1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng tiểu luận ngành

19 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 539,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định vấn đề nghiên cứu Ngày nay, các nhà khoa học không ngừng quan sát, theo dõi sự vật, hiện tượng, qui luật của sự vận động, mối quan hệ, … trong thế giới xung quanh và dựa vào ki

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

BÀI GIẢNG

(Lưu hành nội bộ)

TIỂU LUẬN NGÀNH

(Dành cho sinh viên Đại học Địa lý học,

hệ chính quy)

Biên soạn: Nguyễn Hữu Duy Viễn

Năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỰC HIỆN TIỂU LUẬN 2

1.1 QUY TRÌNH THỰC HIỆN TIỂU LUẬN 2

1.1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 2

1.1.2 Xác định mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vị nghiên cứu 3 1.1.2.1 Xác định mục đích, mục tiêu nghiên cứu 3

1.1.2.2 Xác định nhiệm vụ nghiên cứu 3

1.1.2.3 Xác định đối tượng nghiên cứu 3

1.1.2.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.1.3 Lựa chọn quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3

1.2 CẤU TRÚC BÀI TIỂU LUẬN 4

1.3 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN TIỂU LUẬN 4

1.3.1 Phương pháp trong phòng 4

1.3.2 Phương pháp mô tả, so sánh 4

1.3.3 Phương pháp bản đồ 4

1.3.4 Phương pháp địa vật lí 4

1.3.5 Phương pháp địa hoá học 5

1.3.6 Phương pháp cổ địa lí 5

1.3.7 Phương pháp ảnh máy bay, vệ tinh 5

1.3.8 Phương pháp phân tích hệ thống 5

1.3.9 Phương pháp toán học 5

1.3.10 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 5

CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY 6

2.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ 6

2.1.1 Thời kì cổ đại (Thế kỉ thứ V TCN - V SCN) 6

2.1.2 Thời kì Trung Cổ (Thế kỉ V- XV) 7

2.1.3 Thời kì các công cuộc phát kiến địa lí vĩ đại (Thế kỉ XV – XVI) 7

2.1.4 Thời kì tiền Tư bản chủ nghĩa (thế kỉ XVII – XVIII) 7

2.1.5 Thời kì Tư bản chủ nghĩa (thế kỉ XIX) 8

2.1.6 Nửa đầu thế kỉ XX (1900 – 1950) 8

2.1.7 Nửa cuối thế kỉ XX 9

2.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ HIỆN ĐẠI 9

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ HIỆN ĐẠI 10

3.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ HIỆN ĐẠI 10

3.1.1 Quan điểm hệ thống 10

3.1.2 Quan điểm tổng hợp (tương ứng với phép biện chứng duy vật) 10

3.1.3 Quan điểm lãnh thổ (quan điểm đặc thù của Địa lí học) 10

3.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển (phát triển bền vững) 10

3.1.5 Quan điểm thực tiễn 10

3.1.6 Quan điểm viễn cảnh 10

3.1.7 Một số quan điểm thường dùng trong nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội 10

Trang 3

3.2.1 Nghiên cứu địa lý thông qua dữ liệu không gian trực tuyến 11

3.2.2 Nghiên cứu địa lý dựa vào cơ sở dữ liệu GIS ứng dụng 12

3.2.2.1 Hiển thị, truy vấn thông tin 12

3.2.2.2 Hỗ trợ ra quyết định 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 16

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Bài giảng “Tiểu luận ngành” được biên soạn dựa trên cơ sở những giáo trình

có liên quan của các trường bạn và tài liệu tác giả thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau

Bài giảng giới thiệu các kiến thức cơ bản về quy trình và phương pháp viết tiểu luận cho sinh viên ngành Địa lý học được đào tạo tại Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Quảng Bình

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để nội dung bài giảng đáp ứng được yêu cầu của chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo, song chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp, cùng sự góp ý của các bạn sinh viên khi sử dụng bài giảng này

Trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Địa lý – Công tác xã hội, Trường Đại học Quảng Bình đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích

