ thơng Trung học Phú Thọ; rồi Trường

Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên, lúc là

giáo sư ở Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học

Tổng hợp, Hà Nội; và cĩ khi trong cơng

việc một giáo sư Tây học với đúng nghĩa,

dạy tiếng Pháp tận bên Nam Kinh, Trung

Quốc; và lúc khác nữa, là cơng chức ban

Tu thư của Bộ Giáo dục Đào tạo, tổ chức

biên soạn sách giáo khoa phổ thơng Dù

“viễn du” trong nhiều lĩnh vực khác

nhau đến như thế, tất cả mọi cơng

việc của ơng vẫn đều gắn bĩ “duyên

nợ” với văn chương Cĩ lẽ vì thế sau

này, ta sẽ thấy một Đỗ Đức Hiểu luơn

quảng bác trong sự nghiệp văn học

của mình Thật rất khĩ cĩ thể xếp ơng

chỉ riêng vào một lĩnh vực chật hẹp

nào đĩ Chẳng hạn, nếu cho rằng

ơng là một chuyên gia cĩ hạng về văn

học phương Tây, điều đĩ đúng nhưng

chưa đủ Bởi lẽ, bên cạnh những trang

viết sắc sảo về mảng văn học này, ta

cịn bắt gặp khơng ít những trang viết

tinh tế, sâu sắc của ơng về văn học Việt

Nam; thậm chí nhiều người cho rằng,

ơng phải là một chuyên gia về văn

học Việt Nam mới đúng Đành là như

vậy, đã cĩ thời kỳ, từ 1955 đến 1958,

ơng tham gia viết sách giáo khoa tại

Ban Tu thư, Bộ ĐH&THCN (nay là Bộ

Giáo dục & Đào tạo), đồng thời cũng là

thành viên của nhĩm Lê Quý Đơn, những

nhà Tây học và Việt Nam học cự phách

một thời, gồm Vũ Đình Liên, Huỳnh Lý,

Lê Trí Viễn dịch Những người khốn khổ,

trong một thứ tiếng Việt thấm đẫm tinh

thần Hugo, mà cũng rất Việt Nam Cịn

nữa, đọc những trang viết của Đỗ Đức

Hiểu, cĩ lúc, người ta nhận ra trong đĩ

kiến thức của một bậc hàn lâm, bởi lẽ,

từ cách đặt vấn đề, lý giải vấn đề đến

dẫn giải tư liệu, phân tích văn bản, ơng

khơng khác gì một giáo sư Pháp học thực

sự; lại cĩ khi, ơng viết những trang văn

trong trẻo, réo rắt như một “cậu học trị”

phổ thơng Và thật khĩ “định giá” phẩm

chất nào ưu thế hơn phẩm chất nào (?)

Nhà giáo, người đồng nghiệp gần gũi

và hiểu ơng nhất trong nhiều năm, nhà giáo Nhân dân Lê Hồng Sâm, trong một bài viết ngắn sau khi ơng qua đời, đã cĩ một nhận xét rất chính xác rằng, ở ơng

“cĩ lắm chất hugolien, rõ nhất là những tương phản: nhà Tây học và ơng đồ, rụt

rè và can đảm, tuổi già và suy nghĩ trẻ trung ” Quả là phải rất hiểu ơng mới rút ra được nhận xét tinh tế đĩ Và đĩ chưa phải đã hết, tơi cho rằng, điều quan trọng hơn, cần phải làm rõ phẩm chất con người và cơng việc của ơng như thế này: chính nhờ ở những đối nghịch, mà ơng đồng thời cũng luơn là người khơng ngừng mơ mộng Mơ mộng và sáng tạo

là hai mặt thống nhất trong tồn bộ sự nghiệp của ơng Soi sáng tồn bộ sự nghiệp của Đỗ Đức Hiểu, chúng ta sẽ hiểu được rõ hơn điều đĩ

Cĩ thể khẳng định, Đỗ Đức Hiểu bắt đầu đến với văn chương bằng sự say mê và trải nghiệm từ nền văn học dân tộc, văn học Việt Nam Những năm cuối đời, trong tâm sự với nhà phê bình Trung Đức, ơng viết: sau khi đã “viễn du” sang “tận trời Tây” lang thang bên Trường Giang, bên sơng Tiền Đường, ngồi bên Tây Hồ, Tơ Châu, Bắc Kinh, Nam Kinh, Thượng Hải (thời gian sang Đại học Tổng hợp Nam Kinh, dạy tiếng Pháp) Cĩ khi tơi lang thang bên bờ sơng Seine, trong vườn Luxembourg, ngồi ở ghế dưới tượng George Sand, cĩ khi ngắm nhìn Mona

