Mạc khải của Thiên Chúa đã đến với những con người cụ thể trong một không gian và thời gian xác định.. A.Tìm hiểu bản văn Sáng Thế 1,1- 2,4a 1- Kết cấu đoạn văn Đoạn văn về tạo dựng này
Trang 1LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ
MỤC LỤC
NHẬP ĐỀ : LỊCH SỬ CỨU ĐỘ VÀ MẠC KHẢI
PHẦN I : CỰU ƯỚC : CHUẨN BỊ ƠN CỨU ĐỘ
Chương 1 : Sáng thế – con người – sự tội Chương 2 : Gia đình - dân tộc – tôn giáo Chương 3 : Quốc gia – vương quốc Chương 4 : Nam bắc phân tranh – các ngôn sứ Chương 5 : Lưu đầy – Hồi Hương – Do Thái Giáo
PHẦN II : TÂN ƯỚC : BAN ƠN CỨU ĐỘ
Chương 6 : Đức Kitô hoàn tất ơn cứu độ Chương 7 : Thông phần vào ơn cứu độ Chương 8 : Ơn cứu độ được lan rộng
PHẦN MỘT CỰU ƯỚC
CHUẨN BỊ ƠN CỨU ĐỘ CỰU ƯỚC LÀ GÌ ?
1- Xét về hình thức :
Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận Cựu Ước có 46 cuốn, thuộc nhiều thể văn khác nhau : lịch sử, luật pháp, giáo huấn, giảng thuyết, thi ca… do nhiều tác giả viết vào nhiều thời kỳ khác nhau, rải rắc từ khoảng 100 năm đến hơn 1.000 năm trước khi Chúa Giêsu sinh ra
2- Xét theo nội dung :
Cựu Ước là lịch sử dân tộc Israel (Do Thái) Mạc khải của Thiên Chúa đã đến với những con người cụ thể trong một không gian và thời gian xác định
Cựu Ước là một lịch sử có tính cách tôn giáo Dân Israel chỉ là một dân nhỏ bé nhưng đã được Thiên Chúa tuyển chọn và ban giao ước Lịch sử dân Israel thuật lại những
Trang 2liên lạc giữa Thiên Chúa và dân Người Vì vậy Cựu Ước còn chứa đựng những giáo huấn cao siêu về Thiên Chúa và vận mệnh của con người
Cựu Ước là một lịch sử hướng về tương lai Cựu Ước huớng đến việc thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại Cựu Ước tự mình chưa đầy đủ Mạc khải về
ý định cứu độ của Thiên Chúa chỉ được hoàn tất nơi Đức Kitô
Cựu Ước hướng tới Đức Kitô, báo trước và chuẩn bị cho Người Chính vì thế mà Cựu Ước vẫn còn giá trị quan trong đối với các Kitô hữu chúng ta (x.MK 3.4.15)
Chương 1 :
SÁNG THẾ – CON NGƯỜI – SỰ TỘI
I- SÁNG THẾ :
11 chương đầu của Sách Sáng Thế nhằm trả lời những thắc mắc của con người về những ý nghĩa quan trọng trong đời sống con người như :
- Vũ trụ và con người bởi đâu mà có ?
- Con người là gì ?
- Tại sao lại có đau khổ, sự dữ ?
- Loài người có hy vọng nào không ? Chết rồi ra sao ?