NGƯỜI BIÊN SOẠN

Trang 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

1.1 QUY TRÌNH THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

1.1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Ngày nay, các nhà khoa học không ngừng quan sát, theo dõi sự vật, hiện tượng, qui luật của sự vận động, mối quan hệ, … trong thế giới xung quanh và dựa vào kiến thức, kinh nghiệm hay các nghiên cứu có trước để khám phá, tìm ra kiến thức mới, giải thích các qui luật vận động, mối quan hệ giữa các sự vật một cách khoa học

Tóm lại, quan sát hiện tượng, sự vật là quá trình mà ý nghĩ hay suy nghĩ phát sinh trước cho bước đầu làm NCKH Việc quan sát kết hợp với kiến thức có trước của nhà nghiên cứu là cơ sở cho việc hình thành câu hỏi và đặt ra giả thuyết để giải quyết một vấn đề nào đó

Bản chất của quan sát thường đặt ra những câu hỏi, từ đó đặt ra “vấn đề”, cách đặt câu hỏi thường bắt đầu như: Làm thế nào, bao nhiêu, xảy ra ở đâu, nơi nào, khi nào, tại sao, cái gì, vì sao lại xảy ra và kết thúc như vậy…? Đặt câu hỏi hay đặt “vấn đề” nghiên cứu là cơ sở giúp nhà khoa học chọn chủ đề nghiên cứu (topic) thích hợp

Các “vấn đề” nghiên cứu khoa học thường được hình thành trong các tình huống sau:

* Quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa học phát hiện hoặc nhận ra các “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển “vấn đề” rộng hơn để nghiên cứu)

* Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đôi khi có những bất đồng, tranh cãi và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa học nhận thấy được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cãi và từ đó người nghiên cứu nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiên cứu

* Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, qua hoạt động thực tế lao động sản xuất, mối quan hệ trong xã hội,… làm cho con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người trong xã hội Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu

* “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, lời nói phàn nàn nghe được qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà chưa giải thích, giải quyết được “vấn đề” nào đó

* Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày

* Tính tò mò của nhà khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu

Đối với Khoa học Địa lí, đối tượng nghiên cứu là thể tổng hợp tự nhiên và thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ, nên những “vấn đề” nghiên cứu thường nảy sinh từ những biến động, thay đổi, sự mâu thuẫn trong chính nội tại của mỗi thể hoặc giữa hai thể với nhau, hoặc là những đặc trưng của các thành phần trong mỗi thể, …

Như vậy, “vấn đề” nghiên cứu thường đặt ra cho nhà nghiên cứu những câu hỏi như: Nghiên cứu “vấn đề” này nhằm mục đích gì; tại sao lại nghiên cứu vấn đề này mà không phải là vấn đề kia; nghiên cứu vấn đề này có cần thiết không…trong đề tài để trả lời những câu hỏi này, tác giả thường thuyết phục người khác thông qua nội dung

„Tính cấp thiết của đề tài‟

Trang 6

1.1.2 Xác định mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vị nghiên cứu

1.1.2.1 Xác định mục đích, mục tiêu nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao xác định được đúng mục đích và mục tiêu nghiên cứu của vấn đề Vì vậy, cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu

* Mục đích: Mục đích là dự kiến trong ý thức con người về kết quả nhằm đạt được bằng hoạt động của mình Với tính cách là động cơ trực tiếp, mục đích hướng dẫn và điều chỉnh mọi hành động

Trong nghiên cứu mục đích hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu Mục đích trả lời câu hỏi

“nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?”, “hướng tới cái gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu

* Mục tiêu: Là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của

đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được

Mục tiêu của đề tài trả lời câu hỏi: Cái gì sẽ đạt được khi kết thúc nghiên cứu đề tài?

