1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

khai quat phong trao tho moi

30 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 70,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3- Giai đoạn 1940-1945: Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đ

Trang 1

KHÁI QUÁT PHONG TRÀO THƠ MỚI (1932 – 1945)

Trong những năm đầu thập kỷ thứ ba của thế kỷ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn Đó là Thơ mới (hay còn gọi là Thơ mới lãngmạn) Thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20 Sự xuất hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào thơmới 1932-1945 Phong trào thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca” 1, mở đầucho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại

I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội

Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm

mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự

ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945

Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa, một bộ phận

đi theo chủ nghĩa cải lương So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn Tuy không tham gia chống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình

Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ Thông qua tầng lớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác

II- Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới

Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ mới Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh - Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của Phong trào thơ mới Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh của Phong trào thơ mới chính thức bắt đầu

Có thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành ba giai

đọan2:

1- Giai đoạn 1932-1935:

Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ” Sau bài khởi

Trang 2

xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối,

bỏ điển tích, sáo ngữ …Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thayvào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ” Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắtbởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và

sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới

Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần thơ (1935) Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư,

Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên …

2- Giai đoạn 1936-1939:

Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu (tập Thơ thơ -1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê -1936, Đau thương -1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn - 1937), Bích Khê (Tinh huyết - 1939), … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”3 Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này

Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sángtác khác nhau Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bằng sự khẳngđịnh của cái Tôi Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng

3- Giai đoạn 1940-1945:

Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm

Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có

Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ Loạn

có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,…

Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã

tự phát chạy theo giai cấp tư sản Với thân phận của người dân mất nước và bị chế

độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất

phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát

III- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới

Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh “Thơ mới là một hiện

Trang 3

tượng văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc”… “ Trong phần tốt của nó, Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc” Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa”… “Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm”4.

1- Tinh thần dân tộc sâu sắc

Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do Ở thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925-

1931 (mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái) Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước được “tung hoành hống hách những ngày xưa” (Nhớ rừng); Huy Thông thì khát khao:

“Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng

Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”

Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt Nghe tiếng

ru của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca:

“Nằm trong tiếng nói yêu thương

Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”

Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng trong sáng và giàu có hơn

Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ còn phảng phất với nỗi buồn đau của ngưòi nghệ sĩ không được tự do (Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm) …

2- Tâm sự yêu nước thiết tha

Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp

ủ lòng yêu nước Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa Hương); hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận (Đẹp xưa); hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quêhương) v.v… Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cáikhông khí mộc mạc quen thuộc của ca dao: Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước

Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn bộc lộ một vài hạn chế Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực Điều đó đã tác động không tốt đếnmột bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám

Trang 4

IV- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới

“Tôi là con chim đến từ núi lạ …”,

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”…

Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh”:

“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!”

Thoảng hoặc có khi lại là “Ta”:

“Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

“ Thơ mới là thơ của cái Tôi”5 Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại

2 Nỗi buồn cô đơn

Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”6

Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn

và cô đơn Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh:

“Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô”

(Lưu Trọng Lư )

Với Chế Lan Viên đó là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” (tức dân Chàm):

“Đường về thu trước xa xăm lắm

Mà kẻ đi về chỉ một tôi”

Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác

gà trưa gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu

Trang 5

ứa” Về điều này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.

Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời vàvới chính mình

3 Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu

Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”7 Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu

đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống

Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”

Và đây là hình ảnh buổi trưa hè:

“Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao

Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ”

(Huy Cận)

Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như:

“Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng

Những khóm tre cao rủ trước thành”

tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam.Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới “Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên:

“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá

Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một

“thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”8

Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não:

“Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”

Cảm xúc ấy không phải là một ngoại lệ Nhà thơ Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng buồn” (Kinh cầu tự) và cảm nhận được sự tận cùng của nỗi buồn cô đơn

“sầu chi lắm, trời ơi, chiều tận thế” Nhà thơ triết lý về điều này một cách sâu sắc:

“Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”

Một số đặc sắc về nghệ thuật

Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc

Trang 6

Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở

về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông Đồ (Vũ Đình Liên),

Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, T.T.KH chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế

Lữ lại dùng thể thơ lục bát v.v…

Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùngnhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định:

“Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao nghe réo rắt

Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt

Mây bay… gió quyến, mây bay

Tiếng vi cút như khoan như dìu dặt

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may”

(Thế Lữ)

Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng Đây

là những câu thơ toàn thanh bằng:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

“Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời

Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” (Xuân Diệu)

Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc:

“Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu

Trang 7

Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi”

(Anh Thơ)

Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắchội họa của thơ mới Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh:

“Trong làn nắng ửng, khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên dàn thiên lý Bóng xuân sang”

Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp

Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tíchcực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Trong bài Tràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm,tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơ mới sáng tạo

về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,…Hầu hết các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng khá sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng mạn Pháp mà đại biểu là Budelaire, Verlaine, Rimbaud Sự ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều bình diện: từ cách gieo vần, ngắt nhịp đến cách diễn đạt Ta có thể tìm thấy điều này ở các bài Nguyệt Cầm, Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), Đi giữa đường thơm (Huy Cận), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ) Một số bài thơ trong tập Tinh huyết (Bích Khê), Thơ điên (Hàn Mặc Tử), Thơ say (Vũ Hoàng Chương) chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái suy đồi của thơ

ca Pháp (các bài thơ Những nguyên âm của Rimbaud, Tương hợp của Budelaire

…)

Trong bài “Thơ mới-cuộc nổi loạn ngôn từ” Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thốngngôn từ Thơ mới “Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ và hiện đại”9 Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với Phong trào thơ mới không tách rời nhau Điều này cho thấy tác động

và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với Thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Chính sự kết hợp Đông -Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của Thơ mới

Sau 75 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã có chỗ đứng vững

Trang 8

chắc trong đời sống văn học dân tộc Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người đọc.

-CHÚ THÍCH:

Một thời đại trong thi ca (Thi nhân Việt Nam, Hòai Thanh-Hoài Chân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993, trang 15)

Trong cuốn Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 (NXB Giáo dục, 2002), Phan

Cự Đệ chia làm 2 giai đoạn: 1932-1939 và 1940-1945

Thi nhân Việt Nam (Sđd, trang 106)

Về Thơ mới (Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục,

Thơ Mới - đôi điều nhìn lại và suy nghĩ (Nhân 80 năm phong trào Thơ Mới ra đời)Thứ tư, 24 Tháng 10 2012 23:15 Nguyễn Hữu Hiếu

Trang 9

Xem kết quả: / 4

Tham luận tại Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại

Nguyễn Hữu Hiếu(*)

Thơ Mới, nói một cách không quá lời, xứng đáng được xem là một kì công trong lịch sử thơ Việt Nam Là kỳ công bởi những mới mẻ mà nó đã có được Là kỳ côngcòn bởi, trong cái nhọc nhằn của thơ đương đại trong nỗ lực tìm lối đi với vô vàn những thử nghiệm thành và bại, Thơ Mới vẫn vững vàng là biểu tượng về một thời đại thơ nhiều sinh lực, mạnh mẽ, quyết liệt trong chủ đích canh tân, và thực tế nó

đã để lại rất nhiều bài học để theo đó thơ hiện đại có thể tiếp tục những bước đi vững chãi, vừa giữ mạch với uyên nguyên nguồn cội, vừa tự tin làm những điều

mà thơ hiện đại thế giới đang làm… Lịch sử nghiên cứu trong nhiều thập niên đã

có rất nhiều những cuốn sách, từThi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài

B? phi?u

Trang 10

Chân), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Phong trào Thơ Mới (Phan Cự Đệ), Thơ Mới những bước thăng trầm (Lê Đình Kỵ) đến Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1930 1945 (Mã Giang Lân), Việt Nam thi nhân tiền chiến (Nguyễn Tấn Long), Mắt thơ – Phê bình phong cách Thơ Mới (Đỗ Lai Thúy)… và rất nhiều

những bài báo, tạp chí khẳng định “kì công” của hiện tượng văn học này trên nhiềukhía cạnh Không trở lại những gì đã được thừa nhận, bài viết này là sự nhìn lại đôiđiều hoặc chưa nói đến, hoặc đã đề cập nhưng vẫn còn có chỗ cho những tiếng nói thêm

1 “Lời ca tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất” hay Nỗi buồn - một phạm trù thẩm

mĩ quan trọng của Thơ Mới.