Như vậy những chương này là một suy tư thần học về vũ trụ và định mệnh của con người Hình thức diễn tả những suy tư ấy lệ thuộc vào nền văn hoá của nơi chốn và thời đại mà bản văn được viết ra Các tác giả đã dùng ngôn ngữ biểu tượng theo những quan niệm bình dân về vũ trụ thời bấy giờ
A.Tìm hiểu bản văn Sáng Thế 1,1- 2,4a
1- Kết cấu đoạn văn
Đoạn văn về tạo dựng này có một kết cấu tinh vi : a- Trong mỗi ngày ta gặp thấy những kiểu nói được lập lại như một công thức theo một diễn tiến chung:
Diễn tiến
chung
Công thức ngày thứ nhất
Công thức ngày thứ tư
NHẬP ĐỀ Thiên Chúa đã phán Thiên Chúa đã phán
RA LỆNH Hãy có ánh sáng Hãy có đèn trên trời…
Trang 3MÔ TẢ VIỆC Thiên Chúa phân rẽ sáng với
tối
Thiên Chúa đã làm hai cái đèn lớn…
ĐẶT TÊN
HOẶC CHÚC
PHÚC
Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm
Đèn lớn hơn (mặt trời) để soi ban ngày, đèn nhỏ (mặt trăng) để soi ban
đêm
KẾT THÚC Đã có một buổi chiều và một
buổi sáng
Đó là ngày thứ nhất
Đã có một buổi chiều và một buổi sáng
Đó là ngày thứ tư
b- Khi trình bầy công trình tạo dựng của Thiên Chúa được thực hiện trong 6 ngày, ngày thứ 7 Người nghỉ ngơi Tác giả có ý đem hoạt động của Thiên Chúa làm gương mẫu cho công việc của con người trong một tuần lễ : làm việc 6 ngày và nghỉ 1 ngày
c- Sáu ngày tạo dựng được chia làm 2 giai đoạn song song và có liên hệ với nhau :
Ngày 1 : Sáng – Tối Ngày 4 : Mặt trời – Mặt trăng tinh tú
Ngày 2 : Nước phía
trên-Nước phía dưới
Ngày 5 : Chim trên
trời-cá dưới nước Ngày 3 : Đất (và thảo mộc)– Nước Ngày 6 : Sinh vật-Con Người
Như vậy rõ ràng đây là một sự sắp xếp có chủ ý, một lối diễn tả rất nghệ thuật để giúp cho dễ nhớ, nên không thể hiểu bản văn này theo nghĩa đen của từng chữ
2 Thể văn và mục đích :
Những phân tích trên đây cho thấy bản văn này không phải là một bài nghiên cứu khoa học về quá trình hình thành của vũ trụ Tác giả đã vận dụng cách lập đi lập lại những kiểu nói theo một qui luật (như trong một bài thơ, bài vè) giúp cho dễ nhớ và dễ truyền miệng Ngôn ngữ giầu hình ảnh, có tính chất bình dân và biểu tượng này có mục đích tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa quyền năng là nguồn gốc mọi loài, đồng thời nói lên phẩm giá cao quí của con người trong ý định của Thiên Chúa Chống lại những quan niệm đa thần ngoại giáo của những dân sống chung quanh, ví dụ như :
- Dân Ai Cập thờ thần mặt trời Aton đứng đầu các thần (bản văn St tuyên xưng rằng
mặt trời, mặt trăng chỉ là đèn Chúa làm ra để soi sáng mặt đất).
- Dân Canaan thờ thần El (với hình con bò), thần Baal (thần mưa bão), thần Anat em của Baal (điều khiển chiến tranh, tình yêu, sinh sản) cũng gọi là Astartê…
Trang 4- Dân vùng Lưỡng Hà Địa (Mêsôpôtamia) với câu truyện sáng thế trong chém giết hỗn
loạn của các thần Apsu-Tiamat-Marđuk…(Bản văn St tuyên xưng chỉ có một Thiên
Chúa, và Người tạo dựng trong trật tự…)
B- GIÁO HUẤN CỦA ĐOẠN VĂN
1- Về Thiên Chúa :
a- Thiên Chúa là Đấng duy nhất, siêu việt, hằng hữu và tự hữu, có ngôi vị (vì thế ta phải tôn thờ và yêu mến Người)
b- Thiên Chúa là Đấng quyền năng, tạo dựng mọi sự từ hư vô, bằng lời của Người
c- Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã tạo dựng theo một trật tự tuyệt hảo
2- Về vạn vật :
a- Vạn vật là do Thiên Chúa tạo thành (vì thế không được tôn thờ chúng: mặt trời, tinh
tú, các con vật … ).