Thí dụ đề tài: “Ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới đến sản xuất nông nghiệp nước ta” Mục đích của đề tài: Xác định mùa vụ và thời điểm sản xuất phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất nông nghiệp của nước ta

Mục tiêu của đề tài: 1) Tìm ra được đặc điểm của khí hậu nhiệt đới; 2) Xác định những yếu tố cụ thể về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa…gây ra thuận lợi, khó khăn trong sản xuất nông nghiệp; 3) Đề xuất những biện pháp sản xuất mang lại hiệu quả cao nhất

1.1.2.2 Xác định nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu là cách thức tiến hành, tiếp cận, phương pháp… nhằm giải quyết những nội dung của đề tài để đạt được mục đích và mục tiêu của đề tài

Thực hiện nhiệm vụ thường trả lời câu hỏi phải làm gì, làm như thế nào để đạt được mục tiêu nghiên cứu?

1.1.2.3 Xác định đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm

rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu

1.1.2.4 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lĩnh vực nghiên cứu

1.1.3 Lựa chọn quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học Địa lí nói riêng, việc lựa chọn quan điểm và phương pháp nghiên cứu quyết định đến kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài

Phương pháp luận hay quan điểm nghiên cứu là “kim chỉ nam” cho quá trình tiếp cận nghiên cứu vấn đề, phương pháp luận đúng đắn dẫn dắt nhà nghiên cứu đi đúng phương hướng và sẽ đưa đến kết quả thích hợp phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên của đối tượng;

Trang 7

Hệ phương pháp nghiên cứu phù hợp sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu được tiến hành nhanh hay chậm, chính xác hay không chính xác, kết quả đạt được như thế nào, đáp ứng hay không đáp ứng được mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra

1.2 CẤU TRÚC BÀI TIỂU LUẬN

Bố cục của một đề tài nghiên cứu khoa học thường được chia thành ba phần chính:

Mở đầu – Nội dung – Kết luận

- Phần mở đầu trình bày về các nội dung như: tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu; mục tiêu; nhiệm vụ; giới hạn; phương pháp nghiên cứu; có thể là cả phần tổng quan vấn đề nghiên cứu

- Phần nội dung trình bày nội dung và kết quả nghiên cứu thông qua các chương, mục

- Phần kết luận trình bày những mặt đã giải quyết được và những hạn chế của quá trình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu; những kiến nghị về những hướng nghiên cứu tiếp theo

1.3 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

Địa lí học là một Hệ thống các ngành khoa học khác nhau, do đó quá trình nghiên cứu hệ thống các khoa học địa lí đã sử dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Có các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

1.3.1 Phương pháp trong phòng

Đây là phương pháp chung nhất, được tiến hành đan xen trong quá trình nghiên cứu Trước khi tiến hành nghiên cứu cần tổ chức lập kế hoạch, xây dựng các công thức, lập hệ thống sơ đồ, bản đồ…Trong quá trình nghiên cứu tiến hành xử lí số liệu

để cho ra kết quả nghiên cứu và kết thúc nghiên cứu là khâu viết báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu Trong nghiên cứu địa lí gọi đây là phương pháp thu thập, hệ thống, xử

lí và phân tích số liệu

1.3.2 Phương pháp mô tả, so sánh

Phương pháp này chủ yếu dựa vào quan sát, quan trắc thực tế các sự vật, hiện tượng địa lí và được ghi chép mô tả lại Dựa vào kết quả ghi chép, mô tả đồng thời dùng phép so sánh để rút ra đặc trưng các hiện tượng, sự vật, quá trình địa lí cũng như địa tổng thể và các khu vực địa lí tự nhiên khác nhau trên địa cầu Phương pháp này thường được kết hợp với phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

1.3.3 Phương pháp bản đồ

Là phương pháp sử dụng phổ biến trong nghiên cứu địa lí học, vì “bản đồ là ngôn ngữ đặc biệt trong địa lí học”, không thể thiếu bản đồ trong nghiên cứu địa lí Bản đồ được sử dụng như những tư liệu tham khảo, công cụ nghiên cứu, kết quả nghiên cứu được mã hoá bằng hệ thống kí hiệu bản đồ Vì vậy, bản đồ chính là khâu đầu tiên cũng

là khâu kết thúc của quá trình nghiên cứu địa lí

Các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích bằng mắt, phân tích đồ thị, trắc lượng bản đồ, phân tích toán học và thống kê toán học, trắc đạc, nghiên cứu bản đồ để xây dựng thêm bản đồ chuyên ngành, chuyên đề, nghiên cứu mối quan hệ không gian