Thơ Mới có rất nhiều bài thơ nói về nỗi buồn Thực tế này trước hết có lí do khách quan từ hiện thực đời sống Sống và thực hành sáng tạo trong một bầu khí quyển

xã hội tù hãm, ngột ngạt thuở nước nhà còn “một cổ hai tròng”, làm sao các nhà thơ thoát ra khỏi cảm giác xa lạ khi nhận ra mình quá chơi vơi trên chính quê hương xứ sở Sẽ không lạ gì khi ta bắt gặp trong Thơ Mới có những câu thơ đau đớn nói lên khát vọng không thỏa, thậm chí mang màu sắc tuyệt vọng của các nhà thơ, kiểu như:

- Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỉ,

- Đời kiêu bạc không dung hồi giản dị,

- Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa,

- Trời hỡi hôm nay ta chán hết

Những sắc màu hình ảnh của trần gian…

Những câu thơ ấy như những minh chứng nói lên ý thức của người nghệ sĩ về nỗi đau, có thể là nỗi đau vong quốc, có thể là nỗi đau của những tâm hồn khao khát thanh cao nhưng lại phải đối diện với sự tầm thường, nhàm chán, bất như ý của hiện thực…

Thêm nữa, thời đại Âu hóa trước 1945 đưa lại nhiều tiến bộ, văn minh, nhưng mặt khác, đi kèm với tiến bộ và văn minh ấy, tư tưởng duy lợi của kỉ nguyên hiện đại vừa hé lộ cũng nhanh chóng trở thành hệ lụy, có nguy cơ làm tiêu tan những giá trị tinh thần – đạo đức cổ truyền mà cha ông đã hàng ngàn năm tạo dựng và lưu giữ (văn xuôi hiện thực của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan cũng đã nói về vấn

đề này) Không nhập cuộc trong những phong trào tranh đấu chính trị rộng lớn (như phong trào Xô viết – Nghệ Tĩnh 1930 – 1931, phong trào đấu tranh dân chủ

Trang 11

1936 – 1939, hay những cuộc tranh đấu trong giai đoạn tiền khởi nghĩa) như các nhà thơ mà sáng tác gắn liền với ánh sáng ý hệ của tầng lớp cần lao như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng, Phan Trọng Bình…, các nhà Thơ Mới thực hiện “sứ mạng công dân” (chữ dùng của Arthur Rimbaud, nhà thơ tượng trưng Pháp cuối thế kỉ XIX) theo lối riêng của mình Họ tìm cách neo đậu tâm hồn lãng mạn theo những lối khác nhau: chìm đắm trong giấc mơ về thời quá vãng như một cách thể hiện tâm sự luyến nhớ hồn dân tộc qua thế giới biểu trưng nước non Chiêm thành

(như thơ Chế Lan Viên); hoặc quay về một thế giới tinh thần thuần khiết với “nửa truyện Hồ Ly”, “Tình Liêu Trai” hay bóng gái Giang Nam nghìn thu cũ (trong thơ

Vũ Hoàng Chương), hay những giấc mơ nguyên thủy cùng “xuân vũ trụ”, “nước

Vô Danh”, “xứ U Minh”, “đêm Hồng Thủy”, “thế kỷ thanh bình” (trong thơ Đinh

Hùng) để đối lập với nguyên lí vật chất mà nghệ sĩ lãng mạn cho là tầm thường nhạt nhẽo; hoặc say sưa tìm năng lượng cho thơ từ trăng, hoa, nhạc , hương, thanh bai và ánh sáng từ cõi vô lượng mang màu sắc tôn giáo như tìm tới nguồn an ủi và xoa dịu tâm hồn đau khổ (trong thơ Hàn Mặc Tử)…

Cơ sở hiện thực của nỗi buồn trong Thơ Mới đã được nói đến Đó là tâm trạng của một thế hệ nhà thơ mà ở đó nhân tố thời đại là mẫu số chung tạo ra động năng tâm

lí chung của “những tâm hồn trí thức bất mãn với xã hội, đau buồn, chán nản, u uất khi phong trào cách mạng của quần chúng bị thất bại hoặc bị đàn áp dữ

dội”(1) Tuy nhiên, nếu nói rằng cái gốc của nỗi buồn trong Thơ Mới là vấn đề thời đại theo tinh thần quyết định luận xã hội như thế quả thực chưa đủ, thậm chí quá đơn giản, vì nếu xem xét dưới góc độ loại hình, nỗi buồn trong Thơ Mới còn phải