b- Mọi sự Thiên Chúa đã tạo thành đều tốt lành (Thiên Chúa không dựng nên sự dữ,
điều xấu)
3- Về con người :
a- Được tạo dựng sau cùng, con người là chóp đỉnh của công trình tạo dựng, cao trọng nhất trong mọi loài Thiên Chúa tạo thành
b- Con người là hình ảnh Thiên Chúa, giống Thiên Chúa vì có phần linh thiêng, và do đó được đại diện Thiên Chúa làm chủ muôn loài
c- Việc phân biệt phái tính nam-nữ và khả năng truyền sinh là điều tốt đẹp trong chương
trình của Thiên Chúa (cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo) Vì vậy hôn nhân
được Thiên Chúa chúc phúc
d- Người nam và người nữ bình đẳng với nhau
II CON NGƯỜI (Theo St 2,4b-25)
A TÌM HIỂU BẢN VĂN
1- Những khác biệt giữa St 1 và St 2 :
a- Về hình thức :
- Chương 1 : được viết theo một khuôn mẫu có tính cách trang trọng và uy nghiêm
- Chương 2 : có lối văn bình dân hơn với những hình ảnh cụ thể, gần gũi, sống động
b- Về nội dung :
Trang 5- Chương 1 : Thiên Chúa dựng nên con người sau cùng, con người là chóp đỉnh của công trình tạo dựng
- Chương 2 : Thiên Chúa dựng nên con người trước, vạn vật sau Xoay quanh con người
là một khung cảnh sống (cây cỏ, muông thú…) Con người được coi như trung tâm thế giới, là cứu cánh, muôn vật được dựng nên để phục vụ con người
Có sự khác biệt như vậy là vì hai bản văn này có thời điểm được viết ra cách nhau
khá xa (St 1: ‘Truyền thống Tư tế’, thành hình vào khoảng 500 năm tcn St 2 : ‘Truyền
thống Giavít’, hình thành vào khoảng 1.000 năm tcn.).
Khác nhau nhưng không ngược lại nhau mà còn bổ túc cho nhau, cả hai đều đề cao công trình của Thiên Chúa và địa vị đặc biệt của con người giữa muôn loài
c- Chủ đích :
- St 1: Cắt nghĩa sự hiện hữu của các sự vật, trả lời cho câu hỏi : “Bởi đâu mà có các
sự vật ?” (Nguồn gốc).
- St 2 : Cắt nghĩa hiện trạng của các sự vật, trả lời cho câu hỏi: “Vì sao lại có sự vật như
thế ?” (Tình trạng, phẩm giá).
Tình trạng ban đầu của vạn vật là tốt lành, không có đau khổ và sự dữ (chống nhị
nguyên) Chính tội lỗi của con người đã làm hỏng sự tốt lành nguyên thuỷ và làm con
người mất hạnh phúc Tuy nhiên tình trạng đau khổ của con người không đến nỗi tuyệt vọng như người ta đáng phải chịu, bởi vì Thiên Chúa nhân từ sẽ tìm cách cứu vớt
2- Giải nghĩa đoạn văn St 2,4b-25
Đoạn văn này nói về việc Thiên Chúa tạo dựng con người và sắp đặt để mọi sự phục vụ con người
Có những hình ảnh quan trọng cần lưu ý :
- “Thiên Chúa nặn đất” : Cũng như đồ gốm trong tay người thợ gốm, con người là gì
thì hoàn toàn tuỳ ở ý muốn của Chúa
- “Thiên Chúa lấy bụi đất mà làm ra con người” : Thân xác con người là vật chất
mỏng giòn và yếu đuối
- “Thiên Chúa thở hơi sống vào mũi con người” : Hơi thở chính là sự sống Thiên
Chúa ban cho con người sự sống thiêng liêng, đó là linh hồn, là hình ảnh của Thiên Chúa
Như vậy ở đây bản văn không có ý nói về cách thức Thiên Chúa tạo dựng mà là nói
về bản chất con người là gì : xác và hồn Sự sống con người thật là cao quí và gần với Thiên Chúa hơn mọi loài đến nỗi được gọi là hơi thở của Thiên Chúa
- “Thiên Chúa đặt con người trong vườn Eđen để nó canh tác” : Vườn Eđen hay vườn
thượng uyển là khu vườn đặc biệt của vua và hoàng gia, cấm những người khác Được
Trang 6ở trong vườn tức là được Thiên Chúa ưu đãi, được ở trong tình trạng thân mật, gần gũi với Thiên Chúa Đây là một đặc ân, là tình trạng công chính thánh thiện ban đầu
- “Để nó canh tác vườn” : Con người ở trong vườn là để làm việc và giữ vườn như
người quản lý của Thiên Chúa
- “Thiên Chúa lấy xương sườn người nam làm thành người nữ” : Hai người nam và nữ cùng một bản tính(bình đẳng), và có liên hệ mật thiết với nhau trong hôn nhân (bất
khả ly).