Lisa ở Louvre, Eiffel, Nhà thờ Đức Bà, Điện Panthéon (thời kỳ sang Trường Đại học Paris VII, nghiên cứu phương pháp viết lịch sử văn học Pháp) ”, ơng lại trở về với mình, với những gì thân quen trong vườn văn chương dân tộc, để viết những điều tâm đắc thứ văn chương tiếng Việt thân yêu nhất của mình Về văn học Việt Nam, thực ra, ơng đã say mê và gắn bĩ với

nĩ từ bé Say mê văn học Pháp, nhưng

Đỗ Đức Hiểu khơng bắt đầu sự nghiệp của mình bằng nền văn chương này

Cĩ lẽ, điều đĩ hồn tồn dễ hiểu: ơng khơng được đào tạo thật sự chính quy Ban đầu ơng vốn là sinh viên luật Mặc

dù sự nghiệp giảng dạy, nghiên cứu văn học Pháp, gắn bĩ với ơng gần năm chục năm trời (thành tựu quan trọng của ơng cũng là ở mảng văn học này), nhưng phải đến năm

1958, khi rời Ban Tu thư về Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp, vốn liếng về văn học Pháp, như ơng nĩi, là do “tự đào tạo” Trong khi đĩ, vốn kiến thức về văn học Việt Nam, ơng đã tích luỹ nĩ từ rất lâu Sinh ra trong một gia đình trí thức, yêu nghề dạy học, ơng đã được người cha động viên và khích

lệ rất nhiều Từ tận đáy sâu tâm hồn mình, ơng nhớ lại, tơi “ca hát” Ba năm trấn thủ lưu đồn ” Nàng Tơ thị, Thiếu phụ Nam Xương, Mày ai trăng mới in ngần, Phấn thu hương

cũ bội phần xĩt xa ” Nhà giáo Ưu

tú Đặng Thị Hạnh, một đồng nghiệp khác cũng rất gần gũi và hiểu bậc “đàn anh” của mình, đã kể lại, lần đầu tiên gặp và dự giờ giảng của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu tại Trường Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên, như sau: “Khi vừa chân ướt chân ráo về trường, tơi đã được dự một giờ dạy văn của anh Đỗ Đức Hiểu Sau này, tơi

sẽ cùng ở tổ bộ mơn với anh nhiều năm, nhưng năm tháng trơi qua, từ lần gặp đầu tiên cho đến mấy chục năm sau, lúc anh ra đi, về diện mạo và tính cách, tơi thấy, hầu như anh khơng hề thay đổi, Năm anh khoảng 75 tuổi, một cậu học sinh Trường Tổng hợp gặp lại thầy, sau nhiều năm đã tuyên bố: “thầy vẫn trẻ như xưa, bởi từ xưa thầy đã già” Cĩ thể nĩi về anh bằng cách mượn câu thơ Tố Hữu đã miêu tả một cơ gái anh hùng nổi

Chấp nhận một cuộc sống đạm bạc cho đến tận cuối đời, Giáo

sư - Nhà giáo Ưu tú Đỗ Đức Hiểu khơng bao giờ thơi suy nghĩ:

sống cĩ nghĩa là phải biết mơ mộng và sáng tạo Chính vì vậy, trong cơng việc chuyên mơn của mình, nhất là trong nghiên cứu

và giảng dạy, nỗi lo sợ nhất của ơng là khơng “hiện đại hố” được bản thân mình Rồi cịn cả nỗi lo biến mình thành một bản sao của người khác, hoặc nữa “biến người khác” (thế hệ học trị) thành bản sao của mình Sự mơ mộng sáng tạo khơng cho phép người ta

mắc phải sai lầm đĩ.

VNU

20 năm C on người vaø T hành tựu

86 Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

KỈ NIỆM 20 NĂM CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH VỀ ĐHQGHN (1993 - 2013)

tiếng (anh “có tuổi hay không có tuổi”)

Vào lớp cùng đồng nghiệp, ngồi xuống

bàn cuối, tôi thấy một người đàn ông cao

và gày nhom, mắt hay ngước lên trời, vẻ

đầy cảm hứng Nhưng khi anh bắt đầu

giảng bằng cái giọng the thé (nhất là khi

anh bốc lên) - điều đáng ngạc nhiên là

giọng đó và vẻ đó không có gì nực cười

- cả lớp im phăng phắc ” (Cô bé nhìn

mưa, NXB Phụ nữ, 2008)

Là một bậc trí giả nhưng Đỗ Đức Hiểu

luôn biết tôn trọng người đọc khi mang

đến cho họ những tri thức, kiến giải à la

portée de tous (trong tầm tay của tất cả

mọi người) Với ông, tất cả những gì khi

được viết ra trên trang giấy, đều phải rõ

ràng, minh bạch, dễ hiểu Đó là sự bền

bỉ, rèn rũa và nỗi day dứt, băn khoăn

trong suốt hơn năm mươi năm cầm bút

của một người dạy học Nhà giáo Nhân

dân Lê Hồng Sâm, từng kể lại một câu

chuyện nhỏ rằng “Có lần, trước một bài

viết rối rắm, trong khi nhiều người “sổ

toẹt” không nề hà, anh (Đỗ Đức Hiểu –

TH) nhũn nhặn, đắn đo: cậu ấy nói gì ấy

nhỉ, tôi đọc bốn lần vẫn chưa hiểu ra”