được xem là một phạm trù thẩm mĩ quan trọng và đồng thời là một đặc điểm mang tính nguyên tắc trong sáng tạo của nghệ thuật lãng mạn Vấn đề muốn nói ở đây:

với Thơ Mới, mà thơ lãng mạn là chủ đạo (dù bên cạnh lãng mạn còn có thơ tả chân, tượng trưng, siêu thực), nỗi buồn chính là chất xúc tác tối cần thiết để hình thức thơ này được thăng hoa ở độ viên mãn nhất của nó

Không giống thơ tượng trưng nhấn mạnh khả năng ám gợi, hay thơ siêu thực nhấn mạnh yếu tố vô thức, thơ lãng mạn đặt trọng tâm vào cảm xúc và năng lực truyền cảm Chủ nghĩa trữ tình vì vậy là yếu tố hàng đầu của hình thức thơ này, nó quan trọng đến nỗi không thể gọi là thơ lãng mạn nếu không có nó Bà De Stael (1766 –

1817), “nhà lí luận đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn” (Pháp), trong tiểu luận “Về văn học xét trong tương quan với các thể chế xã hội” (De la littérature considérée

dans ses rapports avec les institutions sociales, 1800) đã xác nhận sự cần thiết của

“nỗi u sầu” (la mélancolie), nó không những là yếu tố làm nên sức sống cho nghệ

thuật mà còn thể hiện tài năng của người nghệ sĩ và vinh quang của văn học: “Ở thời đại chúng ta đang sống, u sầu là nguồn cảm hứng thực sự của tài năng: người nào không cảm thấy mình bị cảm xúc ấy xâm chiếm, không thể ngưỡng vọng vinh

Trang 12

quang lớn trong văn chương; vinh quang này phải trả bằng giá đó”(2) Và cao hơn, với De Stael, u sầu còn là tư tưởng và là cái làm nên nhà tư tưởng bên trong nhà thơ, bởi vì đó là một trạng thái cảm xúc đã được thanh lọc, từ đó con người có thể

vụt trở nên lớn lao “nhờ cảm giác đau xót về tính không trọn vẹn của vận mệnh mình”, nó kết hợp với trí tưởng tượng “khiến ta hạnh phúc trong khoảnh khắc khi làm ta mơ cái vô tận” Từ đó ta có thể hiểu rằng, với thơ lãng mạn (và chủ nghĩa

lãng mạn nói chung), nỗi buồn còn trở thành niểm đam mê, sự thích thú của các

nghệ sĩ, và vì vậy, đối tượng hóa nỗi buồn trở thành đặc điểm mang tính phổ quát

đối với hầu hết sáng tác của các tác giả Thơ Mới Chính sự say mê với tâm trạng

ưu sầu đã dẫn dắt các nhà thơ trong sự tìm kiếm đề tài, thi liệu hay sự cảm nhận những khía cạnh đầy chất bi cảm thi vị của đời sống Họ say sưa với hình ảnh mùa thu gợi cảm giác hoang liêu (Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh…), những buổi chiều tà gợi nỗi niềm cô quạnh (Huy Cận, Bích Khê…), những cuộc chia li không lời hẹn ước, những tình yêu mong manh không bao giờ trọn vẹn (Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…), hay thích hoài niệm những quá vãng mà bước chân thời gian đã điqua và dẫm đạp lên (Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương…), thậm chí còn là cái chết(Đinh Hùng, Nguyễn Bính…) Dường như với các tác giả Thơ Mới, khi đi vào những đề tài và thi liệu như thế họ mới cảm thấy trọn vẹn niềm hoan lạc của sáng tạo Nỗi buồn trở thành dưỡng khí và là khởi điểm cho những “dự án” thẩm mĩ đầythi vị mà các nhà thơ thơ lãng mạn luôn cần đến

Hơn nữa, về phương diện lí luận, thời đại lãng mạn là thời đại thăng hoa của cái

Tôi, ở đó “cái Tôi nổi lên như một giá trị” (le moi surgit comme une valeur) Chủ

nghĩa lãng mạn trong văn học thế giới cũng vậy và văn học Việt Nam cũng không

là ngoại lệ, bởi trong chiều hướng tiến hóa phổ biến của nhiều nền văn học, chủ nghĩa lãng mạn đóng vai trò là đối thể và hủy thể của mĩ học cổ điển, một mĩ học trong sâu xa gắn với quyền uy, điển chế, công thức và nặng tính quan phương, ở đótiếng nói của cái Tôi bị lấn lướt, lu mờ trước những tiếng nói khác Cái Tôi trong thơ có thể biểu hiện dưới nhiều dạng thức, có thể đó là niềm đam mê cá nhân (đam

mê tình yêu, đam mê lí tưởng, đam mê tôn giáo, đam mê trong sự xả thân sáng tạo…), có thể đó là thái độ kiêu kỳ, tự xem mình là một cõi (kiểu như Xuân Diệu

với Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất, Không có chi bè bạn nổi cùng ta)…, nhưng

trên hết, đi liền với cá Tôi là sự cô đơn, nó trở thành một phương diện quan trọng