- “Con người trần truồng mà không xấu hổ” : Thuở ban đầu con người đơn sơ trong
trắng như trẻ thơ vô tội, chưa bị rối loạn vì tội lỗi Con người sống an bình hoà hợp với
Thiên Chúa, với mọi người, và với bản thân mình (không xấu hổ, không ‘đi núp’ trốn
tránh người khác vì có tội)
B- GIÁO HUẤN CỦA ĐOẠN VĂN
1- Thiên Chúa dựng nên con người và yêu thương săn sóc con người, lo liệu cho mọi điều kiện sống tốt nhất
2- Con người là hồn-xác Con người mang trong mình sự sống Thiên Chúa (hơi thở) 3- Con người thể hiện quyền làm chủ vũ trụ qua công việc lao động (trí thức và chân tay) 4- Con người phải vâng phục Thiên Chúa (lệnh cấm ăn trái cây biết lành-dữ) Chỉ trong
vâng lời Thiên Chúa thì con người mới phát triển đầy đủ để đạt được trọn vẹn ý nghĩa định mệnh của mình và cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa
5- Về tương quan nam-nữ :
- Người nam và người nữ là cùng một loài, một bản tính, một địa vị bình đẳng với nhau
- Nam-nữ khác nhau là để bổ túc cho nhau về nhiều phương diện (thể lý, tâm lý, xã
hội…).
- Trong ý định của Thiên Chúa hôn nhân có tính đơn nhất và bền vững (đơn hôn và bất
khả ly).
- Người nữ có phần nào tuỳ thuộc người nam (nữ bởi sườn nam, được nam đặt tên cho).
III SỰ TỘI (St 3,1 – 11,26)
1- Nội dung St 3 :
St 3 có liên hệ chặt chẽ với St 2, để trả lời cho câu hỏi về nguồn gốc của tội lỗi, đau khổ và sự dữ : Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự đều tốt lành, chính sự sa ngã của con người
đã đưa tội lỗi và đau khổ đến cho con người
2- Tội nguyên thuỷ là tội nào ?
Trang 7Kinh Thánh dùng hình ảnh ăn trái cấm để diễn tả sự phản loạn, không vâng phục Thiên Chúa Con người đã không biết dùng tự do của mình để yêu mến Thiên Chúa, quay lưng lại với Đấng dựng nên mình Con người đã sa ngã trước cám dỗ muốn đưa mình lên, loại trừ Thiên Chúa, phản bội lại tình yêu của Người để chạy theo tham vọng của
mình (kiêu ngạo).
3- Hậu quả của tội :
a- Đánh mất sự hiệp thông :
- Mất sự hiệp thông với Thiên Chúa : ‘đi núp’ tránh mặt Thiên Chúa, bị đuổi ra khỏi vườn
- Mất sự hiệp thông với nhau : đổ lỗi cho nhau
- Mất đi sự hoà hợp với thiên nhiên : Trước đây lao động là niềm vui sáng tạo thì bây giờ tội đã làm cho công việc trở thành gánh nặng vất vả, thiên nhiên như xa lạ và chống lại con người
- Mất đi sự hoà hợp với chính bản thân mình : lấy lá che thân, xấu hổ vì chính bản thân, che đậy mình lại, mất bình an vì không còn làm chủ được dục tình nổi loạn
b- Đánh mất sự sống và các đặc ân :
- Tội làm con người xa cách Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống, thế nên cái chết là điều không thể tránh khỏi
- Xa cách Thiên Chúa nên con người trở nên yếu đuối, tối tăm dễ sa ngã phạm tội (mất các đặc ân)
4- Tội lỗi gia tăng : (x.St 4-11)
St 4-11 là 8 chương nói đến sự gia tăng và lan tràn
của tội lỗi qua các câu chuyện :
a- Cain giết Aben (x.St 4)
Câu chuyện này cho thấy một khi người ta đã dám phạm tội chống lại Thiên Chúa thì thế nào họ đi đến chỗ xúc phạm đến đồng loại Hay nói cách khác : mến Chúa đi đôi với yêu người
b- Con trai Thiên Chúa lấy con gái loài người (x.St 6,1-4)
Đây là một mẩu thần thoại được dùng để nói lên rằng : trật tự tạo thành của Thiên Chúa