1.3.4 Phương pháp địa vật lí

Nghiên cứu các đặc tính chung nhất của vật chất trong lớp vỏ địa lí, đó là nghiên cứu vật lí của Trái Đất (vật lí thuỷ quyển, khí quyển )

Gồm các phương pháp đo địa chấn, phương pháp quang phổ ánh sáng… Nhờ phương pháp này mà suy đoán được cấu trúc bên trong của Trái Đất, cấu tạo của các hành tinh, vệ tinh có khoảng cách quá xa và không thể tới được

Trang 8

1.3.5 Phương pháp địa hoá học

Được sử dụng để nghiên cứu các quy luật phân bố và di chuyển của các nguyên

tố hoá học trong lớp vỏ địa lí dựa vào việc xác định một cách chính xác các nguyên tố hoá học có được trong đá mẹ, khoáng vật, nước, sinh vật và sự di chuyển của các nguyên tố

đó trong các môi trường khác

Nhờ kết quả nghiên cứu các nhà địa lí có thể cắt nghĩa được sự khác nhau giữa các sự vật của tự nhiên nơi này khác hẳn so với nơi khác

1.3.6 Phương pháp cổ địa lí

Dựa vào các hóa thạch, các cổ sinh vật, bào tử phấn hoa, các nguyên tố phóng xạ giúp cho việc xác định lịch sử phát triển của lớp vỏ địa lí và của từng cảnh quan địa lí trong toàn bộ thời gian trước thời kì hiện đại

1.3.7 Phương pháp ảnh máy bay, vệ tinh

Thông qua các loại ảnh này người ta có thể xác định được vị trí, đọc được đặc điểm các đối tượng, phát hiện ra các đối tượng mới

1.3.8 Phương pháp phân tích hệ thống

Bản chất của phương pháp coi lớp vỏ địa lí là một hệ thống, xác định được các mối quan hệ và các dòng vật chất và năng lượng giữa các thành phần, các hệ thống lớn nhỏ trong lớp vỏ địa lí

1.3.9 Phương pháp toán học

Không thể thiếu được trong quá trình nghiên cứu địa lí Với các số liệu thu thập được qua xử lí bằng phương pháp toán học các Nhà địa lí có kết quả để rút ra được các kết luận xác đáng về các sự vật hiện tượng địa lí

1.3.10 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

Thu thập, bổ sung tài liệu, kiểm chứng các kết quả nghiên cứu Là phương pháp

có ý nghĩa nhất trong nghiên cứu địa lí, bởi số liệu thực tế và kiểm chứng thực tế sẽ làm cho kết quả có tính thuyết phục và khoa học

Trang 9

CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY

2.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ

2.1.1 Thời kì cổ đại (Thế kỉ thứ V TCN - V SCN)

Mặc dù những hiểu biết về địa lí đã có từ hàng nghìn năm trước công nguyên,

từ khi xã hội loài người xuất hiện, khi mà con người biết đến các biểu hiện của tự nhiên như sấm chớp, mưa, gió, các quá trình diễn biến của các hiện tượng tự nhiên như

sự thay đổi nhiệt độ theo thời gian, không gian Hay loài người đã biết đến sự thay đổi khí hậu theo mùa để tránh rét và kiếm ăn…, có thể nói các kiến thức địa lí hình thành

từ khi con người tìm cách khám phá Trái Đất nhằm mục đích sống, chinh phục, tìm kiếm lợi nhuận… Vì vậy, khoa học địa lí là khoa học cổ nhất của nhân loại