để cái Tôi nghệ sĩ được khai triển đến tận cùng tiếng nói của nó Với các nhà thơ lãng mạn, và đây là các tác giả Thơ Mới, cô đơn được cảm nhận như là cơn đau của người nghệ sĩ Đó có thể là những nỗi đau hết sức cụ thể như đau đời, đau nhântình thế thái, đau thân phận (như trong thơ Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử…), nhưng nỗi đau trong Thơ Mới cũng còn là nỗi đau thi vị, một thứ cơn đau không thể không có gắn liền với sáng tạo, với khát khao hướng đến cái vô tận Và vì vậy, cô đơn - một phần của nỗi buồn,

Trang 13

không phải lúc nào cũng là khái niệm chỉ một tâm trạng thực tế của người nghệ sĩ,

mà cô đơn còn là một sự khoái lạc, một niềm kiêu hãnh thi vị, một nguồn năng lượng cho tài năng vụt sáng, và nếu ai chưa từng được thấm thía nỗi cô đơn họ sẽ

dễ trở thành như kẻ đồng lõa với lối nhìn và lối nghĩ nông gần Trong trường hợp này, những câu thơ của Alfred de Musset (nhà thơ lãng mạn Pháp) trong bài thơ

“Đêm tháng năm” (La nuit de Mai) “lời ca tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất” (Les plus désespérés sont les chants les plus beaux), hay trong bài thơ “Tưởng tượng” “Ta không là thiên thần, cũng không là ác quỉ / Và người đã gọi đúng tên ta… / Bạn ơi,

ta là niềm đơn độc!” (Je ne suis ni dieu ni démon / Et tu m’as nommé par mon

nom/ …Ami, je suis la solitude!) là rất có ý nghĩa, chỉ ra một cách rõ ràng rằng nỗi buồn, sự cô đơn luôn là những trạng thái đồng hành với sáng tạo của các nhà thơ lãng mạn

2 “Làm thơ là làm sự phi thường”, hay Tư duy phi lí tính theo tinh thần hiện đại

Phi lí tính (hay phản duy lí) là một trong những đặc điểm có tính phổ quát của văn học hiện đại, đặc biệt là chủ nghĩa hiện đại Sự xuất hiện của tư duy này có một ý nghĩa kép, vừa phản ứng lại tư duy duy lí khô khan, vừa là sự bổ sung cần thiết và

có ý nghĩa cho sự diễn đạt phần bí ẩn, thầm kín và vô cùng linh động của thế giới

và đời sống, tức phần đời sống nằm ngoài khả năng chứng minh và nhận thức bằng

lí trí tỉnh táo

Trong Thơ Mới, nếu nói về mức độ, tư duy phi lí tính chưa phải là một đặc điểm phổ biến, nhưng đó là một hiện tượng hết sức mới mẻ, góp phần quan trọng làm nên tính hiện đại của thơ Nói rằng tư duy ấy chưa phải là phổ biến bởi vì trong thực tế sáng tạo của Thơ Mới, hình thức tư duy này chủ yếu vẫn gắn với quan niệm và sáng tác của một số nhà thơ của nhóm thơ Loạn Trung bộ (với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê) và các nhà thơ trong nhóm thơ Xuân Thu nhã tập (với Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh)

Nhóm các nhà thơ Trung bộ nổi lên như một hiện tượng đáng kể nhất từ sau

1936 Ngay tên gọi của nhóm là “trường thơ Loạn” đã biểu thị ý thức về sự cần thiết đưa lại một sinh khí mới cho thi đàn khi mà Thơ Mới đã vững vàng với thế bàn thạch của mình sau một thời gian tranh đấu mới – cũ (chữ “Loạn” cũng gợi mối liên hệ quan niệm của các nhà thơ này với quan niệm về thơ của nhà thơ được

coi là “đứa con nghịch đạo” của thơ Pháp cuối thế kỉ XIX Arthur Rimbaud: thơ là

“sự phá vỡ lâu dài, rối loạn có lí luận của tất cả các giác quan”?) Những nhà thơ