bị đảo lộn (lẫn lộn giữa thiên giới ‘con trai Thiên Chúa’ và hạ giới ‘con gái loài người’),
sự sa đoạ tràn lan Thế giới từ nay không còn tinh tuyền, thiện ác lẫn lộn
c- Hồng thuỷ (x St 6,5 - 8,19)
Câu chuyện này phát xuất từ truyền thuyết về những trận lụt lớn ở vùng Lưỡng Hà Địa, sách Sáng Thế đã lấy lại để diễn tả sự gia tăng khủng khiếp của tội đến nỗi Thiên Chúa
Trang 8phải dùng Hồng Thuỷ để tẩy rửa tội lỗi(chứ không phải vì Thiên Chúa độc ác ghét bỏ
loài người) Chính tội con người phạm đã gây ra hoạ diệt vong Tuy nhiên Thiên Chúa
vẫn nhân từ cứu vớt gia đình Nôe và tái tạo loài người
d- Tội kiêu ngạo ở tháp Baben (x St 11,1-9)
Hình ảnh xây tháp tượng trưng cho tội cộng đồng của con người: muốn dựa vào sức lực
và tài khéo để tìm vinh quang cho mình, chống lại Thiên Chúa, thay thế Thiên
Chúa (kiêu ngạo) Tội này đã gây ra sự hỗn loạn và bất hoà, chia rẽ Vì đầu mối sự hiệp
nhất là Thiên Chúa, khi người ta đánh mất sự hiệp nhất với Thiên Chúa thì chính họ sẽ bị phân tán
e- Tuổi thọ giảm dần (x.St 5,1 ; 6,3 ; 11,10-26)
Những bản liệt kê tuổi tác của các tổ phụ cho thấy tuổi thọ của con người giảm dần Tuổi thọ là dấu chỉ ơn Chúa chúc phúc Tuổi thọ giảm tức là con người đã đánh mất ân sủng Tội là nguyên nhân sự chết, con người chết sớm vì tội lỗi gia tăng
TÓM LƯỢC St 1-11
1- Thiên Chúa là Đấng toàn năng và thiện hảo đã sáng tạo muôn loài muôn vật cách tốt đẹp
2- Thiên Chúa ban cho con người xác- hồn và một phẩm giá cao quí, một địa vị trổi vượt trên mọi loài mọi vật
3- Tội lỗi con người đã phá hỏng công trình thiện hảo của Thiên Chúa, làm cho con người xa cách Thiên Chúa, lòng trí ra yếu đuối tối tăm, phải đau khổ và phải chết 4- Tội lỗi ngày một gia tăng một cách khủng khiếp và con người không thể nào tự mình thoát ra được
5- Thiên Chúa không bỏ rơi con người trong tội nhưng đã lên kế hoạch cứu độ loài người
Câu hỏi thảo luận chương 1
1- Bản văn St 1-11 có đi ngược với khoa học không ?
2- Thiên Chúa có muốn con người phải đau khổ không?
3- Dựa vào hai bản văn St 1 và St 2 bạn có thể nói gì về bản chất và địa vị của con người
trong ý định của Thiên Chúa ?
Trang 9CHƯƠNG 2 GIA ĐÌNH – DÂN TỘC – TÔN GIÁO
Những nhân vật, địa danh và biến cố được nói đến trong Kinh Thánh, từ St 12 về sau,
có tính cách lịch sử, phù hợp với những nghiên cứu và khám phá của khoa học Khoa khảo cổ
đã chứng minh có những cuộc di dân lớn trong vùng Lưỡng Hà Địa hướng về phía bắc (Kharan), sang Canaan và Ai Cập, vào khoảng năm 1.900 đến năm 1.800 trước công nguyên, đúng với thời điểm di cư của Abraham Bắt đầu từ Abraham, chúng ta sẽ tiếp xúc với những nhân vật và biến cố có thể xác định được không gian và thời gian theo nghĩa lịch sử thật
sự (‘người thật việc thật’).
I GIA ĐÌNH CỦA ABRAHAM (x St 12,1 – 25,8)
1- Ơn gọi của Abraham :
St 4-11 diễn tả sự gia tăng của tội, đẩy con người ngày một xa lìa Thiên Chúa Con người như vẫy vùng trong tuyệt vọng, không thể thoát ra khỏi vực thẳm tội lỗi được
Chính trong hoàn cảnh bi đát đó Thiên Chúa đã ra tay can thiệp, chuẩn bị cho kế hoạch cứu độ bằng cách kêu gọi ABRAM, một người du mục, thuộc thị tộc Têrắc, thành Ur,
xứ Canđê (nước Iraq ngày nay) Thị tộc này ngược dòng sông Ơphrat, di cư về hướng tây bắc, đến vùng Kharan (x.St 11,27-32) Tại đây Thiên Chúa đã kêu gọi Abram.