Ấy là một cách phản ứng “lịch thiệp”

của Đỗ Đức Hiểu trước lối nghiên cứu

văn chương “tắc tị, khoe chữ”, lòe người

đọc Đỗ Đức Hiểu không bao giờ lấy thế

“bề trên”, “thâm niên” hay “cây đa, cây

đề” để trùm lên che khuất những cây con

phía dưới Trong lĩnh vực dịch thuật, Đỗ

Đức Hiểu để lại không ít những trang văn

của các nhà văn mà người ta vẫn quen

gọi là “classique” (thường được giảng dạy trong nhà trường) Nhà giáo nhân dân Lê Hồng Sâm viết: “Những đóng góp lớn trong lĩnh vực dịch thuật – cũng như lĩnh vực phê bình - của một nhà giáo yêu nghề đến như vậy, theo tôi, trước hết nhằm mục đích đào tạo Không kể những truyện nổi tiếng dành cho thiếu nhi, các tác phẩm anh dịch thuộc một

số tác giả tiêu biểu trong lịch sử văn học Pháp: Tartuffe, Anh ghét đời, Lão hà tiện của Molière (thế kỉ XVII), Paul và Virginie của Bernadin de Saint – Pierre (thế kỷ XVIII), kịch Marion Delorme và tiểu thuyết

Những người khốn khổ (dịch chung) của

V.Hugo (thế kỷ XIX) Trong bộ Tuyển tác phẩm văn học Pháp song ngữ, do anh và tôi đồng phụ trách, anh chủ biên và dịch phần lớn tập II (thế kỉ XVII) Anh đã dịch những trang cuối cùng của đời mình vào dịp kỉ niệm 200 năm sinh Balzac, đó là Lời

nói đầu bộ Tấn trò đời”.

Trong gần nửa thế kỷ làm nghề dạy học, gắn bó với nhiều thế hệ học trò, Giáo sư – Nhà giáo Ưu tú Đỗ Đức Hiểu

đã để lại hàng ngàn trang viết, gồm giáo trình, nghiên cứu lý thuyết, dịch thuật và một tấm gương lao động hết mình vì sự nghiệp giáo dục Mười năm cuối cuộc đời (khoảng từ 1992 đến 2002), khi tự biết sức khỏe của mình không còn nhiều, ông

đã dành tâm huyết viết ba công trình về đổi mới cách đọc văn chương Đỗ Đức Hiểu viết cứ như nếu không giành giật lấy nó để mơ mộng và sáng tạo, thì ông

không còn thời gian nữa Ba tập sách cuối

đời Đổi mới phê bình văn học (1993), Đổi

mới đọc và bình văn (1999), Thi pháp hiện đại (2000), ra đời khi thế kỷ XX vừa

khép lại Mười năm sau ngày ông qua đời, những bài viết mơ mộng và sáng tạo nhất của giáo sư Đỗ Đức Hiểu trong ba công trình trên đã được người học trò của ông – nhà giáo Trần Hinh – biên soạn và giới thiệu dưới cái tên Thi pháp hiện đại – Một số vấn đề lí luận và ứng dụng (NXB Giáo dục, 2012, 700 trang) Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã có những nhận xét tinh tế về ông như sau: “Những trang viết của ông in dấu những run rẩy, vừa

quả quyết, vừa ngỡ ngàng của một nhà nghiên cứu đang muốn nghĩ về cái mới” Chấp nhận một cuộc sống đạm bạc cho đến tận cuối đời, Giáo sư – Nhà giáo Ưu

tú Đỗ Đức Hiểu không bao giờ thôi suy nghĩ: sống có nghĩa là phải biết mơ mộng

và sáng tạo Chính vì vậy, trong công việc chuyên môn của mình, nhất là trong nghiên cứu và giảng dạy, nỗi lo sợ nhất của ông là không “hiện đại hoá” được bản thân mình Rồi còn cả nỗi lo biến mình thành một bản sao của người khác, hoặc nữa “biến người khác” (thế hệ học trò) thành bản sao của mình Sự mơ mộng sáng tạo không cho phép người ta mắc phải sai lầm đó Đó là lời căn dặn của một người thầy tôi không bao giờ quên

Là một bậc trí giả nhưng Đỗ Đức Hiểu luôn biết tôn trọng người đọc

khi mang đến cho họ những tri thức,

kiến giải à la portée de tous (trong

tầm tay của tất cả mọi người) Với

ông, tất cả những gì khi được viết

ra trên trang giấy, đều phải rõ ràng,

minh bạch, dễ hiểu Đó là sự bền bỉ,

rèn rũa và nỗi day dứt, băn khoăn

trong suốt hơn năm mươi năm cầm

bút của một người dạy học.

87

Số 272 + 273 - 2013

Ngày đăng: 16/12/2017, 22:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w