Thủa ban đầu c ủa địa lí chỉ là một sự mô tả, liệt kê những điều mắt thấy, tai nghe của con người về các hiện tượng tự nhiên Cho nên khoa học địa lí ngày đó đã được gọi bằng cái tên Geographia (sự mô tả Trái Đất) mà Eratosthene đưa ra vào thế kỉ thứ III trước công nguyê n và định nghĩa là sự nghiên cứu tổng hợp các vùng có người

ở, phân biệt với việc đi du ngoạn

Trong thời kì Cổ đại với những chuyến đi biển giỏi giang của người Phenixi sống ở ven Địa Trung Hải đến buôn bán với khắp các bến bờ Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Đại Tây Dương và Ban Tích Nên các tài liệu địa lí phương Tây ban đầu là các tư liệu

về bến bờ ven biển, tư liệu thu thập trên đất liền đầu tiên lại do người Trung Quốc, cách đây 3000 năm họ đã có những thông tin địa lí về đất nước mình như giao thông thuỷ bộ, các thành phố

Ở Phương Tây, Bắc Phi và người Can Đê ở Lưỡng Hà - Cận Đông, người Hy Lạp và người La Mã đã tiếp tục tìm hiểu địa lí cũng như sắp đặt, chọn lọc các thông tin địa lí, nền khoa học địa lí chính thức hình thành Thời gian này đã có rất nhiều thông tin địa lí có tổ chức về nhiều mặt, đáng chú ý là ý kiến của các nhà bác học cổ Ai Cập

và cổ La Mã lúc đó là những đế quốc chiếm hữu nô lệ phát triển nhất Đó là ý niệm về dạng cầu của Trái Đất (Arixtôtôlet thế kỉ IV Tcn), sự biến đổi của bầu trời s ao khi đi từ Bắc đến Nam, càng lên cao chân trời càng mở rộng…Mô t ả vùng biển gần Biển Đen, tiểu Á, Lưỡng Hà, Ai Cập, Địa Trung Hải của Hêrôđôt (thế kỉ thứ V Tcn) Đã có những khái niệm về một Trái Đất hình tròn (trường phái Pythagore -Pitago) và tính địa đới (trường phái Parmesnide-Pacmênit) Đến thế kỉ thứ III TCN Êaratôxten đã đo đạc Trái Đất, xác định phương hướng và vị trí địa lí, mô tả các quyển Trái Đất Khi này địa

lí học đã mang tính định hướng, sử dụng toán học, thiên văn học

Đến đầu công nguyên, Strabôn khoảng năm 58 TCN – 25 SCN chuyển sang nghiên cứu địa lí nhân văn, quan niệm về đối tượng và nhiệm vụ của địa lí học, về sự thống trị của biển so với lục địa Các ý kiến của thời kì này có thể chia thành hai hướng đó là hướng địa lí đại cương (có Arixtôtôlet, Eratosphen, K.Ptolêmê), hướng địa lí khu vực (có Hêrôđôt, Strabôn) Thế kỉ thứ II SCN khoa học địa lí có bước nhìn nhận sai lạc của Pôtôlêmê ( 90-168) khi đưa ra thuyết “ Địa tâm hệ” đã làm cho địa lí

có bước thụt lùi và phải chịu “một đêm dài Trung cổ” do sự ủng hộ của Giáo hội Trong thời kì Trung Cổ bản đồ đã được xây dựng nhiều do các chuyến đi xa truyền đạo, còn địa lí chỉ phát triển ở những nơi không có sự ảnh hưởng của Giáo hội như vùng châu Á, vùng người Hồi giáo

Như vậy, ở thời kì này địa lí chưa trở thành một khoa học, cho dù những ý niệm

Trang 10

2.1.2 Thời kì Trung Cổ (Thế kỉ V- XV)

Là thời kì mà khoa học nói chung, khoa học địa lí nói riêng bị suy thoái dưới sự tác động của lí thuyết nhà thờ với sự ủng hộ thuyết “Địa tâm hệ” của Pôtôlêmê đối với khoa hoc địa lí, Giáo hội đã cho rằng mọi thứ trên Trái Đất cũng như trong vũ trụ đều

do Thượng Đế sinh ra, vì vậy tất cả những lí thuyết đi ngược lại với lí thuyết đó đều bị Giáo hội phản bác và trị tội Trong những trường hợp bị Giáo hội kết tội có các nhà địa

lí nổi tiếng như Côpecnic, Nicolas, Brunô (Brunô bị thiêu vì bảo vệ thuyết của Côpecnic)