Loạn không có tuyên bố chung, nhưng họ rất gần nhau trong cách nhìn đối với thơ

và công việc làm thơ Với họ, người làm thơ phải là người có một năng lực đặc biệt, người có khả năng phát hiện những giá trị thơ mà người bình thường không

Trang 14

có, tức một năng lực mang tính thần cảm Hàn Mặc Tử trong thư gửi Trọng Miên

đã từng ví nhà thơ như một “loài đặc biệt – loài thi sĩ”, người đứng giữa thanh cao

sáng láng đức chúa trời và loài người dưới trần gian, người có phẩm chất “siêu thần”, có năng lực trực giác mạnh mẽ, nhờ đó có thể làm lộ ra cái tinh túy, tinh

thần bên trong sự vật Trong bài “Bích Khê thi sĩ thần linh”, khi nói tới bài thơ

“Tranh lõa thể”, Hàn Mặc Tử cho rằng Bích Khê là người “có trực giác quá mạnh, đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đang nao nao gợn…,

để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần”.

Với các nhà thơ Loạn, sáng tạo thơ cũng được nhìn nhận như là một hoạt động hết

sức đặc biệt Bích Khê cho công việc làm thơ là “đi tìm vẻ đẹp câm” từ trong cái

xô bồ hỗn độn, Chế Lan Viên coi “làm thơ là làm sự phi thường”, còn Hàn Mặc Tử thì xem đó là trạng thái “điên”, “say”, “mơ”, không phải là nhà thơ làm thơ, mà chính họ “bị thơ làm”, tức là thơ phải được phát sinh trong trạng thái siêu thăng

của cảm giác (extase) – một trạng thái mê li, ngây ngất, như có thần trợ Hàn Mặc

Tử đã viết trong Tựa tập “Đau thương”: “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật Và cũng có nghĩa là tôi mất trí, tôi phát điên” Nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử, đã

từng có ý kiến cho rằng những trạng thái tinh thần mà nhà thơ nói tới có liên quan đến căn bệnh hiểm nghèo và thơ ông là một tiếng kêu thương của một con người đang vật vã giữa lằn ranh mong manh giữa sự sống và cái chết Cách hiểu như thế không sai nhưng chỉ đúng một phần (ta có thể hiểu: trong hoàn cảnh chống chọi với cái chết, Hàn Mặc Tử đã dồn hết năng lượng sống ít ỏi cho thơ, hay có lúc ông làm thơ trong trạng thái mê sảng, điều đó đã tạo ra những vần thơ có vẻ đẹp ma quái nhưng vô cùng lạ lẫm, độc đáo), còn về cơ bản, sáng tác thơ của ông gắn liền

với một ý thức nghệ thuật hết sức rõ rệt Việc Hàn Mặc Tử nói về say, mơ, điên, hay Chế Lan Viên nói về tính chất “phi thường” của việc làm thơ , tất cả đều nhắm

đến sáng tỏ một chân lí về cái Đẹp và bản chất của thơ: thơ không chỉ có logic mà còn có cả yếu tố phi logic Và đó là điều đáng nói!

Về xu hướng phi lí tính trong thơ, bên cạnh nhóm thơ Loạn cũng cần nhắc thêm về nhóm thơ Xuân Thu nhã tập, một nhóm thơ có tính chuyên nghiệp cao nhất của phong trào Thơ Mới (chuyên nghiệp ở tính tổ chức cao, có sự tập trung chí hướng nghệ thuật, có hình thức tuyên ngôn khá bài bản, mang dáng dấp một sự lập

thuyết…) Hầu như toàn bộ mục đích sáng tạo thơ của nhóm thơ này đều được các

tác giả trình bày trong tiểu luận “Thơ”, “một trong những bài giá trị trong Xuân Thu nhã tập, có thể nói là một công trình tư tưởng có ý vị bậc nhất… gây một nghệ thuật thích hợp cho [thơ] Việt Nam”(3), kèm theo đó là quan niệm về thơ của họ

Ý niệm tổng quát về thơ, theo quan niệm của nhóm Xuân Thu nhã tập chính là Đạo, là Đệ nhất nguyên lí, ở đó có thể tìm thấy sự hòa hợp thiêng liêng giữa con