Sáng kiến của Thiên Chúa đã khởi sự một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ.
Abram đã mau mắn đáp lại và dứt khoát rời bỏ tất cả để ra đi, dù không hề biết mình
sẽ đi đến đâu và được những gì Đức tin của ông thật lớn lao, đưa nhân loại đang đắm chìm trong lầm lạc và tan rã bước vào tiến trình phục hồi.
Như vậy, ơn cứu độ luôn bắt đầu từ Thiên Chúa, con người chẳng có công trạng gì Để được cứu độ, mỗi người cũng phải mau mắn đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa và dứt bỏ mọi bám víu để lên đường Đó chính là hành trình đức tin.
2- Lời hứa (x.St 12,1-3)
Cùng với lệnh truyền ra đi là lời Chúa hứa :
Một dân tộc đông đảo sẽ phát xuất từ Abram.
Một đất nước cho dân tộc ấy.
Trang 10 Một phúc lành sẽ đến cho muôn dân nhờ Abram.
3- Minh Ước (x.St 15)
Lời hứa của Thiên Chúa với Abram được bảo đảm và xác nhận bằng một lễ ký kết giao
ước theo phong tục thời bấy giờ: Abram xẻ đôi những con vật hy sinh (bê, dê, cừu, chim cu
gáy, bồ câu), đặt ra hai bên Thiên Chúa đã lấy hình ngọn lửa đi qua để chứng tỏ sự cam kết
giữ lời hứa với Abram (ai vi phạm sẽ chịu số phận như con vật bị phân thây).
Sau này Thiên Chúa còn lập lại lời hứa với Abram và đổi tên ông thành ABRAHAM : “Cha
của nhiều dân”, để nói trước tương lai của ông (St 17,5).
4- Thử thách (x.St 22,1-19)
Bà Sara, vợ ông Abraham, là người hiếm muộn, đã cao tuổi mà chẳng có con Thiên
Chúa đã thực hiện lời hứa thứ nhất khi ban cho hai ông bà “Nụ Cười” là Isaac Nhưng sau đó
Thiên Chúa lại tiếp tục thanh luyện niềm tin của ông khi yêu cầu ông hiến tế Isaac : một thử thách kinh khủng! Abraham đã vâng phục Lòng tin này thật phi thường, vượt trên mọi
lý luận, tính toán và tình cảm của con người : “Tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông”
(Rm 4,18) Mặc dù không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin Ông tin rằng
dù thế nào đi nữa thì Thiên Chúa cũng sẽ thực hiện lời hứa : “Vì với Thiên Chúa, nào có gì
lại là không có thể !” (Lc 1,37 x.St 18,14).
Một lần nữa chúng ta lại thấy vai trò quan trọng của đức tin trong công trình cứu độ.
Ơn cứu độ cả thế giới bắt đầu với niềm tin của Abraham thế nào thì ơn cứu độ của mỗi Kitô hữu cũng bắt đầu với niềm tin của mình như vậy : chấp nhận mọi điều Chúa dậy và mọi điều Chúa hứa
5- Tăng triển (Các tổ phụ : x.St 12-50)
Thiên Chúa thực hiện lời hứa ban cho ông Abraham một dòng dõi đông đảo :
SARAH + ABRAHAM + HAGA
ISAAC+RÊBÉCCA ÍTMAEL
GIACÓP - ESAU Dân Ả Rập
(Dân Êđom)
12 người con trai
đứng đầu 12 chi tộc dân Israel
Những câu chuyện về các tổ phụ (Abraham, Isaac, Giacóp) cho thấy Thiên Chúa vô
cùng khôn ngoan khi dẫn dắt lịch sử loài người Qua đó chúng ta nhận ra tình thương và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với những con người bất toàn Và dù còn nhiều khuyết điểm, đời sống các tổ phụ cũng đã chứng tỏ được niềm tin và sự trung thành với Thiên Chúa.
II THÀNH LẬP DÂN THIÊN CHÚA
1- Ông Giuse (x.St 37-50)
Những câu chuyện ly kỳ trong cuộc đời ông Giuse (các giấc mơ, bị bán, làm quản gia,
bị tù, làm quan…) cho thấy quyền năng và lòng nhân hậu của Thiên Chúa mạnh hơn sự