Những nơi mà chưa chịu ảnh hưởng của nhà thờ thì khoa học địa lí vẫn tiếp tục phát triển Như vùng những người đạo hồi tiếp tục đo chiều dài kinh tuyến, mô tả vùng đất đai mới, người Noocman tìm kiếm và chiếm giữ các vùng biển và đảo…

2.1.3 Thời kì các công cuộc phát kiến địa lí vĩ đại (Thế kỉ XV – XVI)

Là thời kì Phục hưng của địa lí học, bắt đầu từ thế kỉ XV Với nhân thức Trái Đất hình cầu và nuôi hy vọng đến bờ đông của lục địa châu Á bằng cách vượt biển phía Tây, buôn bán với Trung Quốc và Ấn Độ của người châu Âu

- Christoph Colomb đã đi bằng đường biển từ Tây Ban Nha và phát hiện ra châu Mĩ (1492)

- Vaxcô de Gama (Bồ Đào Nha) đã trở thành người đầu tiên vượt qua mũi Bão Táp tới được bờ Đông châu Phi và Ấn Độ năm (1497)

- Magienlan đi vòng quanh thế giới (1519-1522) đã tạo ra tầm nhìn địa lí mới của nhân loại về hình cầu của Trái Đất cũng như sự nối liền nhau của các đại dương

Các đế quốc châu Âu vào cuộc và đã phát kiến ra nhiều miền đất mới, như châu Đại Dương

Thế kỉ XVII - XVIII là thời kì có các phép đo và hệ thống hóa trong địa lí Ginbe (năm1600) phát hiện Trái Đất là một khối nam châm, phát minh ra kính viễn vọng, kính hiển vi; Torixeli chế ra khí áp kế đo độ cao tương đối của địa hình; Galile (1564-1642) đặt nền móng cho khoa học thực nghiệm…

Nổi bật là công trình “Địa lí đại cương” của Varenius (1622-1650) khái quát hoá toàn bộ tri thức về Trái Đất, định nghĩa đối tượng, nội dung của Địa lí học Bắt đầu hình thành các Trường phái địa lí địa lí kinh tế và bản đồ kinh tế của Nga, mô tả thống kê của Đức, địa lí thương mại của Pháp…

2.1.4 Thời kì tiền Tư bản chủ nghĩa (thế kỉ XVII – XVIII)

- Tiếp tục nhiều chuyến khám phá, tìm kiếm, mở rộng diện tích quan trọng về đất đai và hiểu biết về địa lí

- Sự phát triển khoa học kỹ thuật lần thứ nhất đã cung cấp các dụng cụ nghiên cứu, đo lường giúp cho việc quan sát không gian và vẽ bản đồ chính xác hơn

- Kepler (1571 – 1630) đưa ra lí thuyết về các Quy luật chi phối sự vận động của các hành tinh xung quanh Mặt Trời, Quy luật hấp dẫn trong vũ trụ của Newton

- Quan điểm của nhà triết học kiêm địa lí học Kant về địa lí “Địa lí là sự mô tả về không gian” là hòn đá tảng để Khoa học Địa lí trở thành một khoa học độc lập và độc đáo

- Thực hiện khảo sát các vùng đất chưa được biết đến, tập trung ở nội địa các châu lục, các xứ cực, giữa đại dương (James Cook người Anh 3 lần đi vòng quanh thế giới; thám hiểm Châu Đại Dương của người Hà Lan đã phát hiện ra đảo Taxmania, Newzland…)

- Nhiều nước như Pháp, Anh, Hà Lan xuất bản nhiều bản đồ

Ngày đăng: 21/11/2017, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w