Trang 15

người và cái vô cùng vô tận của vũ trụ, trong huyền diệu, siêu việt và vĩnh cửu

Theo các tác giả, một bài thơ trước hết là sự rung động, “có rung động là có thơ, phải cần và chỉ cần có rung động ấy”, đó là một thứ cảm xúc không thể diễn tả, linh diệu, “chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc”,vượt lên trên tất cả mọi

sự kiểm soát của lí trí tỉnh táo Với quan niệm thơ tác động thẳng vào giác quan và

từ đó gợi lên những liên tưởng vô tận, các nhà thơ Xuân Thu nhã tập cũng cho rằngngười ta đến với thơ không phải bằng sự phân tích, giảng giải rạch ròi theo lối tư

duy toán thuật, mà chủ yếu bằng “cảm”, vì thơ có khả năng “mê hoặc ta ngay và đặt ta vào giữa cõi thơ như có thần trợ” Nhấn mạnh cái phi lí tính trong thơ, thực

chất các tác giả đã tiến đến quan niệm hiện đại: tư duy thơ bằng ấn tượng, bằng sắcthái trực cảm và bằng những biểu tượng thơ giàu sức ám gợi (chứ không phải tư

duy bằng khái niệm), để từ đó “khơi nguồn lưu thông cái run rẩy huyền diệu” và

đưa lại cho thơ cái ma lực ám thị kì diệu Có thể nói, việc các nhà thơ Xuân Thu nhã tập dùng những ngôn từ triết học phương Đông để định nghĩa và trình bày quan niệm về thơ đã hé lộ động cơ và hoài bão hết sức tích cực của nhóm thơ này

về việc kiến tạo một nền thơ vừa tân kì (chú trọng khả năng gợi kinh nghiệm giác quan, sự mê hoặc của nhạc điệu, âm thanh, hình ảnh, hay ở việc xem thơ như một cuộc phiêu lưu của tri thức để thám hiểm tinh thần bên trong sự vật…), vừa vẫn giữ được một sợi dây liên lạc vô hình nhưng hết sức bền chặt với căn bản văn hóa phương Đông và Việt Nam (đó là cảm quan vũ trụ, chú trọng sự hòa điệu giữa con người và ngoại giới) Chỉ riêng trên bình diện quan niệm ấy thôi, Xuân Thu nhã tập

đã đủ tỏ ra là hiện tượng thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới , ở đó các nhà thơ có ý thức một cách rõ rệt đòi hỏi về một tinh thần sáng tạo mới theo phương

châm “Đông học vi thể, Tây học vi dụng” trong bối cảnh hiện đại hóa nền thơ dân

tộc Xét về thực tế sáng tác, tuy kết quả thực hành sáng tạo của nhóm thơ này chưa tương xứng với hoài bão tích cực của các tác giả do sinh mệnh của nhóm thơ rất ngắn, chỉ với thời gian khoảng trên ba năm (số lượng các bài thơ chưa nhiều: ngoàisáng tác của Nguyễn Xuân Sanh, còn lại số lượng các sáng tác của Đoàn Phú Tứ vàPhạm Văn Hạnh không đáng kể; ba tác giả khác là Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ Cung lại hoạt động trong những lĩnh vực khác), nhưng không thể không ghi nhận khát vọng chân thành của nhóm thơ này, đó là khát vọngkiến tạo một thứ thơ vừa rất phương Đông vừa mang tinh thần hiện đại

Có thể nói tiểu luận Thơ của Xuân Thu nhã tập đã trình bày nhiều khía cạnh khác

nhau về thơ của các tác giả, ở đó màu sắc phản duy lí hiện ra như một trong những đặc điểm quan trọng đánh dấu sự hình thành ý thức nghệ thuật mới trong Thơ Mới

ở cấp độ quan niệm Tuy các nhà thơ Xuân Thu nhã tập có những cách phát biểu vềcái phi lí tính khác với các nhà thơ Loạn Trung bộ, nhưng với cả hai nhóm thơ này,những quan niệm của họ đã chứng minh một chân lí mà từ đó nghệ thuật sẽ nắm được quyền uy của mình, rằng: chỉ có nghệ thuật (mà ở đây là thơ) mới diễn đạt

Ngày đăng: 24/11/2017, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w